UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN
CẢM CHO HỌC SINH LỚP 4”
HỌ VÀ TÊN:
VŨ THỊ MAI
CHỨC VỤ :
GIÁO VIÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC : TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH TÂN I
SKKN THUỘC MÔN:
TIẾNG VIỆT
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm thuéc n¨m häc: 2010 - 2011
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU:
Tập đọc là một phân môn của chương trình tiếng Việt bậc Tiểu học.
Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiếng
Việt vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc,
một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc Tiểu học.
Biết đọc ( đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm) giúp các em
học sinh có khả năng tiếp nhận kiến thức lên nhiều lần, giúp học sinh phát
triển tư duy, hình thành các phẩm chất tốt đẹp như : yêu cái thiện, cái đẹp, phê
phán cái xấu, cái ác...Từ đây, các em biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận
thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy; có những rung động tình cảm
và nảy nở nhiều ước mơ tốt đẹp trong cuộc sống,...
nhận thức của phụ huynh học sinh chưa cao, chưa ý thức được việc dạy dỗ,
tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ con cái mình học tập. Nhiều gia đình còn có
tư tưởng phó mặc con cái cho nhà trường .
Một số ít gia đình có quan tâm đến con cái thì lại không biết cách dạy
hoặc do học sinh không chịu học. Mặt khác, phần lớn học sinh của trường
Tiểu học Thanh Tân 1 là người dân tộc thiểu số, vốn từ ngữ của các em rất
nghèo nàn do ở gia đình các em thường giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Bên cạnh
đó, có một số học sinh chuyển đến từ các huyện: Thường Xuân, Nông Cống,
Tĩnh Gia, Quảng Xương...bị ảnh hưởng rất nhiều của tiếng địa phương nơi
các em đã sinh ra. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục
của xã nhà.
Ở trường chúng tôi, mặc dù phân môn Tập đọc là môn học được chú
trọng nhiều trong quá trình dạy học của tất cả giáo viên nhưng phần luyện đọc
diễn cảm vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Điều này do nhiều nguyên
nhân: Từ việc xác định mục tiêu, nội dung chương trình SGK, vai trò của giáo
viên khi giảng dạy đến việc lĩnh hội kiến thức của học sinh.
Qua trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh, qua quan sát một số
giờ dạy phân môn Tập đọc của giáo viên, tôi nhận thấy rằng: Khả năng đọc
của học sinh còn rất thấp, phần lớn các em mới chỉ đạt được ở mức độ đọc
trơn nhưng chưa đảm bảo được yêu cầu về tốc độ, âm lượng đọc, chưa ngắt
nghỉ hơi hợp lí và còn đọc sai lỗi chính tả tương đối nhiều. Số lượng học sinh
biết đọc diễn cảm rất ít, thậm chí có nhiều lớp không có học sinh nào, ngay cả
ở các lớp 4- 5.
Kết quả kiểm tra đọc thành tiếng của học sinh khối lớp 4 năm học
2009- 2010( theo số liệu bài KTĐK giữa học kì II):
Mức độ đọc
Tổng số
Tốt
Khá
chuẩn phát âm (chuẩn chính âm) là tương đối nhiều, nhất là đọc lẫn lộn ở
những từ ngữ có dấu hỏi, dấu ngã..... Kĩ năng đọc đúng, đọc nhanh chưa tốt
và tất nhiên đọc diễn cảm cũng không tốt.
3
Mặt khác, ý thức tự học, đọc sách báo của các em cũng rất ít nên hạn
chế tầm hiểu biết, hạn chế khả năng đọc các loại văn bản khác nhau nên cũng
ảnh hưởng đến việc đọc các bài học trong nội dung chương trình quy định.
