Khóa luận tốt nghiệp Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh tiểu học ở quảng bình - Pdf 30

1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành, em xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến TS.Nguyễn Thị Nga – Giảng viên Trường Đại học Quảng Bình
đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn tập thể giảng viên Khoa sư phạm Tiểu học - Mầm
non đã tạo điều kiện để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp kết thúc khóa
học của mình.
Cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô, học sinh trường Tiểu học Đồng Phú và
các trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã tạo điều kiện cho em điều
tra, tìm hiểu và tổ chức thực nghiệm.
Và em cũng xin tỏ lòng biết ơn đối với những người thân trong gia đình
cũng như bạn bè đã động viên, giúp đỡ em rất nhiều về cả tinh thần, vật chất
trong quá trình thực hiện khóa luận.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện, năng lực, thời gian nghiên
cứu còn hạn chế, khóa luận nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót. Rất mong
nhận được sự góp ý của thầy cô, các bạn để khóa luận thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!

Quảng Bình, tháng 06 năm 2015.

Tác giả

Nguyễn Thị Oanh

2
LỜI CAM ĐOAN


LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
NHỮNG KÍ HIỆU DÙNG TRONG KHÓA LUẬN 6
A . PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Mục đích nghiên cứu 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp mới của đề tài 10
7. Cấu trúc của khóa luận 10
B. PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 11
1. Cơ sở lí luận 11
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. 11
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 13
1.2.1. Chính tả 13
1.2.2. Chuẩn chính tả 13
1.2.3. Kỹ năng và kỹ năng viết chính tả 14
1.2.4. Rèn luyện và rèn luyện kỹ năng viết chính tả 16
1.3. Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường Tiểu học 17
1.4. Đặc điểm ngôn ngữ Tiếng Việt và phương ngữ Quảng Bình liên quan đến
chính tả 18
1.4.1. Đặc điểm ngôn ngữ Tiếng Việt liên quan đến chính tả 18
1.4.2. Đặc điểm phương ngữ Quảng Bình liên quan đến chính tả 20
1.5. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học (liên quan đến rèn luyện kỹ
năng viết chính tả) 23
1.6. Khái quát về chương trình (phân môn) Chính tả ở Tiểu học 25
4
2. Cơ sở thực tiễn 28

2.8. Hướng dẫn học sinh giải các bài tập chính tả 59
2.9. Tăng cường xây dựng hệ thống bài tập chính tả lựa chọn cho HS Tiểu học
ở Quảng Bình 63
2.9.1. Mục tiêu 63
2.9.2. Nguyên tắc 63
2.9.3. Hệ thống bài tập chính tả lựa chọn cho HS Tiểu học ở Quảng Bình . 65
CHƯƠNG III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3. Những vấn đề chung của thực nghiệm 76
3.1. Mục đích thực nghiệm 76
3.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 76
3.3. Tiến trình thực nghiệm 76
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 76
3.3.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm và phiếu điều tra 77
3.3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm. 89
C. PHẦN KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 7

A . PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đảng ta đã nhận định “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống
giáo dục quốc dân”, nền tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu
trúc bền vững và phát triển hài hòa. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học nhằm hình
thành cho học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ,
thể chất tình cảm và các kỹ năng cơ bản. Giáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản
để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở
thành người có ích trong giai đoạn mới.
Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng trong nhà
trường giúp HS hình thành năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa,
tiếng Việt chuẩn mực. Cùng với các phân môn khác, Chính tả giúp cho HS
chiếm lĩnh văn hóa Việt - làm công cụ để giao tiếp, tư duy. Việc rèn luyện các
quy tắc chính tả sẽ hình thành kỹ năng viết đúng đơn vị từ của học sinh, khi các
em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện học tốt các môn học khác
và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt có hiệu quả.
Trong suy nghĩ và giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ viết,
người xưa thường nói “Nét chữ nết người - Văn hay chữ tốt”. Quả thật khi
viết chữ không tốt thì văn không thể hay được. Vì vậy, chính tả được dạy liên
tục từ lớp Một đến lớp Năm với các loại bài như : nhìn - viết, nghe - viết, nhớ -
viết, bài tập trắc nghiệm,…để các em được học môn chính tả một cách khoa học,
cẩn thận và sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kì học tập ở
nhà trường cũng như suốt cuộc đời.
Hiện nay, chất lượng dạy - học môn Tiếng Việt Tiểu học nói chung trong
những năm qua vẫn còn là điều trăn trở. Hiện tượng học sinh nói, viết không
thành câu, thành chữ và đặc biệt là hiện tượng học sinh viết sai lỗi chính tả còn

