Biện pháp nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 trong dạy học phân môn tập đọc - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Sư
phạm, các thầy cô thuộc Bộ môn Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện cho tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Lưu Thị Dịu – giảng viên
Khoa Sư phạm, cô đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành
chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và học sinh
khối lớp 4 Trường Tiểu học Ngô Quyền, Thành phố Buôn Ma Thuột đã tạo
điều kiện cho tôi điều tra và làm thực nghiệm cho đề tài.
Xin chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu của gia đình, bạn bè đã
động viên và giúp tôi hoàn thành chuyên đề.
Đắk Lắk, tháng 4 năm 2015
Người thực hiện
Phan Thị Quỳnh
i
MỤC LỤC
ii
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT VIẾT ĐẦY ĐỦ VIẾT TẮT
1 Giáo viên GV
2 Học sinh HS
3 Thực nghiệm TN
4 Đối chứng ĐC
5 Tiếng Việt TV
6 Sách giáo khoa SGK
7 Phương pháp dạy học PPDH
8 Nhà xuất bản NXB

iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU

đọc là một phân môn của chương trình TV ở bậc Tiểu học. Phân môn Tập đọc
có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình
thành và phát triển cho HS kĩ năng chuyển chữ viết thành ngôn ngữ ở dạng
âm thanh, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của HS ở bậc Tiểu học đầu tiên.
Những kinh nghiệm đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, những
tư tưởng, tình cảm của thế hệ trước và của cả những người đương thời phần
lớn được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể
tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình
thường và ngược lại. Nếu biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên
nhiều lần, từ đây họ biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối
quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy.
Biết đọc, con người có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ
bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu
tư tưởng, tình cảm của người khác. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin
thì biết đọc càng quan trọng vì nó giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin
không những biết đọc TV mà cần phải biết đọc cả tiếng nước ngoài. Đọc
chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời.
Đối với HS Tiểu học kĩ năng đọc là yêu cầu cơ bản đầu tiên. Nếu không
biết đọc các em sẽ không tham gia vào các hoạt động học các môn khác đạt
kết quả được. Vì vậy, dạy đọc có ý nghĩa rất quan trọng trong chương trình
dạy học Tiểu học.
Có ba yêu cầu của việc luyện đọc thành tiếng trong giờ dạy Tập đọc (đọc
đúng, đọc nhanh, đọc diễn cảm) đọc diễn cảm thể hiện rõ nhất kĩ năng đọc
của HS. Khi đọc diễn cảm, các kĩ năng đọc đúng, đọc nhanh đã đồng thời
1
được thể hiện. Do đặc điểm nhận thức của HS lớp 4 mang tính cụ thể, do vốn
ngôn ngữ và vốn sống của các em còn hạn chế nên chúng ta không tổ chức
dạy học văn với tư cách là một môn học độc lập. Chính vì vậy đọc diễn cảm
là phương tiện dạy học đồng thời là biện pháp dạy học nhằm đạt được mục
tiêu dạy tích hợp văn qua môn TV.

“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” (Lê Phương Nga, Đặng
Kim Nga, NXB Đại học Sư phạm, NXB Giáo dục, 2002) với mục tiêu trang
bị cho GV những kiến thức cơ bản hiện đại và các kĩ năng giảng dạy TV ở
Tiểu học. Giáo trình cung cấp thông tin về những vấn đề chung của phương
pháp dạy học TV và phương pháp dạy học các phân môn của môn TV ở Tiểu
học. Bên cạnh đó các tác giả còn đưa ra nhiều phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học phát huy tính tích cực chủ động của HS trong từng phân môn cụ
thể. Trong đó có phương pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm.
“Phương pháp đọc diễn cảm” (Hà Nguyễn Kim Giang, NXB Đại học
Sư Phạm, 2007) cũng đã chỉ rõ cho chúng ta biết: Việc đọc diễn cảm được sử
dụng rộng rãi trong các tiết dạy học văn học, trong các hoạt động văn học.
Trong các hoạt động này, nó được xem như một nghệ thuật đọc có tác dụng
một cách kỳ diệu về nhiều mặt. M.A.Rưbnhikôva khẳng định rằng: “Đọc diễn
cảm là hình thức đầu tiên và cơ bản của việc dạy học văn học một cách trực
quan và cụ thể, đối với chúng tôi nó là một hình thức trực quan quan trọng hơn
bất kỳ một hình thức trực quan thị giác nào. Chúng tôi không phủ nhận hình
thức trực quan thị giác nhưng phương pháp làm cho từ khắc sâu vào nhận thức
chính là lời nói, là phương pháp đọc diễn cảm bằng lời nói” (trang 56).
“Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” (Hà Nguyễn Kim Giang, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006) cũng đã
nêu ra những kết quả nghiên cứu cơ bản của các nhà khoa học có tên tuổi trên
thế giới như: P.M Iacôp sơn, E.I Trikhiêva, A.V Zapôrôze,… về khả năng,
năng lực tiếp nhận văn học của trẻ Tiểu học: Trẻ Tiểu học hoàn toàn có thể
hiểu sâu sắc (ở mức độ của trẻ) nội dung và tư tưởng tác phẩm văn học, có thể
phân biệt được hình ảnh nghệ thuật với hiện thực, chỉ ra và nhận xét được
những phương tiện biểu đạt hình tượng, ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật,
3
có khả năng nắm bắt được cơ bản cách xây dựng cốt truyện, cấu trúc và mối
quan hệ giữa các nhân vật,…
Những công trình nghiên cứu trên là tiền đề lí luận quan trọng để tôi

