BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN TRƢỜNG GIANG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CHO
HỌC SINH LỚP 4 TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG SINH
- THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
học - Mầm non, Trung tâm Thông tin thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình thực hiện khóa luận.
Xin cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Chiềng
Sinh đã giúp em trong quá trình khảo sát thực tế và thực nghiệm tại nhà trường.
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Trƣờng Giang
Danh mục viết tắt SGK: Sách giáo khoa
NXB: Nhà xuất bản
ĐHSP: Đại học Sư phạm
5. Phạm vi nghiên cứu 5
6. Phương pháp nghiên cứu …………………………………… ………………5
7. Giả thuyết khoa học 6
8. Những đóng góp của khóa luận 6
9. Cấu trúc khóa luận 6
NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 8
1.1. Cơ sở lí luận 8
1.1.1. Đọc và đọc diễn cảm ở nhà trường Tiểu học 8
1.1.2. Cơ sở tâm lí, sinh lí của việc dạy đọc 15
1.1.3. Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc 18
1.2. Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1. Khảo sát chương trình sách lớp 4 21
1.2.2. Thực trạng của giáo viên lớp 4 trường Tiểu học Chiềng Sinh - thành phố
Sơn La - tỉnh Sơn La 23
1.2.3. Thực trạng dạy - học đọc diễn cảm ở lớp 4 trường Tiểu học Chiềng Sinh -
thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La 25
Tiểu kết 32
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỌC DIỄN
CẢM CHO HỌC SINH LỚP 4 TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG SINH -
THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA 33
2.1. Rèn luyện kỹ năng đọc đúng cho học sinh 33
2.2. Rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh 36
2.2.1. Hướng dẫn học sinh cách xác định và thể hiện giọng đọc cho phù hợp với
văn bản 37
2.2.2. Rèn luyện kỹ năng thể hiện ngữ điệu khi đọc 39
2.2.3. Sử dụng đồ dùng trực quan 43
Tiểu kết 50
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM 51
3.1. Mục đích thực nghiệm 51
yêu cái thiện và cái đẹp. Các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư
duy có hình ảnh. Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm
vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
1.3. Dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học thực chất là giao tiếp bằng ngôn ngữ
qua hệ thống câu hỏi và bài tập. Việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh tiểu học là
một yêu cầu quan trọng cần thiết. Đọc đúng, đọc diễn cảm là kỹ năng cơ bản mà
người giáo viên cần giúp học sinh đạt được. Kỹ năng và hình thức đọc gồm có
nhiều phương diện như: đọc đúng, đọc thầm, đọc lướt, đọc thành tiếng, đọc hiểu,
đọc diễn cảm; trong đó phương diện đọc diễn cảm là khó nhất đối với học sinh
tiểu học. Bởi lẽ, đọc diễn cảm là một hình thức đọc có tính đặc thù, nhằm rèn
luyện kỹ năng đọc và cảm thụ văn học của học sinh. Khi đọc diễn cảm, người
2
đọc chuyển văn bản “viết” thành văn bản “âm thanh” một cách trung thực, nhằm
truyền đến cho người nghe không chỉ nội dung thông tin mà còn cảm nhận được
giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của văn bản. Một người đọc diễn
cảm tốt tức là người đó đã truyền thụ được một phần nội dung và cảm xúc của
bài đọc tới người nghe mà chưa cần đến giảng giải. Đối với học sinh, khi đọc
diễn cảm các bài đọc trong chương trình các em sẽ được tiếp thu với ngôn ngữ
nghệ thuật và cảm thụ cái hay, cái đẹp của văn chương. Như vậy, đọc diễn cảm
không chỉ đơn thuần thuộc phạm trù ngôn ngữ mà còn thuộc cả phạm trù văn
học, phạm trù nghệ thuật và thẩm mĩ.
1.4. Trong thực tiễn hiện nay thì kỹ năng đọc diễn cảm trong giờ dạy Tập
đọc ở trường Tiểu học là một yêu cầu cao. Đối với học sinh lớp 4 các giờ Tập đọc
đòi hỏi các em phải thể hiện năng lực đọc diễn cảm của mình, nhưng khi thể hiện
năng lực đó thì các em rất lúng túng thậm chí có em còn chưa đạt yêu cầu. Lí do
dẫn đến kết quả đó là do các em chưa có hoặc có rất ít về kỹ năng đọc diễn cảm.
