PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Hiện nay nền giáo dục nước nhà đang bước vào giai đoạn mới, giai đoạn
hết sức quan trọng. Đó là đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Chương
trình sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay đã phần nào chú ý đến sự đổi mới đó. Ơ
môn Ngữ văn, phân môn Làm văn chiếm vị trị quan trọng. Mục đích cuối cùng
của phần Làm văn là trang bị cho các em học sinh kiến thức và kĩ năng làm một
bài văn nghị luận có chất lượng cao. Và hơn nữa là cung cấp cho các em kĩ năng
viết văn nghị luận khi các em bước vào cuộc sống sau này.
Văn nghị luận có vai trò quan trọng không chỉ trong nhà trường mà còn
trong đời sống xã hội. Kĩ năng làm văn nghị luận không chỉ giúp học sinh bàn
bạc các vấn đề khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp các em có khả
năng trình bày, biện luận, lí giải... các vấn đề trong cuộc sống sau này. Tuy
nhiên, hiện nay các nhà làm giáo dục phải thừa nhận một thực tế là học sinh rất
yếu về kĩ năng làm văn nghị luận. Đa phần học sinh lúng túng trước một đề bài
nghị luận. Khâu các em mất nhiều thời gian và hiệu quả không được như mong
đợi là phần mở bài. Nhiều em dù mất nhiều thời gian vào khâu này song mở bài
cũng chưa đạt yêu cầu. Điều đó làm ta nhớ đến câu nói của M. Gorki: " Khó hơn
cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng
điệu của tác phẩm và người ta thường tìm nó rất lâu". Muốn bài văn nghị luận
đạt kết quả cao, người viết phải cần đặc biệt chú ý vào mở bài.
Cũng giống như phần lớn học sinh THPT hiện nay, học sinh trường
THPT số 1 Bảo Yên nói chung và học sinh lớp 10A10 nói riêng rất lúng túng
trong phần mở bài. Đặc biệt, học sinh lớp 10A10 với đặc thù là lớp nội trú, phần
lớn các em là con em dân tộc khả năng tiếng Việt hạn chế, kĩ năng làm văn nghị
luận của các em rất yếu. Vì vậy, để góp phần nâng cao kĩ năng làm văn nói
chung và kĩ năng mở bài nói riêng, chúng tôi chọn đề tài: Một vài biện pháp rèn
kĩ năng viết mở bài cho học sinh lớp 10A10 trường THPT số 1 Bảo Yên.
2. Mục đích của đề tài.
1
Dung lượng của phần mở bài phải tương ứng với khuôn khổ của bài viết
và phải cân đối với phần kết bài.
Phần mở bài phải đảm bảo có sự liền mạch với bài viết về cả nội dung lẫn
phong cách giới thiệu, diễn đạt. Nói tóm lại, phần mở bài phải tạo được âm
hưởng chung, định hướng chung cho cả bài viết.
2. Cấu trúc của mở bài.
Mở bài là chìa khóa cho toàn bộ bài văn, cũng giống như một đoạn văn
hoàn chỉnh, đoạn văn mở bài thường có 3 phần: Phần mở đầu đoạn, phần giữa
đoạn và phần cuối đoạn.
Phần mở đầu đoạn nêu những câu dẫn dắt. Đó có thể là những lời văn
của mình, có thể là một câu thơ, đoạn văn của một tác giả, có thể là một câu
chuyện nhỏ, một câu nói nổi tiếng của một nhà phê bình hay một nhà văn hoá
nào đó…Tuy nhiên nội dung câu dẫn phải gần gũi và có liên quan đến vấn đề
chính mà bài văn sẽ đề cập tới.
Phần giữa đoạn nêu vấn đề chính của bài viết. Vấn đề chính này có thể đã
nêu rõ trong đề bài, có thể người viết phải tự rút ra, tự khái quát và nêu lên.
3
Phần cuối đoạn mở bài thường nêu giới hạn vấn đề và phạm vi tư liệu mà
bài viết sẽ trình bày. Phần này thường đã nêu rõ trong đề bài nên người viết chỉ
cần nêu lại yêu cầu, đoạn trích, câu trích... ở đề bài
3. Vai trò của mở bài.
Đối với học sinh, một trong những vấn đề bối rối khi viết văn nghị luận là
phần mở bài. Tuy đây không phải là phần trọng tâm của bài văn nhưng nó là
phần không thể thiếu, là phần “hồn” của bài văn nghị luận. Đọc phần mở bài,
giáo viên có thể nhận biết trình độ, năng khiếu viết văn của học sinh, có thể
đánh giá năng lực học văn của học sinh.
