skkn Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 trường tiểu học hoàng nam - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm học 2011- 2012, tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp 5B.
Trong năm học này toàn trường tập trung triển khai và đẩy mạnh phong trào
”Tiếp tục đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng giảng dạy”. Dạy học theo
chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình, nâng cao chất lượng dạy học. Tiếp
tục thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung của ngành. Đổi mới
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh,
đặc biệt quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Mục tiêu giáo dục tiểu
học là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp
phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và cung cấp cho học sinh
những tri thức cần thiết. Phân môn tập đọc ở có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn
kỹ năng đọc, nghe và nói, có tác dụng mạnh mẽ trong giáo dục mĩ cảm, học sinh
yêu cái đẹp, rung cảm trước cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong xã hội, cái
đẹp trong văn chương. Ngoài ra học sinh còn được rèn luyện trí tưởng tượng
phán đoán ghi nhớ
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực ngôn ngữ được thể hiện qua bốn dạng
hoạt động tương ứng với chúng là bốn kĩ năng : nghe, nói, đọc, viết. Đọc là một
phần của chương trình của Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Đây là một phân môn có
vị trí trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học
sinh kĩ năng đọc một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu
tiên này.
Dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học. Đọc trở thành đòi hỏi đầu tiên
đối với người đi học. Đối với môn tập đọc lớp 5 trong chương trình này đã bộc
lộ là một bộ môn nghệ thuật với hai yêu cầu cơ bản là rèn đọc diễn cảm và cảm
thụ tốt bài văn bài thơ.
Đọc diễn cảm là quá trình đỉnh cao của quá trình luyện đọc. Muốn đạt
được đặc trưng nhiệm vụ của phân môn thì người giáo viên phải nắm được qui
trình của cảm thụ văn học là đi tìm hiểu nghệ thuật đến nội dung . Từ chỗ tìm
hiểu nội dung thông qua các dấu hiệu nghệ thuật mới có khả năng xây dựng tốt

thuật, không có hiểu biết về con người, về tự nhiên xã hội, về khoa học, đất
nước chứa đựng trong bài.Trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học thì phân môn tập
đọc là môn học căn bản cho tất cả các môn học còn lại, là nền tảng để học sinh
bước lên cấp hai. Vì có đọc thông viết thạo các em mới có thể đọc hiểu và học
tốt tất cả các môn đòi hỏi tư duy cao như toán, khoa học, lịch sử, địa lí, tập làm
văn, luyện từ và câu.
Phân môn Tập đọc chỉ được giảng dạy ở bậc tiểu học và lớp 5 là lớp cuối
cấp nên yêu cầu của phân môn tập đọc rất đa dạng, không đơn giản chỉ đọc hiểu
như các lớp 2, 3. Ngoài ra, tuy tất cả học sinh lớp 5 của các lớp cùng học một
chương trình, sử dụng cùng một bộ sách giáo khoa nhưng do có sự phát triển
khác nhau về kinh tế, về môi trường sống, về năng lực học tập, sự quan tâm của
cha mẹ học sinh, hoàn cảnh sống nên chất lượng học sinh vùng sâu, vùng xa
như chúng ta còn thấp hơn nhiều so với học sinh thành thị, ở tỉnh thành. Tỉ lệ
học sinh yếu của chúng ta cũng cao hơn. Học sinh chúng ta có nhiều em không
thích đọc sách, báo, không có thói quen đọc sách, không biết ghi chép những
thông tin cần thiết.
Nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn và vì những lí do trên tôi đã
nghiên cứu và chọn đề tài “ Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5” qua
phân môn Tập đọc
2. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập đọc lớp 5 đặc biệt là phần
luyện đọc diễn cảm, tìm ra một số giải pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập
đọc phần đọc diễn cảm. Tổng số học sinh lớp tôi là 22 em tất cả các em là nông
dân, lao động vùng quê nên các em gặp nhiều khó khăn trong việc tự học, tự rèn
luyện ở nhà, tiếp thu còn hạn chế. Đầu năm học khi nhận lớp, tôi cho các em
làm bài kiểm tra chất lượng đầu năm để nắm chắc chất lượng đầu năm, đánh giá
2
kiến thức của các em, tôi thấy đa số các em chưa nắm được phương pháp học
phân môn tập đọc đặc biệt là phần “ luyện đọc diễn cảm”. Nhìn chung chưa có ý

- Tháng 11: Nghiên cứu lí luận, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tiễn và
xử lí thông tin.
- Tháng 12: Đề xuất phương án thực hiện.
- Tháng 1-4: Dạy thử nghiệm, rút ra bài học kin nghiệm.
- Đầu tháng 5: Hoàn thành đề tài
3
NỘI DUNG