phân môn Tập đọc.
3.4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
TN sư phạm nhằm kiểm chứng lí thuyết, tìm hướng đi đúng đắn, thích
hợp và hiệu quả để nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm cho HS lớp 4 trong dạy
học phân môn Tập đọc ở Tiểu học.
3.4.5. Phương pháp thống kê toán học
Xử lí các số liệu thu thập được qua phiếu điều tra và kết quả TN sư phạm.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đọc diễn cảm
1.1.1.1. Khái niệm
Đọc diễn cảm là một quá trình bao gồm nhiều quá trình nhỏ:
- Quá trình tiếp nhận văn bản viết.
- Quá trình thông báo, truyền đạt văn bản viết thành văn bản đọc.
- Quá trình tái tạo, chuyển đổi nội dung ý nghĩa nghệ thuật của văn bản
thành âm thanh, nhịp điệu, tốc độ, sự ngừng nghỉ và sắc thái cảm xúc, thẩm
mĩ, thái độ của người đọc.
- Quá trình ngôn ngữ và văn học.
- Quá trình thông tin và giao tiếp.
Đọc diễn cảm làm nổi bật đặc điểm, cảm xúc thẩm mĩ và đời sống tinh
thần của tác phẩm, tạo ra mối quan hệ xúc động riêng tư của người đọc đối
với tác phẩm.
Đọc diễn cảm là cách sử dụng giọng đọc có kèm theo điệu bộ, cử chỉ, nét
mặt,… nhằm truyền tải những tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm trong tác
phẩm và cả những tư tưởng, tình cảm của người đọc đến người nghe.
Đọc diễn cảm thể hiện ở khả năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng,
cường độ giọng nhằm biểu đạt ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã gửi gắm,
góp phần chuyển tải thông điệp thẩm mĩ đến với người nghe. Đọc diễn cảm

đứng trên quan điểm của tác giả và dùng những bức tranh âm thanh để truyền
đạt đến người nghe nội dung tác phẩm.
* Xác định trọng âm
Trọng âm là độ vang, độ mạnh khi phát ra âm tiết. Dựa vào sự phát
âm một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanh điệu
rõ hay không rõ, người ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng có
trọng âm (là tiếng có trọng âm mạnh) và tiếng không có trọng âm (tiếng có
trọng âm yếu).
7
Trọng âm mạnh thường rơi vào các từ có chứa đựng thông tin mới hoặc
có tầm quan trọng trong câu. Trọng âm yếu đi vào các từ không có hoặc có ít
thông tin mới. Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn giọng hay kéo dài
những từ quan trọng trong bài.
Thực từ thường có trọng âm mạnh còn hư từ mang trọng âm yếu. Đa
phần, trong câu mỗi ngữ đoạn (mà đường ranh giới là những chỗ ngắt nghỉ)
được kết thúc bằng một trọng âm. Đây là căn cứ quan trọng để xác định chỗ
ngắt nghỉ trong câu văn, câu thơ, cũng là căn cứ để xác định những chỗ cần
luyện ngắt giọng trong bài.
* Xác định chỗ ngắt giọng
Ngắt giọng trong việc đọc diễn cảm tác phẩm văn học chiếm một vị trí
đáng kể. Ngắt giọng là cách nghỉ, cách dừng lại giây lát trong khi đọc. Ngắt
giọng là một phương tiện để bộc lộ ý tứ của bài đọc văn học. Có ba hình thức
ngắt giọng khi đọc: ngắt giọng lôgic, ngắt giọng tâm lí và ngắt giọng thi ca.
- Ngắt giọng lôgic là hình thức ngắt giọng dựa trên lôgic của ngữ nghĩa và
ngữ pháp của văn bản. Cơ sở để ngắt giọng lôgic thường dựa trên các yếu tố
hình thức như cụm từ, câu, đoạn, khổ, dấu câu,…
- Ngắt giọng tâm lí: là một phương tiện tác động đến tình cảm người nghe.
“Không có ngắt giọng lôgic câu sẽ không có nội dung, không có ngắt giọng
tâm lí câu sẽ không có sức sống,… Ngắt giọng lôgic phục vụ cho trí tuệ, ngắt
giọng tâm lí phục vụ cho tình cảm”. Sự im lặng có tác dụng truyền cảm, đó