1.5. Trường Tiểu học Chiềng Sinh - thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La là
trường có thuận lợi về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên giảng dạy nhiệt tình.
Nhưng học sinh của trường có số lượng học sinh dân tộc thiểu số tương đối
thành và rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh. Đây là cơ sở quan trọng để giáo
viên vận dụng vào dạy Tập đọc nói chung và rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm
nói riêng cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình.
Phương pháp dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp Tiểu học (Tài liệu
đào tạo giáo viên) của dự án phát triển giáo dục Tiểu học(NXB giáo dục - NXB
ĐHSP - 2007) đã đề cập đến phương pháp dạy đọc diễn cảm đã quan tâm nghiên
cứu cơ sở khoa học của việc dạy đọc diễn cảm, nhưng chưa đề xuất các biện
pháp cụ thể để rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4.
Trong cuốn Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp Tiểu
học (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên) của dự án phát triển giáo viên Tiểu học đã
nghiên cứu một số biện pháp và hình thức hướng dẫn học sinh trong giờ Tập
đọc. Đây là nhưng vấn đề có ý nghĩa thực tiễn có thể áp dụng vào dạy đọc - đọc
diễn cảm không chỉ với học sinh dân tộc thiểu số mà ngay cả với học sinh dân
tộc Kinh, thì những biện pháp này vẫn hoàn toàn có tác dụng tích cực.
4
Cuốn Rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt (giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu
học hệ Cao đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2). Tác giả Đào Ngọc - Nguyễn
Quang Ninh đã đưa ra kĩ thuật đọc ở các hình thức đọc thành tiếng và đọc thầm.
Đây cũng là những gợi ý để chúng tôi đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng
đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Chiềng Sinh.
Trong cuốn Dạy lớp 4 theo chương trình Tiểu học mới của dự án phát
triển giáo viên Tiểu học đã đề cập đến những phương pháp, biện pháp chủ yếu
để dạy đọc diễn cảm lớp 4, trong đó chú trọng đến phương pháp đọc theo mẫu,
phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp sử dụng trò chơi học tập. Nhưng
mới chỉ đề cập đến vấn đề lí luận của phương pháp chưa hướng dẫn cụ thể.
Và còn nhiều công trình nghiên cứu khác nữa. Các công trình trên với các
hướng nghiên cứu về phương pháp đọc và đọc diễn cảm khác nhau, song đều
đưa đến những lí luận có tính thuyết phục cho dạy học Tập đọc nói chung và
đọc diễn cảm nói riêng. Đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi đi sâu tìm hiểu và
lớp 4 trường Tiểu học Chiềng Sinh- thành phố Sơn La- tỉnh Sơn La.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu tài liệu, kết hợp phân tích, tổng hợp để xử lí tư liệu liên quan
đến vấn đề đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thống kê, khảo sát thực tế bằng dự giờ, phiếu điều tra kết hợp với trò
chuyện, trao đổi trực tiếp với giáo viên ở trường Tiểu học Chiềng Sinh về biện
pháp đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4.
Tìm hiểu thực trạng đọc diễn cảm của học sinh lớp 4 trường Tiểu học
Chiềng Sinh- thành phố Sơn La- tỉnh Sơn La.
So sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp những vấn đề lí luận và thực tiễn
từ đó khái quát rút ra kết luận và đề xuất.
6.3. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu.
6.4. Phương pháp thể nghiệm sư phạm
Thiết kế một số giáo án thể nghiệm và tiến hành dạy thể nghiệm. 6
7. Giả thuyết khoa học
Vấn đề rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 ở các trường
Tiểu học hiện nay vẫn còn chưa được chú trọng. Nhiều giáo viên chưa nhận thức
được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh.
Nếu đề tài đề xuất được những biện pháp rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm phù
hợp thì sẽ phát huy hiệu quả cao nhất kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh.
8. Những đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn, xây dựng một
số biện pháp đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Chiềng Sinh-
thành phố Sơn La- tỉnh Sơn La.
8
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đọc và đọc diễn cảm ở nhà trường Tiểu học
1.1.1.1. Đọc là gì?
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ
năng: đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được
hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chất lượng của
hiểu nội dung văn bản.