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1.1 Một số vấn đề liên quan đến dạy đọc
1.1.1 Vị trí của dạy đọc ở tiểu học
+Khái niệm
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ là quá trình chuyển hóa từ dạng
thức chữ sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó là quá trình chuyển trực tiếp
từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa có âm thanh.
+ Ý nghĩa của việc đọc
Giáo dục ngôn ngữ cho học sinh trên bình diên ngữ âm là một mặt của
việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho các em. Công viêc này bắt đầu bằng việc
luyện cho các em phát âm đúng các âm vị Tiếng Việt rồi tiến tới đọc hiểuvawn
bản và thể hiện bằng bước cuối cùng là đọc diễn cảm văn bản.
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong
bốn dạng hoạt động tương ứng với chúng là bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc , viết.
Đọc là một phần chương trình của Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Đây là một phân
môn có vị trí trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển
cho học sinh kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học này
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa khoa học,
những tư tưởng tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời
phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không
thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống bình thường có hạnh

như tư duy của người đọc, đọc giúp trẻ hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng
yêu cái thiên và cái đẹp. Các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư
duy có hình ảnh. Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn bao gồm các nhiệm vụ giáo
dưỡng, giáo dục và phát triển.
1.1.2 Những cơ sở của việc dạy đọc diễn cảm ở Tiểu học
Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ
quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đọc được, càng
ngày những yếu tố này càng gần với nhau hơn, tác động với nhau nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợpgiuwax
những mặt riêng và chung cuả người đọc sao cho thành thạo, càng có khả năng
tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác và
biểu cảm bấy nhiêu.
Dễ dàng nhận thấy rằng “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa. Theo
nghĩa hẹp , việc hình thành kĩ năng đọc trùng với nắm kĩ năng đọc Theo nghĩa
rộng, đọc được hiểu là kĩ thuật đọc cộng với thông hiểu điều được đọc
Ý nghĩa hai mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lí
học và phương pháp dạy học và được chia làm 3 giai đoạn: Phân tích , tổng hợp
và giai đoạn tự động hóa.
Thời gian gần đây người ta chú trọng đến những mối quan hệ quy định
lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng đọc và hình thành kĩ năng làm việc với văn
bản, nghĩa là đòi hỏi tổ chức giờ tập đọc sao cho phân tích nội dungcuar bài đọc
đồng thời hướng đến hoàn thiện kĩ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc.
Việc đọc như thế nhằm vào sự nhận thức, chỉ có thể xem đứa trẻ biết đọc mà
hiểu được điều mình đọc. Đọc là sự hiểu nghĩa của chữ viết. Nếu trẻ không hiểu
những từ ta đưa ra cho chúng chúng đọc chúng sẽ không có hứng thú học tập và
không có khả năng thành công. Do đó, hiểu những gì đọc được sẽ tạo ra động
cơ, hứng thú cho việc đọc.
1.2Cơ sơ ngôn ngữ và văn học của việc dạy tập đọc diễn cảm
Dạy tâp đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn học Nó liên quan mật
thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính âm. Dạy tập đọc

+ Lý thuyết về văn bản, phong cách học và nghiên cứu văn học trong dạy học
Việc hình thành kĩ năng đọc cho học sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh
giá văn bản như:
-Tính chính xác đúng đắn và tính thẩm mĩ, đặc điểm về các kiểu ngôn ngữ, các
phong cách chức năng, các thể loại văn bản, các đặc điểm về thể loại các tác
phẩm văn chương dùng làm ngữ liệu đọc ở Tiểu học. Phải dựa trên những hiểu
biết về đề tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung và hình thức, các
biện pháp thể hiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu
hiện, các phương tiện, biện pháp tu từ, việc luyện đọc cho học sinh phải dựa trên
những hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ văn học , tính hình tượng, tính tổ chức
cao. Tất cả những vấn đề trên đều thuộc phạm vi nghiên cứu lý thuyết văn bản
phong cách học, lý luận học. Vì vậy ta dễ dàng nhận thấy dạy tập đọc không thể
dựa trên những thành tựu nghiên cứu của lý thuyết văn bản nói chung và nghiên
cứu văn học nói riêng.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Qua nhiều năm thực dạy ở lớp 5, tôi nhận thấy rằng việc rèn kỹ năng đọc
của các em mới dừng ở mức độ nhất định: Thực hiện khá tốt kỹ năng đọc lưu
loát trôi, chôi chảy còn kỹ năng đọc diễn cảm vẫn còn nhiều hạn chế, các em đã
đọc lưu loát nhưng chất giọng và biểu đạt giọng đọc văn bản chưa hấp dãn,
chưa lôi cuốn được người nghe, chưa thể hiện được cái hay của nội dung văn
bản. Ở tất cả các tác phẩm văn thơ, các em đọc giọng đều đều chung chung như
nhau chưa nêu được nội dung tư tưởng của tác phẩm đề cập đến. Các em chưa
có kỹ năng đọc biểu thị linh hoạt theo ngữ điệu từng loại câu ( Từ ngữ cần hạ
6
giọng, cao giọng nhấn dài theo các kiểu câu ; câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu cầu
khiến) những từ ngữ quan trọng trong câu, các tiếng gieo vần trong thơ ca em
chưa phân biệt rõ ràng. Đặc biệt dấu hiệu chuyển đổi giọng biểu thị niềm vui,
nỗi buồn, sự nghiêm trang còn hạn chế hoặc các từ ngữ phiên âm nước ngoài các
em đọc chưa chuẩn. Khi đọc các em chưa thể hiện tính cách của nhân vật trong
bài văn hội thoại. Đó là những khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp thu