Không phải không có lí khi có ý kiến cho rằng: " Văn hay chỉ cần đọc mở
bài". Tất nhiên nếu chỉ đọc mở bài thì không thể đánh giá được toàn bộ bài văn.
học sinh cũng rất yếu về kĩ năng viết câu.
"Truyện Kiều xuất sắc không chỉ vì nghệ thuật của truyện mà còn cả y
nghĩa nội dung. Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ luôn phải chịu nhiều
đắng cay cho số phận kiếp đen bạc mệnh của mình. Thúy Kiều một cô gái tài
sắc trong phần đầu Nguyễn Du đã có câu:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
5
cái xã hội phong kiến ấy đã đẩy Kiều xuống con đường cùng. Đó thật là
một xã hội bất công. Trong tám câu cuối đoạn trích Trao duyên, Kiều đã y thức
được thân phận của mình "
( Đây là mở bài của em Bàn Thị Giang lớp 10a10 cho đề bài: "Cảm nhận
của em về tám câu cuối đoạn trích Trao duyên).
Trong mở bài trên, học sinh đã mắc lỗi về đoạn, viết câu và giới thiệu vấn
đề lan man, vòng vo.
Thứ hai là mở bài của các em lan man, không giới thiệu được vấn đề hoặc
giới thiệu quá chi tiết vào nội dung của vấn đề:
Sau đây là mở bài của một học sinh viết cho đề bài: Cảm nhận của em về
hai câu ca dao:
"Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"
"Từ khi chào đời, con luôn được cha mẹ chăm sóc trong chiếc nôi bé nhỏ.
Con lớn lên bằng cả tình yêu của người mẹ và vòng tay ấm áp của cha. Công
lao của cha giống như ngọn núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn"
(Đây là mở bài của em Nguyễn Văn Đức lớp 10A10)
Ơ mở bài trên em học sinh đã mắc lỗi giới thiệu quá chi tiết vấn đề.
thời gian đời người hơn 60 năm, thi nhân đã để lại một gia sản
vô cùng quý giá. Chỉ tính riêng trong lĩnh vực văn chương,
trước tác của Ức Trai có thơ, có văn, lại có cả lịch sử, địa lí nữa.
Ở mảng thơ, bên cạnh tập thơ chữ Hán nổi tiếng Ức Trai thi tập,
thiết nghĩ còn cần phải đặc biệt chú ý vị trí vai trò của tập Quốc
âm thi tập. Tác phẩm xưa nhất bằng Việt ngữ mà chúng ta còn
giữ được này, không những chiếm địa vị quan trọng trong lịch
sử văn học nước nhà mà còn là tài liệu chủ yếu để nghiên cứu
lịch sử phát triển của ngôn ngữ nước ta. Gồm những bài thơ viết
rải rác trong suốt cuộc đời, Quốc âm thi tập đã giúp người đọc
khai mở nhiều phần sâu kín trong tâm hồn người thi sĩ bất hạnh
vào loại bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
7
(Trích bài văn của em Lý Minh Tiến khi viết đề bài: Cảm
nhận của em về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi)
Cá biệt có học sinh không biết viết mở bài: Ơ lớp 10A10 trường THPT
số 1 Bảo Yên khi mới nhận lớp, người viết nhận thấy có hai em học sinh không
biết viết mở bài là em Hảng A Sì và em Giàng Seo Chư. Hai em học sinh này
thậm chí không biết mở bài có những yêu cầu gì để thực hiện khi viết bài.
Dưới đây là một trong các mở bài mà các em đã từng viết:
"Cảnh ngày hè là tác phẩm của Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi sinh năm 1380
mất năm 1442. Quê ở Chi Ngại, Chí Linh, Hải Dương. Cảnh ngày hè đã làm rõ
một bức tranh thiên nhiên giàu sức sống. Ở câu đầu của bài thơ là câu sáu chữ
đã khắc họa tư thế của Nguyễn Trãi khi đến với thiên nhiên. Những câu sau là
bức tranh cảnh ngày hè..."
Ngoài ra với đặc thù là lớp nội trú, các em còn hạn chế về tiếng Việt. Việc
viết sai chính tả: sai phụ âm, sai thanh điệu; viết sai câu thường xuyên diễn ra.