Sau một thời gian giảng dạy ( từ giữa tháng 8 đến đầu tháng 10 năm
2010), tôi đã khảo sát khả năng đọc diễn cảm của học sinh lớp tôi, kết quả thu
được như sau:
Mức độ đọc
Tổng số
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
học sinh
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
29
1
3,4%
SL
TL
28
1
3,6%
2
7,1%
13
46,4%
12
42,9%
3. Nguyên nhân:
Sau khi khảo sát thực trạng, tôi tiến hành phân tích, thâm nhập thực tế
cuộc sống của các em và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tồn tại nêu trên
là: Phần lớn học sinh lớp tôi có hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, trong
đó có 3 em bố mất sớm, 4 em ở với ông bà( bố mẹ đi làm ăn xa). Nhiều gia
đình chưa thực sự quan tâm tới việc học tập của con cái, phó mặc mọi việc
cho nhà trường. Thời gian học của các em chủ yếu chỉ có một buổi ở trường,
còn ở nhà gần như là không có, nên phần nào đó đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến việc học tập văn hoá của các em (trong đó có phân môn tập đọc
- phần luyện đọc diễn cảm).
Bên cạnh đó, lớp tôi có 48,3% học sinh là con em dân tộc thiểu số, rất
rụt rè trong giao tiếp với mọi người xung quanh nên vốn từ ngữ rất nghèo nàn.
ë gia đình, các em thường giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, khả năng phát triển
ngôn ngữ tiếng Việt của các em rất hạn chế. Có 6 học sinh chuyển đến từ
huyện Nông Cống thì bị ảnh hưởng nhiều của cách phát âm địa phương nơi
4
các em đã sinh ra nên thường mắc lỗi khi đọc bài. Trong khi đó, việc chữa lỗi
5
B . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Đứng trước thực trạng đó, tôi luôn luôn trăn trở, không ngừng tìm tòi,
học hỏi, tham khảo các tài liệu, kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp và
mạnh dạn đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả đọc diễn
cảm cho học sinh lớp 4 như sau:
1. Nắm bắt khả năng đọc cũng như hoàn cảnh gia đình của từng học sinh
để có biện pháp phối hợp trong quá trình dạy học:
Việc biết được khả năng đọc của từng học sinh, thường xuyên liên lạc,
trao đổi với phụ huynh học sinh về kết quả học tập của các em giúp giáo viên
có được thông tin ngược để điều chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp và có
hiệu quả hơn. Đồng thời, biết thông cảm và chia sẻ với những học sinh có
hoàn cảnh khó khăn, giúp các em xoá bỏ được mặc cảm và biết vươn lên
trong học tập.
2. Giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, mạnh dạn đổi mới
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với từng đối
tượng học sinh.
Trước khi lên lớp, giáo viên phải đọc bài nhiều lần để đọc mẫu chuẩn
cho học sinh và hiểu thấu đáo nội dung bài đọc. Căn cứ vào đối tượng học
sinh của lớp mình, giáo viên phải lường trước những chỗ ngắt nhịp ở các câu
dài, những từ ngữ cần nhấn giọng ... Đồng thời phối hợp các phương pháp
dạy học thích hợp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động
luyện đọc.
3. Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học cần thiết cho tiết học.
Đây là bước quan trọng phục vụ cho giờ dạy mà lâu nay giáo viên
thường bỏ qua, chỉ chú trọng thực hiện khi có người đến dự giờ, thăm lớp.
4. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách sáng tạo
- Học sinh hiểu nội dung bài đọc: Ca ngợi cậu bé có tấm lòng nhân hậu, biết
đồng cảm, thương xót trước nỗi bất hạnh của ông lão ăn xin nghèo khổ.
Sau khi hiểu được nội dung bài đọc, tôi hướng dẫn các em đọc bài văn
với giọng nhẹ nhàng, thương cảm; lời cậu bé đọc với giọng xót thương ông
lão; lời ông lão xúc động trước tình cảm chân thành của cậu bé.
*Biện pháp 2: Đọc mẫu
Để giúp học sinh có thể đọc diễn cảm được một câu, một đoạn hay cả
bài tập đọc trước hết giáo viên ( hoặc một học sinh giỏi) phải đọc mẫu. Việc
đọc mẫu như vậy nhằm giới thiệu, gây cảm xúc, tạo hứng thú và tâm thế học
tập cho học sinh. Bài đọc mẫu chính là cái đích mà giáo viên đưa ra cho học
sinh luyện để đạt được. Vì vậy, việc đọc mẫu là rất quan trọng, yêu cầu người
đọc mẫu phải đọc thật diễn cảm để diễn đạt được đúng ý nghĩa và tình cảm
mà tác giả muốn gửi gắm trong bài tập đọc.