năng đọc, tôi yêu cầu học sinh phải viết cả bài tập đọc ở nhà. Viết bài tập đọc
vào vở song, các em sẽ phải đọc và soạn bài trước ở nhà. Trước khi đọc bài mới,
ngoài việc xem lại bài cũ học sinh còn phải:
+ Đọc bài trước nhiều lượt, tự trả lời câu hỏi cuối bài.
+ Chia bài thành từng đoạn, tìm nội dung của mỗi đoạn. Sau đó tìm nội
dung, ý nghĩa của bài, ghi tất cả vào vở soạn.
7
Mục đích của việc yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà là giúp học
sinh rèn kỹ năng đọc hiểu, nắm được nội dung bài, biết đọc diễn cảm. Ta cũng
biết nội dung của bài tập đọc cuả chương trình lớp 5 còn giúp học sinh mở rộng
tầm hiểu biết về nhiều lĩnh vực như: văn học, tự nhiên xã hội, đời sống bồi
dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho học sinh.
Vào 15 phút truy bài, từng cặp học sinh sẽ kiểm tra chéo vở soạn, sau đó
đọc bài tập đọc cũ, mới cho nhau nghe. Trong quá trình đọc, bạn này sẽ chỉnh
sửa cách phát âm cho bạn kia.
Từ giữa học kì I trở đi 100% học sinh của lớp tôi đã có thói quen chuẩn
bị bài trước ở nhà và đọc khá trôi chảy, các em biết đọc diễn cảm và đã biết tìm
hiểu nội dung bài và phát hiện ra những cái mới, cái lạ hấp dẫn xung quanh, các
em thích học phân môn tập đọc không còn thụ động như trước. Tôi thường nhắc
nhở các em những giờ nghỉ vào thư viện tìm mượn nhiều loại sách phù hợp với
lứa tuổi các em chẳng hạn như truyện tranh, truyện thiếu nhi, truyện khoa học
để đọc thêm. Tôi cũng hướng dẫn các em cách ghi chép những thông tin cần
thiết khi đọc.
Ví dụ: Ghi lại những câu văn giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, có sử
dụng biện pháp nghệ thuật như: nhân hóa, so sánh để làm giàu vốn từ, tăng
cường kỹ năng viết văn, biết được nhiều câu chuyện với những chủ đề khác
nhau.
3.2 Đổi mới nội dung dạy học:
Như chúng ta đã biết, chất lượng đọc diễn cảm của học sinh phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, trong đó vai trò của người giáo viên rất quan trọng. Dễ nhận