điều chỉnh giọng đọc làm cho nó có thể nhỏ, to, có thể tạo được các bậc thang
chuyển độ vang từ to đến nhỏ và ngược lại.
Thông thường người ta thường sử dụng cường độ vừa phải khi đọc. Để
phù hợp với nội dung bài đọc, người ta phải thay đổi cường độ, lúc thì tăng
thêm, khi thì giảm bớt cường độ.
Cường độ đọc cũng do văn bản qui định. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc
vào khả năng về cường độ phát âm của mỗi người, số lượng người nghe và
không gian đọc.
9
Cường độ đọc là một yếu tố của ngữ điệu, nó giúp cho người đọc minh
họa được rõ nét và sinh động hình tượng các nhân vật, tính cách và hành vi
của họ.
* Xác định cao độ
Khi nói đến việc sử dụng cao độ để đọc diễn cảm là muốn nói đến những
chỗ lên giọng, xuống giọng có dụng ý nghệ thuật.
Cần kết hợp cao độ và cường độ trong giọng đọc để phân biệt lời tác giả
và lời nhân vật. Khi đọc những lời dẫn truyện cần đọc với giọng nhỏ hơn,
thấp hơn những lời nói trực tiếp của nhân vật. Ở đây có sự chuyển giọng mà
những lời dẫn như nền thấp để cho những lời đối thoại nổi lên.
Như vậy, chúng ta đã tách ra từng thông số âm thanh để phân tích, còn
trên thực tế, đọc diễn cảm, giọng đọc, ngữ điệu đọc là sự hòa đồng của tất cả
những đặc điểm âm thanh này để tạo nên một âm hưởng chung của bài đọc.
* Tư thế, nét mặt, cử chỉ
Đây là các phương tiện phi ngôn ngữ, phi âm thanh nhưng có vai trò vô
cùng quan trọng quyết định đến sự thành công của bài đọc.
Tư thế đọc tức là vị trí cơ thể của người đọc trong lúc trình bày tác phẩm
văn học. Khi đọc phải giữ sao cho tư thế tự nhiên và đẹp, không gò bó; tư thế
phải ung dung, có phong thái, không đi lại quá nhiều.
Trong lớp học, khi đọc GV có thể ngồi hoặc đứng kết hợp với đi lại một
cách hợp lí.

Trên đôi cánh ước mơ
Có chí thì nên
Tiếng sáo diều
Người ta là hoa đất
Vẻ đẹp muôn màu
Những người quả cảm
Khám phá thế giới
Tình yêu cuộc sống
Mỗi chủ điểm được học trong 3 tuần, mỗi tuần gồm 2 tiết Tập đọc, cụ
thể như sau:
11
Chủ điểm 1: Thương người như thể thương thân
Tuần 1: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Mẹ ốm
Tuần 2: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu (tiếp theo), Truyện cổ nước mình
Tuần 3: Thư thăm bạn, Người ăn xin
Chủ điểm 2: Măng mọc thẳng
Tuần 4: Một người chính trực, Tre Việt Nam
Tuần 5: Những hạt thóc giống, Gà trống và cáo
Tuần 6: Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca, Chị em tôi
Chủ điểm 3: Trên đôi cánh ước mơ
Tuần 7: Trung thu độc lập, Ở vương quốc tương lai
Tuần 8: Nếu chúng mình có phép lạ, Đôi giày ba ta màu xanh
Tuần 9: Thưa chuyện với mẹ, Điều ước của vua Mi-đát
Tuần 10: Ôn tập giữa học kì I
Chủ điểm 4: Có chí thì nên
Tuần 11: Ông trạng thả diều, Có chí thì nên
Tuần 12: “Vua tàu thủy” Bạch Thái Bưởi, Vẽ trứng
Tuần 13: Người tìm đường lên các vì sao, Văn hay chữ tốt
Chủ điểm 5: Tiếng sáo diều
Tuần 14: Chú Đất Nung, Chú Đất Nung (tiếp theo)