Ví dụ: Khi đọc mẫu bài “Con sẻ” ( tập 2, trang 90), giáo viên cần chuyển
giọng đọc một cách linh hoạt cho phù hợp với diễn biến câu chuyện:
- Đoạn 1: 2 câu đầu đọc với giọng kể khoan thai, 3 câu sau chuyển
giọng hồi hộp, tò mò.
- Đoạn 2 và 3: Tả sự đối đầu của sẻ mẹ và chó săn – cần thể hiện giọng
đọc hồi hộp, căng thẳng, nhấn mạnh các từ ngữ gợi tả hình ảnh sẻ già gan góc,
lao xuống cứu con bất chấp hiểm nguy.
- Đoạn 4 và 5: Nói lên sự ngưỡng mộ của tác giả trước tình mẹ con
thiêng liêng, hành động dũng cảm bảo vệ con của sẻ mẹ – cần đọc giọng
chậm rãi, thán phục, nhấn giọng những từ ngữ thể hiện sự bối rối của chó săn,
sự thán phục của tác giả.
*Biện pháp 3: Phân tích, giúp học sinh hiểu và thực hiện được các yêu
cầu về đọc diễn cảm trong một đoạn hay một bài văn cụ thể:
7
Ví dụ 1:
Đêm nay / anh đứng gác ở trại.// Trăng ngàn và gió núi bao la / khiến
lòng anh man mác nghĩ tới trung thu / và nghĩ tới các em.//
Anh mừng cho các em vui Tết trung thu độc lập đầu tiên / và anh mong
ước ngày mai đây,/ những tết trung thu tươi đẹp hơn nữa /sẽ đến với các em.//
(Trung thu độc lập - tập 1, trang 66)
Ví dụ 2:
Nhìn thấy gió/ vào xoa mắt đắng/
Thấy con đường/ chạy thẳng vào tim/
Thấy sao trời/ và đột ngột cánh chim/
Như sa,/như ùa vào buồng lái.//
Không có kính, /ừ thì ướt áo/
8
Mưa tuôn,/ mưa xối như ngoài trời/
Chưa cần thay,/ lái trăm cây số nữa/
Mưa ngừng,/ gió lùa / mau khô thôi.//
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính- tập 2, trang 71 ).
b) Thể hiện nhịp điệu đọc phù hợp với nội dung bài học:
Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ
ngữ nghĩa- ngữ pháp còn cần phải dạy cho học sinh đọc đúng tốc độ, ngắt
giọng biểu cảm. Điều này thể hiện ở chỗ: khi đọc cần thay đổi nhịp điệu lúc
chậm rãi, lúc dồn dập khẩn trương; chỗ đọc nhanh hoặc ngừng lâu hơn bình
thường, hay chỗ dừng không do lôgíc ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc
nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, nhằm tạo nên những chỗ ngừng “gây bão tố”,
tập trung sự chú ý của người nghe vào những từ ngữ sau chỗ ngừng, những từ
ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa.
Ví dụ :
Sông La / ơi sông La
Đã mang dáng thẳng / thân tròn của tre.
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu.
Mai sau,
Mai sau,
Mai sau,
Đất xanh / tre mãi xanh màu tre xanh.
( Tre Việt Nam - tập 1, trang 41)
Ở khổ thơ trên cần đọc với giọng nhẹ nhàng, tha thiết thể hiện được dụng ý
của tác giả trong cách ngắt nhịp, cách ngắt dòng độc đáo. Sự trùng điệp của
ba dòng thơ “Mai sau” có một giá trị biểu đạt đặc biệt: ý thơ âm vang bay
bổng, câu thơ gợi ra những liên tưởng phong phú. Ngày xưa đã có bờ tre
xanh, hôm nay rồi cả mai sau, mai sau nữa vẫn có bờ tre xanh. Dòng thơ cuối
cùng với ba từ “xanh” trong những kết hợp cú pháp đặc sắc (Đất xanh, xanh
màu, tre xanh) gợi một màu sắc trường tồn của tre Việt Nam, của con người
Việt Nam, của truyền thống cao đẹp về con người Việt Nam trong suốt chiều
dài hơn bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta...