ký hiệu đọc diễn cảm nếu thấy cần thiết như lên giọng ( ) xuống giọng ( )
, kéo dài (~ ) có những từ ngữ quan trọng khi đọc bài văn. Trong giáo án cần ghi
rõ trọng tâm luyện đọc diễn cảm từng bài phù hợp với đối tượng học sinh. Nếu
giáo án còn ghi được cả dự kiến các loại đối tượng học sinh đọc ở từng đoạn
hoặc câu có sửa chữa và lưu ý thì càng tốt. Dĩ nhiên, khi lên lớp, còn có nhiều
tình huống sư phạm mới mẻ cần xử lí song sự chuẩn bị cho việc đọc diễn cảm
càng chu đáo, càng giúp cho người giáo viên chủ động và sáng tạo trên lớp
3.2.2 Tăng cường luyện đọc diễn cảm trên lớp
Đọc và cảm thụ là hai hoạt động có mối quan hệ qua lại trong quá trình
tiếp xúc với văn bản. Cảm thụ văn học thông qua luyện đọc diễn cảm là con
đường phù hợp với tâm sinh lý học sinh Tiểu học. Tăng cường luyện đọc diễn
cảm cho học sinh trên lớp là yêu cầu cần được học sinh coi trọng. Ở những khâu
lên lớp cơ bản, giáo viên đều có thể giúp học sinh tìm hiểu, suy nghĩ kĩ để thật
sự rung cảm với bài văn, từ đó mới xác định được nhiệm vụ đọc, cách diễn tả
sắc thái của từng đoạn văn, từng nhân vật, từng mức độ và biện pháp khác nhau.
Do vậy, tôi sử dụng triệt để khoảng thời gian đọc diễn căm trên lớp để hướng
dẫn, lắng nghe học sinh đọc và tổ chức cho học sinh thi đọc, bình chọn bạn đọc
hay nhất trong từng tiết học.
3. 2.2.1 Khâu kiểm tra bài cũ
Bên cạnh việc kiểm tra yêu cầu luyện tập ở bài trước giáo viêncần coi
trọng việc đọc diễn cảm bài học thuộc lòng hoặc đoạn văn, đoạn thơ đã luyện
đọc ở giờ trước. Những học sinh đọc liến thoắng cần được uốn nắn đọc lại cho
thong thả, diễn cảm không nên cho điểm cao những học sinh chỉ thuộc mà chưa
đọc diễn cảm.
3.2.2.2 Khâu hướng dẫn tìm hiểu bài.
Giáo viên đọc mẫu lần 1 thật diễn cảm có tác dụng vừa gây hứng thú vừa
định hướng cách đọc bài văn trọn vẹn cho học sinh với ấn tượng ban đầu khó
phai . Ở một đôi câu hoặc đoạn bài có thể áp dụng quy trình đọc – hiểu ( để
giảng từ và gợi ý cách đọc diễn cảm thử ).
Ví dụ: Ở bài Mùa thảo quả

để các em có cơ hội thể hiện khả năng của mình và các em chưa đạt cũng thấy
được rõ hơn mình chưa đạt chỗ nào để cố gắng trong việc rèn luyện kỹ năng
đọc.
Ví dụ: Bài Ê – mi –li, con… Tiếng việt 5- tập 1
Sau khi tìm hiểu kỹ bài thơ và dự kiến cách đọc diễn cảm của mình, em
đối chiếu với phần đọc của bạn xem.
- Những chỗ nào em đọc đúng, những chỗ nào em đọc sai? Lý do vì sao?
- Chỗ nào em chú ý thêm? ( về giọng đọc từ ngữ cần nhấn mạnh )
- Những câu thơ nào cần đặc biệt lưu ý cách ngắt nhịp? Vì sao vậy?
3.2.2.4 Giáo viên tích cực bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để dạy đọc diễn
cảm tốt
Cải tiến hình thức sinh hoạt chuyên môn sao cho thiết thực, nâng cao tay nghề
cho giáo viên. Ngoài những nội dung cần thiết bồi dưỡng hàng tuần, các nhóm
chuyên môn cần phân công giáo viên soạn kỹ bài, đọc diễn cảm một bài đọc
trước nhóm để cùng nhau trao đỏi, nhận xét góp ý, phổ biến kinh nghiêm của
những giáo viên đọc diễn cảm tốt. Đó là việc làm thiết thực. Bên cạnh đó có thể
nghe đài, nghe nghệ sĩ đọc nhằm bồi dưỡng năng lực của giao viên.
3.3. Đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học là một hiện tượng xã hội cái gì cũ kĩ lạc
hậu thì không thể tồn tại và phải được thay thế bằng sự tiến bộ phù hợp với xu
thế của thời đại mới, phương pháp dạy học cũng nằm trong quy luật đó.
Đổi mới phương pháp dạy học trong điều kiện hiện nay được hiểu là trên
cơ sở phát huy mặt tích cực của phương pháp truyền thống, vận dụng những
10
phương pháp dạy học tiên tiến vào nhà trường Tiểu học nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục mà vẫn bảo đảm tính hoạt động ổn định của nhà
trường.
Dạy các loai bài Tiếng việt, bên cạnh các phương pháp đặc biệt gắn với
từng loại bài là các phương pháp dạy học có thể sử dụng nhiều loại bài học.
+ Phương pháp thực hành