8
0
35
14
13
7
1
Nhìn vào kết quả khảo sát ta có thể thấy: số học sinh viết mở bài không
đạt yêu cầu chiếm gần một nửa tổng số bài; số bài điểm trung bình ít hơn số bài
điểm yếu và số điểm khá giỏi là rất ít.
3. Nguyên nhân của thực trạng trên.
3. 1. Về phía học sinh.
Nguyên nhân chủ quan về phía học sinh được xếp thành các nhóm nguyên
nhân chính sau:
8
Thứ nhất: Đối với học sinh yếu kém hầu như các em không chịu đọc và
rèn luyện kĩ năng viết mở bài, không tiếp cận tác phẩm, không soạn bài hoặc
chép đối phó trước khi đến lớp, có em đọc chưa đúng với yêu cầu: phát âm sai,
đọc không đúng với ngữ điệu, đọc thêm hoặc bớt từ...
Thứ hai: Phần lớn đều là do các em thiếu năng lực cảm thụ, không hề có
Từ thực trạng trên, người viết xin đưa ra một số giải pháp để khắc phục:
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
VIẾT MỞ BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH
1. Cung cấp kiến thức và kĩ năng phần viết mở bài cho học sinh.
1.1. Khái niệm đoạn văn và đoạn văn mở bài.
a. Đoạn văn:
Hình thức: Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa
lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng. Hay nói cách khác đoạn văn là phần
của văn bản nằm giữa hai chỗ chấm xuống dòng.
Nội dung: Đoạn văn diễn đạt một nội dung hoặc một ý trọn vẹn của một
vấn đề.
b. Đoạn văn mở bài:
Mở bài còn gọi là nhập đề, dẫn đề. Đây là phần mở đầu của một bài
văn. Đoạn văn mở bài là phần đầu tiên của văn bản, có vai trò định hướng cho
toàn văn bản. Phần mở bài chứa đựng vấn đề cần giải quyết một cách khái quát
và thông báo cho người đọc phương thức giải quyết hoặc giới hạn của vấn đề.
Phần mở bài có vai trò gây dựng tình cảm thân thiện cho người đọc, người nghe.
Vì thế khi viết mở bài, thực chất là trả lời câu hỏi: Anh (chị) định viết, định bàn
bạc vấn đề gì?
Trả lời thẳng vào câu hỏi ấy người ta gọi là mở đề trực tiếp (còn gọi là
trực khởi). Nêu vấn đề sẽ bàn trong bài, sau khi dẫn ra một ý khác có liên quan
gần gũi với vấn đề ấy, gọi là mở bài gián tiếp (còn gọi là lung khởi).
1.2. Cách viết mở bài.
10
a. Mở bài trực tiếp.
Là cách đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận. Nghĩa là sau khi đã tìm hiểu
đề và tìm được vấn đề trọng tâm của bài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó ra
Mở bài: Trong nền văn học thế giới, chúng ta đã được trải nghiệm và
cảm nhận những “áng văn” đầy xúc động và sâu sắc. Nhắc đến nước Nga,
người đời lại tìm đến đại thi hào Puskin với “Tôi yêu em”. Nhắc đến nền văn
học lãng mạn của Anh quốc, người ta lại tìm đến tác phẩm “ROMEO &
JULIET” của Shakespeare… Vậy mỗi khi nhắc đến Việt Nam, có lẽ người ta sẽ
không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi – một nhà thơ vĩ đại, đại diện cho nền
Văn học Trung đại Việt Nam. Ông đã để lại cho đời biết bao là tập thơ hay:
“Ức Trai thi tập; Quốc Âm thi tập; …” với tên hiệu là Ức Trai. Và “Bảo kính
cảnh giới (Cảnh ngày hè)” cũng không phải là một ngoại lệ cho sự sáng tạo đối
với một con người yêu thiên nhiên, đất nước, dân tộc. Ông đã sáng tác bài thơ
này và đặt trong tập thơ “Quốc Am thi tập” trong một ngày rảnh rỗi bất đắc
dĩ…
Ví dụ 3:
Đề bài: Bình luận ý kiến sau: “Nói đến nghệ thuật Truyện Kiều là nói đến
nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới có thật”
Mở bài: “(1) Nói đến nghệ thuật Truyện Kiều là nói đến nghệ thuật sáng
tạo ra một thế giới có thật. (2) Trong Truyện Kiều, nhiều con người, nhiều cảnh
vật, nhiều tâm trạng được Nguyễn Du thể hiện một cách thành công. (3) Đó là
thân hình đồ sộ đẫy đà của Tú Bà; dáng dấp hào hoa, phong nhã của Kim
Trọng; cái lẩm nhẩm gật đầu ám muội của Sở Khanh; cái cười sảng khoái của
Từ Hải; bộ mặt đen sì, ngơ ngẩn vì tình của Hồ Tôn Hiến, hay sự tinh tế của
ánh trăng đến những rung cảm sâu thẳm trong lòng người đều được Nguyễn Du
thể hiện chính xác”.