Ví dụ 2 :
Công chúa nhìn chú hề, mỉm cười:
- Khi ta mất một chiếc răng, chiếc mới sẽ mọc ngay vào chỗ ấy. Khi ta cắt
những bông hoa trong vườn, những bông hoa mới sẽ mọc lên. Có đúng không
nào?
Chú hề vội tiếp lời:
- Tất nhiên rồi. Khi một con hươu mất sừng, cái sừng mới sẽ mọc ra. Sau
khi đêm thay thế cho ngày, ngày lại thế chỗ của đêm.
- Mặt trăng cũng như vậy, mọi thứ đều như vậy…// - Giọng công chúa nhỏ
dần, nhỏ dần. Nàng đã ngủ.
(Có rất nhiều mặt trăng - tập 1, trang 168).
Hay từ đường hành quân
Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân.
Trăng từ đâu... // từ đâu?
Trăng đi khắp mọi miền
Trăng ơi, có nơi nào
Sáng hơn đất nước em.
( Trăng ơi ... từ đâu đến?- tập 2, trang 107)
Khi đọc hai khổ thơ trên cần đọc với giọng nhẹ nhàng, tình cảm. Cần
chú ý đọc đúng các câu hỏi: Trăng ơi...// từ đâu đến? Trăng từ đâu...// từ đâu?
nghỉ hơi dài sau dấu ba chấm và lên giọng ở cuối câu nhằm thể hiện sự ngạc
nhiên, ngưỡng mộ của nhà thơ đối với trăng.
e) Thể hiện sắc thái giọng đọc:
Thông qua giọng đọc, người đọc có thể biểu hiện được những sắc thái tình
cảm đa dạng của con người như: buồn, yêu, ghét, lo lắng, hờn giận, khinh bỉ,
hóm hỉnh, phẫn nộ... phù hợp với từng thể loại văn học, nhân vật trong tác
phẩm và dụng ý của tác giả được gửi gắm sâu kín sau lớp vỏ ngôn từ.
Ví dụ 1:
... Cáo kia / đon đả ngỏ lời:
“ Kìa / anh bạn quý, xin mời xuống đây
Để nghe cho rõ tin này
Muôn loài mạnh yếu từ rày kết thân
Lòng tôi sung sướng muôn phần
Báo cho bạn hữu xa gần đều hay
Xin đừng e ngại, xuống đây
Cho tôi hôn bạn, tỏ bày tình thân.”
Nghe lời Cáo dụ thiệt hơn
Gà rằng: “ Xin được ghi ơn trong lòng
Hòa bình gà cáo sống chung
Mừng này còn có tin mừng nào hơn
Khi đọc nếu biết thể hiện nét mặt, điệu bộ một cách tự nhiên, phù hợp
với nội dung văn bản thì sẽ góp phần tạo nên sự truyền cảm đối với người
nghe.
Ví dụ :
Bước vào phòng ông nằm, em hoảng hốt thấy mẹ đang khóc nấc lên.
Thì ra ông đã qua đời. “ Chỉ vì mình mãi chơi bóng, mua thuốc về chậm mà
ông chết.”- An- đrây- ca òa khóc và kể hết mọi chuyện cho mẹ nghe. Mẹ an ủi
em:
- Không, con không có lỗi. Chẳng thuốc nào cứu nổi ông đâu. Ông đã
mất từ lúc con vừa mới ra khỏi nhà.
Nhưng An- đrây- ca không nghĩ như vậy. Cả đêm đó, em ngồi nức nở
dưới gốc cây táo do tay ông vun trồng. Mãi sau này, khi đã lớn lên, em vẫn
luôn tự dằn vặt: “ Giá mình mua thuốc về kịp thì ông còn sống thêm được ít
năm nữa!”
( Nỗi dằn vặt của An- đrây- ca, tập 1, trang 55)
12
Khi đọc đoạn văn trên cần thể hiện giọng đọc, nét mặt buồn bã, sự ân
hận, day dứt của An- đrây- ca trước cái chết của ông.