- Học cá nhân: Tạo điều kiên phát huy tối đa nưng lực của học sinh để các em
giải quyết các nhiệm vụ học tập ở lớp.
Đổi mới phương pháp dạy học trong điều kiện hiện nay được hiểu là từ
phương pháp truyền thụ thụ động sang phương pháp tích cực hóa hoạt động
người học, trong đó thầy đống vai trò tổ chức các hoạt động của học sinh, mỗi
học sinh đều được bộc lộ và phát triển.
Đổi mới phương pháp dạy học vận dụng quan điểm tích hợp. Vừa hình
thành kỹ năng, vừa cung cấp tri thức. Trong các tri thức cung cấp cho học sinh,
ngoài những tri thức Tiếng việt còn có các tri thức về khoa học tự nhiên và xã
hội.
12
.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong các giờ tập đọc
3.4. Sử dụng linh hoạt các hình thức dạy học trong từng dạng bài tập đọc
Phân loại các dạng bài là một bước quan trọng vì Tập đọc lớp 5 là một bài
văn cần phải coi trọng phần đọc và luyện đọc. Bài tập đọc lớp 5 là bài tổng thể
về kiến thức ngữ pháp, từ ngữ, nghệ thuật, văn cảnh. Bởi vậy giáo viên phải nắn
chắc phương pháp và hướng dẫn đọc diễn cảm với cụ thể mỗi loại bài thích hợp.
3.4.1.Loại bài với giọng đối đáp
Là loại bài có 2, 3, 4 giọng đọc của 2,3,4 nhân vật
Ví dụ 1 : Dạy bài : Lòng dân (phần một)
Qua phần tìm hiểu bài, giáo viên giúp học sinh xác định nội dung trọng tâm
của bài. Vở kịch có 5 nhân vật : Dì Năm, An, chú cán bộ (Đại diện cho người
Việt Nam yêu nước ), tên lính , tên cai ( kẻ cướp nước).
Với mục tiêu của chương trình học, môn học, của việc rèn đọc diễn cảm
nên ngay từ bài văn này là bài văn thứ 5 của học kì 1. Tôi đã yêu cầu học sinh tự
xác định cho mình cách đọc: đọc trôi chảy toàn bài, biết ngắt giọng đúng đẻ
phân biệt tên nhân vật,đọc đúng ngữ điệu các câu hỏi, câu kể, câu cầu khiến, câu
cảm trong vở kịch. Từ đó đọc diễn cảm toàn bài, phù hợp với tính cách từng
nhân vật, tình huống vở kịch.

- Nếu chi nói thật, tôi thưởng.
- Có thế chứ .Nào/ nói lẹ đi
* Dì Năm: Khôn khéo mưu trí, vờ kêu oan, gọi con dặn dò chăn chối, đưa dẫn
bọn cai lính vô tình bước vào bẫy –vui mừng hụt, bẽ mặt - buộc phải nhân
nhượng.
- Trời ơi. Tui có tội tình chi
- Mấy cậu để tui
- An Mầy qua bà Mười dắt con heo về, đội luôn năm dạ lúa. Rồi cha
con ráng đùm bọc lấy nhau.
* Giáo viên hỏi: Nếu chỉ chú trọng giọng đọc của năm nhân vật thì yêu
cầu của bài đọc trên đã đạt được mục đích luyện đọc diễn cảm chưa ? (Chưa mà
phải chú ý đọc phần dẫn chuyện với giọng nhẹ nhàng đưa người nghe vào
chuyện )
Tiếp tục gọi học sinh đọc phân vai từng nhân vật, sau khi học sinh đọc nhuần
nhuyễn giáo viên cho học sinh thi đọc phân vai trước lớp cuối cùng là học sinh
đọc toàn bài.
Cùng loại bài thể hiện giọng đọc đối thoại nhưng ở học kì 2 yêu cầu về rèn đọc
diễn cảm cao hơn.
Ví dụ 2: Dạy bài: Người công dân số Một (tập 2 trang 4 )
14
Bài kịch này chỉ có hai nhân vật (anh Thành, anh Lê ) đối thoại liên tiếp với
hai giọng đọc khác nhau mà học sinh phải biểu thị rõ ràng phân biệt lời hai nhân
vật anh Thành, anh Lê thể hiện được tâm trạng khác nhau của từng nhân vật
* Giọng anh Thành: chậm rãi, trầm tính, sâu lắng, thể hiện sự trăn trở, suy nghĩ
về vân nước
- Có lẽ thôi ,anh ạ: giọng điềm tĩnh, mong được thông cảmvà ẩn chứa một
tâm sự chưa nói ra được
- Nếu chỉ cần miếng cơm / manh áo / thì tôi ở Phan Thiết cũng đủ
sống ( dấu ba chấm thể hiện ý nghĩa kín đáo, sâu lắng chưa tiên nói ra )
* Giọng anh Lê: Hồ hởi, nhiệt tình thể hiện tính cách của một người có tinh thần