Mở bài gồm ba câu trình bày theo kiểu diễn dịch:
- Câu (1): Tác giả nêu nhận định khái quát về nghệ thuật sáng tạo thế giới
có thật trong Truyện Kiều.
- Câu (2): Tác giả thu hẹp nhận định về nghệ thuật sáng tạo thế giới có
thật của Nguyễn Du ở khả năng miêu tả con người, cảnh vật.
- Câu (3): Từ nhận định khả năng miêu tả con người ở câu (2), người viết
giới thiệu một hệ thống nhân vật điển hình trong Truyện Kiều.
Mở bài trên viết theo kiểu quy nạp:
- Câu (1), (2): Đưa ra những tấm gương không quản ngại khó khăn, gian
khổ thậm chí sẵn sàng hi sinh tính mạng để cứu người.
13
- Câu (3): Khái quát những hành động cao cả đó trong khái niệm lòng
dũng cảm.
b.3. Kiểu tương liên:
Với kiểu này ta bắt đầu bằng cách nêu lên một ý, một sự việc tương tự, có
liên quan với ý của luận đề,có tác dụng gợi ra một sự liên tưởng rồi từ đó mà
chuyển sang đề.
Ví dụ 1:
Đề bài: Trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến sau:
" Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh
mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa"
Mở bài: "Con thuyền neo đậu được giữa ngoài khơi là nhờ chiếc mỏ neo.
Mỏ neo giữ cho con thuyền khỏi bị lật trước sóng to, gió lớn. Niềm tin của mỗi
người cũng vậy, niềm tin giúp ta trụ vững, vượt lên trước mọi sóng gió cuộc đời
để vươn tới thành công. Có y kiến cho rằng:"Một người đã đánh mất niềm tin
vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quy giá khác nữa"
Ví dụ 2:
Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh
phụ trích Chinh phụ ngâm.
Mở bài: Nhà thơ đời Đường Trung Quốc Vương Xương Linh đã từng viết:
Cô gái phòng the chửa biết sầu
Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu
Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu
Hối để chồng đi kiếm tước hầu.
Bài thơ khắc họa nỗi niềm của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến.
Mở bài: “Mùa hạ lại về trong ánh nắng chói chang. Chúng ta như những
con rùa thu mình trong căn phòng có gắn điều hoà hay những cốc nước đầy đá
mát lịm. Nhưng bạn biết không, cách chúng ta có một bức tường thôi là những
cuộc đời khác hẳn. Họ chấp nhận làm tán cây hứng nắng nóng và bụi bặm của
mùa hè gay gắt để tạo ra bóng mát cho những sĩ tử chân ướt chân ráo lên thành
phố dự thi đại học. Họ là những con người tình nguyện trong phong trào “Tiếp
sức mùa thi”.
Mở bài trên viết theo kiểu tương phản, nêu lên sự khác biệt giữa những
người không tham gia và tham gia tình nguyện “Tiếp sức mùa thi”.
15
b. 5. Mở bài bằng cách đặt câu hỏi (nghi vấn)
Là kiểu mở bài mà người viết tự đề xuất câu hỏi về vấn đề cần bàn. Trả
lời câu hỏi chính là cách giải quyết vấn đề, nêu lên được vấn đề cần bàn bạc.
Ví dụ:
Đề bài: Đ. Điđrô đã nói: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì
cả. Anh cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”. Em hãy
bình luận câu nói trên.
Mở bài: “Trong xã hội, ai lại chẳng muốn thành đạt trong mọi hoạt động,
trong công việc cũng như trong cuộc sống. Vậy cái gì tạo nên sự thành đạt đó?
Có thể nói, để tạo nên sự thành đạt thì có nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng một
trong những yếu tố có giá trị kiên quyết đó chính là mục đích sống. Nhà văn
Pháp Đ. Điđrô đã nêu ra kết luận: “Nếu không có mục đích, anh không làm
được gì cả. Anh cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”.
Ơ mở bài trên người viết nêu nghi vấn: “Cái gì tạo nên sự thành đạt đó?”. Trả lời
cho nghi vấn này người viết đã nêu được vấn đề cần nghị luận: Yếu tố quyết
định sự thành đạt chính là “mục đích sống”.