* Biện pháp 4: Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả đọc của học sinh:
Trong giờ dạy Tập đọc, tôi thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả
đọc của học sinh nhằm động viên khuyến khích các em trong quá trình học
tập, đồng thời điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp hơn. Sau mỗi lần
kiểm tra học sinh đọc tôi thường nhận xét, sửa lỗi và yêu cầu các em luyện
đọc ở mức độ cao hơn. Ngoài ra, tôi còn tổ chức cho các em tự đánh giá lẫn
nhau để tạo ra không khí thi đua học tập ở trong nhóm, trong lớp. Bởi vì, khi
được tham gia vào việc nhận xét, đánh giá bạn đọc các em sẽ cảm thấy mình
là trung tâm của hoạt động học, các em sẽ phấn khởi và cố gắng hơn trong
28
Thi im
ỏnh giỏ
Đầu tháng
10/ 2010
Cuối
tháng
03/ 2011
Cuối
tháng
03/ 2011
Tt
SL TL(%)
Mc c
Khỏ
Trung bỡnh
Yu
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
1
3 10,4 12 41,4
44,8
3
1
3,4
17,9
Việc đánh giá mức độ đọc diễn cảm nêu trên ( Bảng số
liệu) là kết quả cộng hởng của cả ba quá trình rèn đọc ở học
sinh: Đọc đúng- nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm. Bởi cả ba
quá trình này có sự tác động tơng hỗ với nhau, không thể
tách rời, đó là quá trình chuyển từ thấp đến cao về chất
trong một giờ tập đọc.
Từ kết quả thu đợc nh trên tôi nhận thấy rằng: Việc áp
dụng một số biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho
học sinh lớp 4 đã mang lại cho tôi một kết quả đáng phấn
khởi. Khả năng đọc (đặc biệt là đọc diễn cảm) của học sinh
lớp tôi có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm học, cao hơn so với lớp
bạn ( ở cùng thời điểm đánh giá). Tuy kết quả thu đợc cha
phải là cao nhng phần nào đã nói lên tính hiệu quả của sáng
kiến kinh nghiệm này.
14
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1. Đối với giáo viên:
Dạy học tiếng Việt nói chung (dạy phân môn tập đọc, phần luyện đọc diễn
cảm nói riêng), thầy cô giáo không còn đóng vai người truyền thụ kiến thức
cho học sinh chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải để học sinh
thụ động nghe và ghi nhớ như trước đây mà trở thành người tổ chức, điều
khiển quá trình dạy học để học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh
kiến thức mới. Do đó, để rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh đạt kết
quả tốt giáo viên cần phải:
- Hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Tiểu học để tác động,
III. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
15
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần luyện đọc diễn cảm
trong phân môn Tập đọc nói riêng, môn Tiếng Việt Tiểu học nói chung, tôi
mạnh dạn đề xuất một số ý kiến như sau:
* Đối với giáo viên: Không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ. Nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với học sinh, mạnh dạn đổi
mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
* Đối với nhà trường:
- Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên
trao đổi những vướng mắc, hay chia sẻ những kinh nghiệm giảng dạy có hiệu
quả trong quá trình công tác.
- Tạo điều kiện về cơ sở vật chất để học sinh có thể được học hai buổi/
ngày.
*Đối với Ngành: Để tạo ra động lực và thói quen thường xuyên luyện đọc
cho cả giáo viên và học sinh, hằng năm Ngành giáo dục nên tổ chức cuộc thi :
“ Đọc diễn cảm” cho giáo viên và học sinh.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân, được đúc rút trong quá
trình công tác, với năng lực có hạn và áp dụng trong thực tế dạy học chưa
được lâu... nên không tránh khỏi những hạn chế cần được bổ sung, cần được
làm sáng tỏ thêm. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, trao đổi,
bổ sung từ phía các nhà lãnh đạo trong ngành Giáo dục và các bạn đồng
nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn và có thể áp dụng rộng rãi
trong thực tiễn dạy học.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thanh Tân, ngày 05 tháng 04 năm 2011
Người viết:
học
2.
3.
B.
I.
II.
C.
I.
II.
III.
Thanh Tân 1.
Kt qu rèn đọc diễn cảm của học sinh lớp
4A Trờng Tiểu học Thanh Tân 1.
Nguyờn nhõn
Giải Quyết vấn đề
CC GII PHP THC HIN
MT S BIN PHP T CHC THC HIN
KT LUN
KT QU T C
Bài học kinh nghiệm
MT S í KIN XUT
2
3
5
5
5
13