luyện đọc.
Cụ thể: Đoạn 1: Tả đêm trăng và hình ảnh cô gái Nga nên đọc diễn cảm
với giọng nhẹ nhàng gợi tả trăng trôi nhẹ trên khoảng không gian mênh mông,
gợi cảm giác như thấy trăng bay lơ lửng, ánh trăng bồng bềnh tô đậm vẻ đẹp của
cô gái Nga
Đoạn 2: Ta cần nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả nào ? Vì sao?
Những từ nào cần đọc hơi kéo dài để diễn tả nội dung ?
Ngắt nhịpnhư thế nào cho phù hợp với lời thơ ?
Đoạn 3: Nêu cách ngắt hơi, nhấn giọng, biểu lộ cảm xúc để diễn tả sự đổi thay
của sông Đà.
Ngày mai
Chiếc đập lớn nối liền hai khối núi
16
Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên
Sông Đà chia ánh sáng đi muôn ngả
Từ công trình thủy điệ lớn đầu tiên
3.4.3 Loại bài đọc với giọng kể chuyện
Tôi tiến hành dạy như sau:
- Hướng dẫn học sinh đọc từng đoạn văn (gọi một số học sinh đọc, yêu
cầu mỗi học sinh đọc một đoạn theo trình tự các đoạn trong bài. Trong lúc học
sinh đọc tôi theo dõi, hướng dẫn điều chỉnh cách đọc cho các em sau mỗi đoạn )
- Tiếp theo tôi sẽ chọn đoạn nào biểu lộ tình cảm, cảm xúc nhất để hướng
dẫn học sinh đọc diễn cảm (tôi viết sẵn đoạn văn vào bảng phụ, gạch chân các từ
cần nhấn giọng, chỗ cần tách ý đối với những câu văn dài ). Tôi yêu cầu học
sinh cho biết giọng đọc (vì học sinh hiểu được nội dung sẽ tìm ra giọng đọc
tương ứng ). Sau đó tôi sẽ đọc mẫu cho học sinh nghe.
- Tôi gọi nhiều học sinh nối tiếp nhau đọc lại đoạn văn ( trong lúc học
sinh đọc tôi theo dõi và hướng dẫn học sinh đọc ). Sau đó yêu cầu học sinh
luyện đọc theo cặp.
- Cuối cùng tôi cho học sinh thi đọc diễn cảm lại đoạn văn trước lớp.

sau:
- Gọi học sinh nối tiếp nhau đọc từng khổ thơ (Trong lúc học sinh đọc tôi theo
dõi, điều chỉnh cách phát âm, giọng đọc của các em sau mỗi khổ thơ ).
- Hướng dẫn học sinh luyện đọc diễn cảm khổ thơ cuối và học thuộc lòng bài
thơ.
- Giáo viên đọc mẫu bài thơ, giọng chậm rãi ngân nga, thể hiện cảm xúc của
tác giả bởi hạt gạo làng ta chứa tất cả những gì tinh túy nhất của quê hương .
* Việc đọc diễn cảm thường phải gắn liền với ngữ điệu nên tôi thường dùng cử
chỉ, nét mặt, để làm tăng thêm tính gợi cảm của câu văn, câu thơ như thân mật ,
gợi cảm, vui vẻ, ngạc nhiên, căm giận.
Ví dụ: Khi dạy bài Bầm ơi ( tuần 31 Tiếng việt 5), tôi hướng dẫn như sau:
- Gọi học sinh đọc nối tiếp nhau đọc từng khổ thơ (trong lúc học sinh đọc, tôi
theo dõi. điều chỉnh cách phát âm, giọng đọc cho các em sau mỗi khổ thơ )
- Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm khổ thơ 2 và học thuộc lòng bài thơ.
Bầm ơi có rét không bầm
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lôi dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu.
* Vì vậy khi học sinh luyện đọc giáo viên phải tạo được trong lớp không khí
thoải mái để dễ trực cảm với bài thơ, có tâm trạng chờ đợi và chú ý nghe giáo
viên và cũng từ đó các em có thể học tập và bắt chước cô.
* Trong khi rèn đọc diễn cảm tôi thường chú ý đến
- Những học sinh rụt rè, nhút nhát, tôi thường xuyên khuyến khích, không gắt
gỏng để các em không luống cuống.
- Đối với học sinh nghịch ngợm phân tán tư tưởng , không chú ý đến tiết học, tôi
thường để ý đến thường xuyên, thỉnh thoảng chỉ định các em đọc tiếp.