truyện, nhân vật,… qua đó rèn luyện nhân cách cho HS.
Dựa vào cơ sở mục đích yêu cầu, nội dung chính của bài và tình hình thực
tế của lớp, trình độ tâm sinh lí của HS, GV lựa chọn và tìm ra phương pháp
giảng dạy phù hợp để giờ học đạt hiệu quả cao.
1.1.4. Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 4
Để nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm cho HS lớp 4 trong dạy học phân
môn Tập đọc một cách có hiệu quả thì một trong những yếu tố quan trọng mà
GV cần nắm vững đặc điểm tâm lí của HS Tiểu học. Có thể nói, đặc điểm tâm
lí của trẻ vừa là cơ sở khoa học của việc xác định mục tiêu, nội dung dạy học;
vừa là điều kiện để GV điều chỉnh việc nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm cho
HS lớp 4 trong dạy học phân môn Tập đọc. Sau đây là một số đặc điểm tâm lí
của HS Tiểu học:
13
1.1.4.1. Khả năng chú ý
Chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế. Những
kích thích cường độ lớn, mới lạ, sặc sỡ vẫn là mục tiêu có sức thu hút mạnh.
Chú ý có chủ định đang phát triển. Sức tập trung chú ý và tính vững bền của
chú ý chưa cao: HS lớp 1, 2 chỉ tập trung chú ý tốt khoảng 20 - 30 phút, các
lớp cuối cấp khoảng 30 - 35 phút. Khối lượng chú ý không lớn lắm (chỉ 2, 3
đối tượng so với 5, 6 đối tượng ở người lớn), khả năng phân phối chú ý còn bị
hạn chế nhiều, nhưng sự di chuyển chú ý lại phát triển nhanh vì hưng phấn
của chúng linh hoạt và nhạy cảm. Vì vậy, GV nên giao cho HS những công
việc hay nhiệm vụ học tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ cũng như cần ấn định thời
gian hoàn thành nhiệm vụ. Ví dụ như yêu cầu HS quan sát, thảo luận nhóm,
chơi trò chơi trong một khoảng thời gian nhất định.
1.1.4.2. Trí nhớ
Ở HS Tiểu học, trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí
nhớ từ ngữ - lôgic. Tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong ghi nhớ lẫn
tái hiện nhất là các lớp đầu cấp, HS có khả năng ghi nhớ tốt, đặc biệt là ghi
nhớ máy móc.

tri giác có chủ định đã phát triển, có liên quan đến việc phát triển khả năng
quan sát ở HS.
Những đặc điểm trên cho thấy, khi thiết kế bài dạy Tập đọc có sử
dụng biện pháp nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm cần chú ý làm sao cho HS
nắm được bản chất cốt lõi của vấn đề, biết tổng hợp các nội dung một cách
khái quát nhất.
1.1.4.5. Đặc điểm nhận thức, tư duy của học sinh
Nhận thức cảm tính là chủ yếu, nhận thức lí tính chưa phát triển. Chưa
có năng lực tập trung lâu dài. Đặc điểm nổi bật nhất của tư duy là chuyển dần
từ tính trực quan, cụ thể chuyển sang tính trừu tượng, khái quát: tính trực
quan giảm dần còn tính trừu tượng, khái quát tăng dần theo khối lượng nhận
thức.
15
Tóm lại, mọi biểu hiện tâm lí của trẻ chưa ổn định, chưa bền vững nên
dễ bị giao động theo các tác động của môi trường sống. Vì vậy trong quá trình
dạy học cần phải dựa vào đặc điểm tâm lí của đối tượng để lựa chọn và xây
dựng phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp, có như vậy
tiết dạy mới có hiệu quả cao được.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.2.1.1. Tình hình của trường Tiểu học Ngô Quyền
Trường Tiểu học Ngô Quyền được thành lập ngày 08/7/1992 theo
Quyết định của Ủy ban nhân dân Thị xã Buôn Ma Thuột, nay là thành phố
Buôn Ma Thuột trên cơ sở trường Phổ thông cơ sở Tân Thành (cơ sở có từ
trước giải phóng, cơ sở cũ đã xuống cấp, điều kiện dạy học nghèo nàn). Năm
học 1995 -1996 có 1482 HS với 41 lớp do yêu cầu xây dựng trường chuẩn
Quốc gia, năm học 2000 - 2001 trường có 1190 HS với 32 lớp. Trường được
công nhận trường Tiểu học chuẩn Quốc gia năm 2000 - 2001, là đơn vị đầu
tiên được công nhận ở Thành phố, Tỉnh.
Chất lượng đội ngũ