1.1.1.2. Thế nào là đọc diễn cảm?
Đọc diễn cảm là hình thức đọc thành tiếng, không những đạt được yêu
cầu của đọc đúng đã nêu ở trên mà còn có yêu cầu ngữ điệu đọc với các yếu tố
kèm ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt góp phần diễn tả nội dung
bài đọc và hướng tới người nghe.
Đọc diễn cảm là một yêu cầu cao trong quá trình đọc và được đặt ra khi
đọc các văn bản văn chương hoặc có các yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật. Đó là
việc đọc thể hiện ở kỹ năng làm chủ ngữ điệu, ngừng giọng, ngắt giọng, cường
độ giọng đọc,… để biểu đạt đúng nội dung, ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã
gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểu hiện sự thông hiểu được nội dung thông
điệp, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực
đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện trên cơ sở đọc đúng, đọc lưu loát.
Việc rèn luyện có nhiều sắc thái khác nhau: rèn đọc đúng ngữ điệu, đọc
nhấn mạnh vào các từ ngữ miêu tả, gợi tả, gợi cảm để làm nổi bật ý nghĩa của
câu. Ngắt nhịp đúng khi đọc văn, đọc thơ, diễn cảm được tình cảm của từng
đoạn văn, đoạn thơ (vui buồn, tức giận, phấn khởi), thay đổi giọng đọc, ngữ điệu
khi đọc lời đối thoại theo từng tính cách của nhân vật.
Đọc diễn cảm là đọc đúng về mặt văn chương, là nghệ thuật biểu hiện một
cách hợp lí mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong phản ánh của tác
giả. Sự thể hiện phù hợp giữa chủ quan của người đọc và chủ quan của tác giả sẽ
truyền được tiếng nói tâm tình của tác giả đến người nghe.
10
Đọc diễn cảm chỉ có thể có được trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc
diễn cảm yêu cầu đọc đúng thể hiện giọng đọc như: vui, buồn, giận dữ, trang
nghiêm… phù hợp với từng ý cơ bản của bài đọc, phù hợp với kiểu câu, thể loại.
Đọc có cảm xúc cao, biết nhấn giọng ở những từ ngữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt
lời nhân vật, lời tác giả. Để đọc được diễn cảm người đọc phải làm chủ giọng
đọc của mình, xác định được chỗ ngắt giọng, ở đây muốn nói đến kĩ thuật ngắt
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng như tư duy của người đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi
dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, tránh xa cái xấu và cái ác, dạy cho
các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh.
Việc dạy đọc diễn cảm không đơn giản chỉ là giúp các em chuyển từ chữ
viết thành âm thanh có vần, có điệu mà sâu hơn nữa là giúp các em chuyển văn
bản viết (văn bản nghệ thuật và phi nghệ thuật) thành văn bản âm thanh nhằm
truyền đến cho người nghe không chỉ nội dung thông tin và cả cảm xúc chủ quan
của mình về giá trị nghệ thuật của văn bản. Đối với học sinh tiểu học đọc diễn
cảm vừa là hoạt động tiếp nhận thông tin, trong đó hoạt động phát tin có vai trò
nổi trội hơn so với hoạt động nhận tin.
Trong giờ Tập đọc học sinh trở thành nhân vật môi giới để nối liền các tác
phẩm văn học với người nghe. Khi các em đọc diễn cảm vừa có tác động tới lí
trí, vừa tác động đến xúc cảm của các em và người nghe. Đọc đúng rồi tiến tới
đọc diễn cảm để thể hiện được tình cảm và cảm xúc của văn bản là một trong
những đòi hỏi mà giờ tập đọc diễn cảm cần phải đạt được.
1.1.1.4. Nhiệm vụ của việc đọc và đọc diễn cảm trong nhà trường Tiểu học
a) Hình thành năng lực đọc cho học sinh
Dạy học Tập đọc trong nhà trường Tiểu học giúp các em hình thành và
phát triển kỹ năng đọc một cách tốt nhất. Để rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm
cho học sinh tiểu học cần chú ý đến kỹ năng đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát,
trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung mình đọc), và đọc hay (cao
hơn là đọc diễn cảm). Muốn có được kỹ năng đọc diễn cảm thì trước hết học
sinh tiểu học phải có được kỹ năng đọc đúng, đồng thời phải biết cảm thụ văn
bản đọc và biết hướng tới người nghe để giọng đọc trở nên truyền cảm. Năng
12
lực đọc của học sinh được thể hiện qua hai hình thức: đọc thành tiếng và đọc
thầm. Học sinh sử dụng thành thạo hai hình thức này được xem là biết đọc.
Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát ra âm thanh. Hình thức đọc này dựa
cảm. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu
khiến khác nhau.
b) Hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc
với sách cho học sinh
Thông qua hoạt động đọc và đọc diễn cảm cho học sinh, giúp các em có
thói quen làm việc với văn bản, với sách một cách đầy hứng thú. Làm cho học
sinh thích đọc và thấy rằng khả năng đọc và đọc diễn cảm có lợi cho các em
trong cả cuộc đời. Làm cho học sinh thấy được lợi ích của việc làm quen với văn
bản, với sách để lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng. Phải làm cho học sinh thấy
được đó là một trong những con đường đặc biệt tạo cho mình một cuộc sống trí
tuệ đầy đủ và phát triển hơn.
c) Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho
học sinh
Ngoài nhiệm vụ rèn đọc cho học sinh, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ
tích luỹ về nhiều mặt, đa dạng và phong phú, bên cạnh nhiệm vụ hình thành thế
giới quan, giúp cho sự phát triển tư duy thính giác, thị giác, nó còn có nhiệm vụ
làm giàu vốn kiến thức về ngôn ngữ, về đời sống và kiến thức văn học cho học
sinh. Yêu cầu về việc đọc là một yêu cầu đặt ra trước tiên đối với người đi học,
có đọc tốt và hiểu (cảm thụ) được văn bản thì mới có thể hiểu được nội dung của
văn bản đó. Đọc giúp cho các em có một lượng kiến thức ngôn ngữ phong phú
hơn, khả năng đọc diễn cảm cũng tốt hơn, giúp các em có khả năng giao tiếp tốt
hơn trong cuộc sống. Khi các em có một khả năng đọc diễn cảm tốt sẽ giúp các
em được tiếp xúc với những bài viết hết sức phong phú và đa dạng thuộc nhiều
thể loại, với các chủ điểm, các chủ đề khác nhau về cuộc sống, con người. Vì thế
các em có thêm nhiều hiểu biết về những vấn đề mà các em được học, về con
người, cuộc sống, thiên nhiên, đất nước, văn hoá, lịch sử dân tộc và thế giới từ
đó tạo điều kiện cho các em mở rộng vốn sống và khả năng hiểu biết của mình.
Trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống các em có điều kiện tiếp xúc
nhiều hơn với các văn bản nghệ thuật, có kỹ năng đọc diễn cảm tốt sẽ giúp cho
các em biết cảm thụ cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ văn học, hình tượng văn học
15
thông qua mỗi bài đọc diễn cảm. Từ đó, các em có sự cảm nhận sâu sắc các văn
bản mà mình đọc.
Giáo dục tình cảm và giáo dục thẩm mĩ là con đường đưa nghệ thuật đến
với cuộc đời. Văn học có một sức mạnh lớn, nó giáo dục con người không phải
bằng những triết lí khô khan, cứng nhắc mà bằng những hình tượng văn học sinh
động. Từ sự rung cảm với tác phẩm văn học sẽ mang đến cho các em những tình
cảm đạo đức cao cả, thiêng liêng, tình yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, yêu con
người, gia đình, bạn bè, yêu quê hương đất nước. Để có được những điều này
thầy cô giáo chính là cầu nối đưa các em tiếp cận với cuộc sống bằng những tình
cảm cao đẹp, trong sáng, lành mạnh có sức lay động sâu xa, truyền cảm của mình.
Từ đó có tác dụng vun đắp, bồi dưỡng tình cảm, đạo đức sâu sắc cho học sinh.
Mỗi bài tập đọc sẽ giúp học sinh nhận thức thêm một phần nhỏ bé của
cuộc sống, từ đó sẽ giúp các em có thể mở rộng kiến thức và sự hiểu biết của
mình hơn, ngôn ngữ của các em ngày càng phong phú hơn, nếu các em có được
khả năng đọc diễn cảm tốt thì khả năng cảm thụ văn học của các em sẽ sâu sắc
hơn. Dạy học Tập đọc trong đó dạy đọc diễn cảm có giá trị thẩm mĩ cao sẽ có
tác dụng ghi lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời các em.