đấy nước tự do, tình yêu tha thiết của tác giả đối với đất nước, truyền thống bất
khuất của dân tộc.
3.Học thuộc lòng bài thơ.
B.ĐỒ DÙNG DẠY HỌC.
- Tranh minh họa bài đọc trong SGK.
- Một số tranh ảnh về phong cảnh đất nước.
- Bảng phụ chép sẵn đoạn thơ luyện đọc diễn cảm.
C. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Kiểm tra bài cũ (4’)
Gọi 2 học sinh đọc bài: ” Tranh Làng Hồ
” và trả lời câu hỏi:
- GV nhận xét và ghi điểm.
2. Dạy bài mới
a. Giới thiệu bài (1’)
.b. Luyện đọc (10’)
Trong quá trình Hs đọc Gv kết hợp rèn
phát âm và ngắt hơi nhịp thơ.
- Gv giúp học sinh giải nghĩa thêm những
từ các em chưa hiểu.
- Gv đọc diễn cảm toàn bài, giọng đọc
phù hợp với cảm xúc của từng đoạn.
c. Tìm hiểu bài (12’)
- Gọi 2 học sinh giỏi lần lượt điều khiển
cả lớp, trao đổi nội dung thảo luận nội
dung cả bài. ( HS1 câu hỏi 1 & 2, HS 2
câu hỏi 3)
+ Hai khổ thơ đầu miêu tả cảnh mùa thu
+ HS1: Đọc từ đầu đến tươi vui:
Trả lời câu hỏi 3/ SGK
+ HS2: Đọc tiếp phần còn lại và trả

Long-Đông Đô lên chiến khu đi kháng
chiến. Kết quả của cuộc kháng chiến ra
sao, ta đi tìm hiểu tiếp khổ thơ 3.
Câu 2: Cảnh Đất nước trong mùa thu mới
được tả trong khổ thơ thứ 3 đẹp mà vui
như thế nào?
- Gv chốt ý, ghi bảng
- Gv hỏi thêm: Trong khổ thơ này tác giả
sủ dụng biện pháp nghệ thuật gì? .
Giảng: cách kết hợp từ rất mới, rất lạ
trong câu thơ : “ Trời thu thiết tha ”,
nghệ thuật ẩn dụ “ Nói chuyện”:
Trời thu thay áo , cũng là nói chuyện đời,
chuyện đất nước đổi thay: nghệ thuật
nhân hóa. Thể hiện niếm vui phơi phới
rộn ràng của thiên nhiên, đất trời trong
mùa thu thắng lợi của kháng chiến.
* Cuộc kháng chiến trường kỳ của dân
tộc ta . Niềm tự hào đó được thể hiện rất
rõ qua hai khổ thơ cuối chúng ta cùng
tìm hiểu
Gv tóm tắt ghi bảng.
+ Nêu ý nghĩa của bài thơ ?.
d. Luyện đọc diễn cảm(12’)
năm xưa
* Mùa thu Hà Nội xưa đẹp mà
buồn.
- Đẹp: Sáng mát trong, gió thổi mùa
thu hương cốm mới, sáng chớm
lạnh.

Những ngả đường / bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
3. Củng cố dặn dò (1’)
- Nhận xét giờ học
- Dặn học sinh về nhà HTL bài thơ
Chuẩn bị bài kiểm tra giữa kỳ II.
với đất nước, truyền thống dân tộc.
-Hs tự tìm giọng đọc ở từng khổ
thơ.
- HS tự nêu
- Hs Luyện đọc trên bảng phụ
( chép sẵn khổ thơ 3.4 )
+ Hs luyện đọc trên bảng phụ
+ Hs luyện đọc diễn cảm toàn bài
thơ: Khổ thơ, cả bài.
+Hs đọc diễn cảm trước lớp(khổ
thơ, cả bài)
+Hs đọc thuộc lòng bài thơ
+ Hs đọc thể hiện bài thơ.
5 Hiệu quả thực nghiệm
Khi thực hiện tiết dạy tập đọc phần luyện đọc diễn cảm theo cách trên tôi
đã đạt được kết quả khả quan như sau:
- Giúp học sinh có thói quen chuẩn bị bài trước ở nhà. Truy bài đầu giờ, ham
thích đọc sách báo, biết ghi chép các thông tin cần thiết khi đọc.
- Học sinh rất thích học phân môn tập đọc vì các em đã đọc thông, viết thạo,
hiểu được nội dung bài, vận dụng vào các môn học khác vào đời sống. Các em
sẽ có kiến thức vững vàng để học tiếp môn Tiếng việt ở cấp 2.
- Tất cả học sinh đều hoạt động trong tiết học, lớp học sinh động.
- Số học sinh yếu giảm dần, học sinh đọc trôi chảy tiến tới đọc diễn cảm.
- Hình thành nhân cách cho học sinh, xây dựng cho học sinh, xây dựng cho các