1. 3. Một số vấn đề cần tránh khi mở bài.
Khi mở bài cần chú ý:
3. Rèn các kĩ năng viết phần mở bài cho học sinh.
Rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh: Đây là một kĩ năng khó đòi hỏi người
dạy và người học phải kiên trì. Giáo viên sửa cách dùng từ cho học sinh khi ở
trên lớp trả lời bài và sửa trong bài làm văn của học sinh. Khi chấm bài làm văn
của các em, giáo viên đánh dấu những lỗi dùng từ. Sau đó yêu cầu học sinh sửa
lại trong vở sửa lỗi.
Rèn cách viết câu cho học sinh:Đây là công việc của cả thầy và gia đình.
Học sinh ngày nay chịu ảnh hưởng rất nhiều từ xã hội. Các em thường nói
những câu cụt ý, thiếu chủ ngữ hay vị ngữ. Và điều này cũng được thể hiện
trong các bài văn. Giáo viên phải kiên trì uốn nắn cho học sinh khi các em trả lời
bài và sửa trên bài kiểm tra, sau đó yêu cầu các em viết lại. Khi chấm bài, giáo
viên cần chỉ ra những lối viết câu mà học sinh mắc phải và yêu cầu học sinh sửa.
Giáo viên có thể yêu cầu học sinh viết câu theo suy nghĩ ra giấy, sau đó sửa lại.
17
Rèn cách viết đoạn văn văn mở bài: giáo viên thường xuyên ra bài tập viết
đoạn mở bài cho học sinh. Sau đó chấm và sửa lỗi cho các em.
4. Dành thời gian rèn kĩ năng viết mở bài cho học sinh.
Bộ môn Ngữ văn của lớp 10A10 trường THPT số 1 Bảo Yên từ giữa
tháng 11 được bố trí 4 tiết dạy buổi chiều. Đây là quỹ thời gian đáng quý để giáo
viên không chỉ cung cấp kiến thức mà còn rèn các kĩ năng cho học sinh trong đó
có kĩ năng viết mở bài. Mỗi đề giáo viên nên dành ra 7- 10 phút để học sinh tự
viết mở bài sau đó đọc của một vài em và sửa. Để khuyến khích giáo viên nên
cho điểm. Bài nào quỹ thời gian hạn hẹp thì giáo viên ra đề, nói rõ yêu cầu để
học sinh về nhà làm. Hôm sau kiểm tra lại.
5. Giáo viên dành thời gian củng cố vốn tiếng Việt cho học sinh.
Đây là công việc thường xuyên phải thực hiện trong quá trình dạy bộ môn
Ngữ văn tại lớp 10a10.
Điểm 9- 10
33
6
16
10
1
33
7
17
7
2
18
Nhìn vào kết quả khảo sát ta có thể thấy: tỉ lệ học sinh yếu hay viết mở
bài chưa đạt đã giảm; tỉ lệ học sinh trung bình, khá tăng lên. Cá biệt đã có em
có kĩ năng viết mở bài rất tốt.
Sau đây là 2 mở bài của học sinh sau khi đã được tác động:
Mở bài 1:
Tóm lại, để học sinh viết tốt phần mở bài nói riêng và bài văn nghị luận
nói chung, không chỉ đòi hỏi phương pháp giảng dạy của người giáo viên, mà
năng khiếu, kĩ năng viết văn vốn có của học sinh là rất quan trọng.
Tuy nhiên, phương pháp khoa học, phù hợp của giáo viên sẽ góp phần
không nhỏ trong việc nâng cao kết quả học tập của học sinh, nhất là môn Văn,
một môn vừa đòi hỏi tư duy nhiều, vừa đòi hỏi năng khiếu thiên bẩm của người
học. Vì vậy theo tôi đây là một phương pháp rất bổ ích giúp học sinh yếu, trung
bình rèn luyện được cách viết văn, viết tốt bài văn nghị luận, đồng thời là tư liệu
tham khảo bổ ích cho học sinh khá – giỏi.
Trên đây là một kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã áp dụng thành công trong quá
trình giảng dạy. Tôi hy vọng phương pháp này sẽ được phổ biến và thực hiện
thành công trong thực tiễn dạy học ở nhiều giáo viên khác. Rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp chân thành của đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bảo Yên, ngày 8 tháng 5 năm 2014
Người viết
Hà Thị Thiều
21