1.1.2. Cơ sở tâm lí, sinh lí của việc dạy đọc
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình đọc,
nắm được bản chất kỹ năng đọc. Đặc điểm tâm lí, sinh lí của học sinh khi đọc
hay cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy đọc.
Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin
bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác. Quá trình này được thể
hiện:
+) Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với
nhau. Một mặt, là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ, âm để phát ra
một cách chuẩn xác những dòng và tự ghi lại lời nói âm thanh. Mặt khác, là sự
- Hiểu được các bài.
Đối với học sinh lớp 4, tâm lí các em đã được hoàn thiện cấu trúc tâm lí,
các em có ý thức về bản thân mình, tự ý thức được mình là ai, như thế nào. Ở
giai đoạn này ngôn ngữ của các em rất phát triển, các em đã sử dụng tiếng mẹ đẻ
17
trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong học tập nhiều hơn so với các lứa tuổi
trước đó. Các em phát âm đúng với phát âm của người lớn, ngữ điệu phù hợp
với hoàn cảnh giao tiếp. Đó là một bước ngoặt trong quá trình hình thành và
phát triển tâm lí của các em. Bước tiến về ngôn ngữ của các em được bộc lộ khi
các em tiếp xúc với các tác phẩm văn học. Đặc điểm tâm lí của các em là dễ tiếp
thu, dễ cảm xúc, hồn nhiên, tư duy mang tính chất cụ thể và biểu cảm. Nhờ vậy
đã giúp cho việc đọc diễn cảm rất dễ dàng.
Học sinh tiểu học - con người với cấu tạo đầy đủ các bộ phận của một cơ
thể đang phát triển. Trong đó, cơ quan phát âm ngôn ngữ phát triển mạnh, phù
hợp với sự tiếp nhận và thực hiện dễ dàng các hoạt động mới, theo chức năng
của chúng. Khả năng nhận thức, tư duy, tưởng tượng, tình cảm, trí nhớ và nhân
cách học sinh đang được hình thành, tiềm tàng khả năng phát triển và đang phát
triển. Học sinh tiểu học hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, hiếu động, tò mò, thích
hoạt động, khám phá thường độc lập, tự làm việc theo hứng thú của mình. Thầy,
cô giáo là hình tượng mẫu mực nhất được trẻ tôn sùng nhất, mọi điều trẻ đều
nhất nhất nghe theo. Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học phụ thuộc
phần lớn vào quá trình dạy học và giáo dục của thầy cô ở nhà trường Tiểu học.
Dạy Tập đọc cho học sinh tiểu học bước đầu đem đến sự vận động khoa
học cho não bộ và các cơ quan phát âm, ngôn ngữ, đem đến những tinh hoa văn
hoá, văn học nghệ thuật trong tâm hồn trẻ; rèn kỹ năng đọc - hiểu, cảm thụ văn
học, rèn luyện tình cảm đạo đức, ý chí, ý thức, hành động đúng cho trẻ, phát
triển khả năng học tập các môn khác, là điều kiện phát triển toàn diện cho học
sinh tiểu học. Nhân cách học sinh tiểu học phát triển đúng đắn hay lệch lạc phụ
thuộc vào quá trình giáo dục của người thầy mà trong đó phương tiện nghe, nói,
đề thời sự và có nhiều ý kiến trái chiều khác nhau. Nó liên quan đến nhiều vấn
đề khác nhau như: chuẩn hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,
mục đích của việc xây dựng chính âm. Vấn đề đặt ra trước mắt là phải giải quyết
như thế nào những nét khác biệt trên bình diện ngôn ngữ giữa các phương ngữ
và việc xác định chuẩn chính âm.
Những nét khác biệt về phương ngữ giữa các vùng của nước ta
19
Phương ngữ
Những nét
khác biệt Bắc Bộ Bắc Trung Bộ Nam Trung Bộ
và Nam Bộ
Âm đầu tr, s, r
-
+
+
Vần ưu, ươu
âm thanh), trường độ (độ dài, ngắn của âm thanh), âm sắc (sắc thái riêng của âm
thanh), …
Ngữ điệu là yếu tố gắn bó chặt chẽ với lời nói. Mỗi ngôn ngữ có một lời
nói riêng. Ngữ điệu tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ có âm thanh khác, chủ