học
kì 2
5A 21 8 6 4 .11 12 14 2 3 3
21
(ĐC)
5B
(TN)
22 7 4 1 12 .10 8 3 8 13
Ghi chú: TN- Lớp thực nghiệm, ĐC- Lớp đối chứng .
Sau khi kiểm tra kết quả học tập của học sinh ở lớp thực nghiệm và đối
chứng, tôi nhận thấy:
Ở lớp .đối chứng: Hoạt động chính của giáo viên truyền thụ tri thức và
đưa ra hệ thống các câu hỏi yêu cầu học sinh đưa vào ngữ liệu và kết quả phân
tích của sách giáo khoa để trả lời. Vì vậy học sinh tham gia hoạt động học tập
một cách thụ động, máy móc và chỉ tập trung vào nhóm học sinh khá giỏi và rèn
kỹ năng đọc diễn cảm còn hạn chế. Bên cạnh đó khi hướng dẫn học sinh đọc học
sinh thường đọc với giọng đều đều, rời rạc không có trọng âm từ, không có
trọng âm câu, không cảm xúc. Vì vậy giờ học phần dạy đọc diễn cảm chưa cao.
Ở lớp thực nghiệm: Mức độ hoạt động tích cực của học sinh trong giờ
học đươc biểu hiện khá rõ ràng. Bằng việc sử dụng các phương pháp và hình
thức tổ chức lớp học phương pháp linh hoạt lấy học sinh làm trung tâm đã nâng
cao hiệu quả dạy học cho học sinh đọc diễn cảm một cách rõ rệt cụ thể, trong
giờ học hầu hết học sinh được tham gia quá trình chiếm lĩnh tri thức và rèn
luyện kỹ năng. Học sinh nhút nhát, học sinh yếu được chú ý một cách đúng
mức, khuyến khích, động viên kịp thời. Vì vậy kết quả học tập, rèn luyện được
nâng cao. Trong giờ thực nghiệm không có hiện tượng làm việc riêng các em
được cuốn hút vào các hoạt động học tập. Trong quá trình thực nghiệm, sự tập
trung chú ý của học sinh trong giờ học của 2 lớp thực nghiệm và đối chứng cũng
khác nhau. Qua đấy chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa 2 lớp thực nghiêm và đối
chứng.

vào các ngày sinh hoạt tập thể, kỷ niệm ngày lễ lớn. Yêu cầu mỗi học sinh phải
có quyển sổ ghi chép để chép những câu thơ, câu văn, bài thơ, bài văn hay dưới
sự hướng dẫn của giáo viên.
- Phối hợp nhịp nhàng chương trình môn tập đọc với các phân môn khác như
tập làm văn, kể chuyện.
- Giáo viên cần chủ động, sáng tạo, tự làm đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết
dạy để tiết dạy nhẹ nhàng, tự nhiên, chất lượng cao.
- Liên hệ chặt chẽ với phụ huynh học sinh, thông báo kịp thời những tiến bộ
của các em.Thương yêu học sinh như con của mình, đối với các học sinh yếu
giáo viên phải kiên trì, nhẹ nhàng không nên quá nôn nóng. Đối với các em khá,
giỏi thì động viên khuyến khích kịp thời.
- Sử dụng linh hoạt các biện pháp dạy học và thực sự là tấm gương sáng cho
học sinh noi theo về mọi mặt
2 Kiến nghị
Đối với nhà trường cần mở các chuyên đề hội giảng, thao giảng với tất
các môn đặc biệt là phân môn tập đọc
- Nhà trường tổ chức họp phụ huynh học sinh định kì và thông báo với phụ
huynh học sinh những tiến bộ của học sinh
- Tìm hiểu và giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
24
Đối với phòng .Giáo dục cần mở nhiều lớp tập huấn, tăng cường chuyên
đề giảng dạy phân môn tập đọc lớp 5.
-Cần cấp đủ thiết bị dạy học, tranh ảnh, dụng cụ trực quan để giáo viên tiện lợi
trong việc giảng dạy.
- Hàng năm tổ chức phong trào thi kể chuyện, đọc thơ, đọc diễn cảm cho giáo
viên, cho học sinh trong khối, trường và toàn huyện.
Sau một thời gian thực hiện đề tài, tìm hiểu các tài liệu, tôi nhận thấy sẽ
còn nhiều biện pháp nữa để rèn đọc diễn cảm cho học sinh. Đây chưa phải là
những biện pháp hữu hiệu nhất, phù hợp nhất cho mọi đối tượng giáo viên và
học sinh. Tôi rất mong được trao đổi với các đồng nghiệp, những người quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status