giảng dạy và giáo dục khá đầy đủ. Nhà trường đảm bảo sử dụng có hiệu quả
cơ sở vật chất được trang bị.
 Khó khăn
Phòng học còn thiếu
Chưa có các phòng chức năng để tổ chức các hoạt động theo trường
Chuẩn Quốc gia.
Một phần sân chơi cho HS còn nhếch nhác, chưa có kinh phí để nâng
cấp.
Khu vực sân dành riêng cho HS học giờ thể dục chưa đáp ứng được yêu
cầu tối thiểu về cơ sở hạ tầng nên các em phải mượn sân trường để học, gây
ảnh hưởng không ít đến các lớp học bên trong, nhà trường chưa có giải pháp
khắc phục.
17
Đa số bàn ghế HS chưa đạt chuẩn về quy cách theo độ tuổi. Nhiều bộ
đã xuống cấp, hư hỏng, chưa có điều kiện thay thế.
Chưa có GV biên chế dạy môn Thể dục và Tin học.
GV trẻ ít, một số GV nhiều tuổi, trình độ không đồng đều.
1.2.2. Khảo sát kĩ năng đọc diễn cảm của học sinh lớp 4 trường Tiểu học
Ngô Quyền, Thành phố Buôn Ma Thuột
 Kết quả giáo dục học kỳ I năm học 2014-2015 của học sinh khối 4
Tổng số HS: 210 em
Về năng lực phát triển phẩm chất: HS thực hiện đủ các nhiệm vụ được
nhận xét đánh giá, xếp loại theo quy chế, đạt:
+ Thực hiện đủ: 210 HS; Tỉ lệ đạt: 100%
+ Thực hiện chưa đủ: 0
Về phát triển năng lực nhận thức
+ HS hoàn thành: đạt 200 em; Tỉ lệ đạt: 95,2%
+ HS chưa hoàn thành: 10 em; Tỉ lệ đạt: 4,8%
 Kết quả học kỳ I năm học 2014 - 2015 phân môn Tập đọc của học sinh
khối 4

Tốt Bình thường Chưa thật tốt
Không
đạt yêu cầu
Số lượng
5 12 3 0
Tỉ lệ
25% 60% 15% 0%
Bảng 1.3: Ý kiến về việc nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm của học sinh lớp 4
trường Tiểu học Ngô Quyền, Thành phố Buôn Ma Thuột
Có 25% ý kiến đánh giá tốt thì cho rằng GV có thể áp dụng các hướng
dẫn đó để đưa vào giảng dạy đối với đối tượng HS của mình. 60% ý kiến
đánh giá bình thường thì cho rằng chưa có sự hướng dẫn cụ thể, chưa ấn định
được thời gian. Còn 15% đánh giá thật sự chưa tốt thì cho rằng chưa có sự
hướng dẫn còn chung chung, chưa được rõ ràng.
1.3. Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tôi đặt ra cơ sở lí luận của việc đọc diễn cảm trong
dạy học phân môn Tập đọc cho HS lớp 4. Cụ thể về khái niệm, kĩ thuật đọc
diễn cảm, nội dung chương trình Tập đọc lớp 4. Nghiên cứu cho thấy, việc
Ý kiến Không
cần thiết
Bình thường Cần thiết Rất cần thiết
Số lượng 0 0 7 13
Tỉ lệ 0% 0% 40% 60%
19
đọc diễn cảm phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chú ý, trí nhớ, năng lực hoạt
động của trẻ, tri giác, đặc điểm nhận thức, tư duy của HS.
Cũng trong chương này, chúng tôi nêu lên những vấn đề thực trạng
trong việc dạy đọc diễn cảm cho HS lớp 4 tại trường Tiểu học Ngô Quyền.
Thực tế cho thấy còn một số GV chưa thực sự quan tâm đến yếu tố linh hoạt,
sáng tạo trong việc dạy đọc diễn cảm cho HS. Quan niệm này dẫn đến tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status