chính tả hiệu quả cho HS Tiểu học trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nhằm góp phần
nâng cao chất lượng dạy học chính tả cho HS.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tiến hành đề tài tác giả thực hiện nhiệm vụ:
9
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học chính tả ở
trường Tiểu học nói chung.
- Khảo sát, thống kê phân loại lỗi, chỉ ra thực trạng mắc lỗi, nguyên nhân
mắc lỗi của HS Tiểu học ở Quảng Bình.
- Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả cơ bản cho HS Tiểu
học.
- Tiến hành thiết kế giáo án và thực nghiệm dạy học ở trường Tiểu học.
- Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bước đầu thể nghiệm và rút ra tính
khả thi của vấn đề nghiên cứu.
IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho HS Tiểu học ở Quảng Bình.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Do khả năng và thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tiến hành điều tra, khảo
sát và thực nghiệm HS Tiểu học trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Đọc tham khảo tài liệu, phân tích, tổng hợp khái quát hóa các vấn đề tài liệu
có liên quan để làm cơ sở lí luận cho đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: Quan sát các giờ dạy Chính tả ở Trường Tiểu học
Đồng Phú nhằm nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm cho giờ dạy thực nghiệm.
Quan sát một số bài viết chính tả của các em HS Tiểu học. Sau đó phân tích,
đánh giá thực trạng chất lượng học tập của HS.

11
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Chính tả là một phân môn có vị trí quan trọng trong chương trình môn Tiếng
Việt ở Tiểu học. Giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình
thành kỹ năng cho HS. Rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho HS thế nào cho đạt
hiệu quả, vấn đề này đã được nhiều GV và các nhà sư phạm quan tâm. Các tác giả
với các bài viết đã đề cập đến nhiều khía cạnh, phương diện, cụ thể:
- Trong cuốn “Dạy họ c Chính tả ở Tiểu học”, Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân
Thảo, NXBGD, 2002. Các tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy
học Chính tả ở Tiểu học, đồng thời đưa ra một số nguyên tắc, phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học Chính tả nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả
nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói chung. Ngoài ra tác giả còn đề ra một
số quy tắc chính tả tiếng Việt giúp người đọc biết viết đúng, thành thạo âm tiết
từ đó hình thành kỹ năng chính tả tiếng Việt.
- Trong cuốn “Ngữ âm học hiện đại”, Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung,
Nguyễn Nguyên Trứ, NXBGD, 1978. Các tác giả đã đề cập đến vấn đề chính tả
chữ Việt và chính tả trong nhà trường hay vấn đề chính âm và chính tả chữ Việt.
Từ đó đề ra các phương pháp dạy học Chính tả. Đặc biệt là các tác giả đã tiến
hành phân loại các lỗi chính tả để tìm ra biện pháp khắc phục cụ thể, thích hợp
với mỗi loại.
- Trong cuốn “Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học”, Lê A, NXB ĐHSP,
2002. Tác giả đã phân tích một số cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học Chính
tả ở Tiểu học. Đồng thời đưa ra một số nguyên tắc và một số kiểu bài dạy chính
tả ở Tiểu học cũng như các vấn đề chính tả phương ngữ nhằm nâng cao hiệu quả

những biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho HS Tiểu học từ đó nâng
cao hiệu quả dạy học Chính tả.
13
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1. Chính tả
Chính tả là sự chuẩn hoá hình thức chữ viết của ngôn ngữ. Đó là một hệ
thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối
viết hoa Nói một cách cụ thể, chính tả là hệ thống các quy định về việc viết
chữ của một thứ tiếng, được xem là chuẩn mực.[7, tr. 121].
Như vậy, đối với tiếng Anh thì có chính tả tiếng Anh; đối với tiếng Pháp
thì có chính tả tiếng Pháp; đối với tiếng Việt thì có chính tả tiếng Việt. Mỗi thứ
tiếng có những quy định riêng về chính tả.
Nội dung chính tả tiếng Việt bao gồm một số vấn đề cơ bản sau:
- Cách viết một số từ có nhiều dạng phát âm khác nhau.
- Cách viết tên riêng Việt Nam.
- Cách viết tên cơ quan, tổ chức kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
- Cách viết tên riêng nước ngoài và thuật ngữ khoa học.
- Cách viết tên tác phẩm, văn bản.
- Cách viết tắt.
- Cách dùng số và chữ biểu thị số.
1.2.2. Chuẩn chính tả
Chuẩn chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ. Chuẩn
chính tả phải được quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ của tiếng Việt và phải
được mọi người tuân theo. Vấn đề đặt ra là chuẩn chính tả phải được xây dựng
sao cho hợp lí, có độ tin cậy và sức thuyết phục cao. Chuẩn chính tả có tính chất
bắt buộc gần như tuyệt đối, chẳng hạn không thể viết là “ dáo dục, iêu ghét ”
Mà phải viết là “giáo dục, yêu ghét …”
Chuẩn chính tả có những đặc điểm chính sau đây:
- Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt
đối của nó. Đặc điểm này đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính

khái niệm, định nghĩa, định luật… vào thực tiễn thì sẽ có kỹ năng. Nhưng kỹ
năng vẫn còn là một hành động ý chí đòi hỏi phải “động não”, suy xét, tính toán,
phải có sự nỗ lực ý chí thì mới hoàn thành được. Như vậy, kỹ năng chính là sự
vận dụng kiến thức đã thu nhận được ở một lĩnh vực nào đó vào việc thực hiện
15
có kết quả một thao tác, một hoạt động tương ứng phù hợp với mục tiêu và điều
kiện thực tế đã cho.
Để hình thành kỹ năng ở HS, GV phải giúp HS biết cách tìm tòi để nhận ra
yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ của chúng trong các tình huống và
trong các bài tập. GV đồng thời phải giúp HS hình thành một mô hình khái quát
để giải quyết các bài tập, đối tượng cùng loại. GV còn là người giúp HS xác lập
được mối quan hệ giữa các kiến thức và bài tập có tính mô hình tương ứng.
Trong thời gian ở trường Tiểu học, một loạt các kỹ năng cần và sẽ được
hình thành ở trẻ: kỹ năng học tập, lao động, vệ sinh,… Có những kỹ năng chung
(lập kế hoạch công việc, tự kiểm tra, tự đánh giá,…) và những kỹ năng riêng.
Cũng trong quá trình học tập, mỗi bộ môn đòi hỏi có những kỹ năng đặc trưng.
Đối với môn Toán là kỹ năng tính toán. Đối với các môn tìm hiểu tự nhiên đó là
kỹ năng quan sát. Đối với môn Tiếng Việt, mỗi phân môn cũng có một kỹ năng
đặc trưng phù hợp với đặc điểm của từng phân môn đó. Phân môn Chính tả cũng
vậy, nó hình thành cho HS các kiến thức và kỹ năng đặc biệt là kỹ năng viết
chính tả.
b) Kỹ năng viết chính tả
Sự vận dụng những tri thức về chữ viết cùng với sự sáng tạo trong nhận
thức để viết chữ và viết văn bản thực hiện nhiệm vụ của phân môn Chính tả đề
ra gọi là kỹ năng viết chính tả.
Kỹ năng viết chính tả đối với HS Tiểu học ở mức độ thấp là chép lại, ghi
các văn bản đã có theo lời người khác đọc hoặc dựa vào trí nhớ một cách chính
xác, khoa học. Đó là loại bài chính tả. Kỹ năng viết chính tả được rèn luyện suốt
đời.
Các kỹ năng chính tả được hình thành và thuần thục từ văn bản viết. Muốn

phân môn Chính tả là tính chất thực hành. Việc rèn luyện kỹ năng viết chính tả
có hiệu quả thấp hay cao phụ thuộc vào việc GV tổ chức cho HS quá trình rèn
luyện như thế nào để HS nắm được các quy tắc, thủ thuật chính tả. Quá trình đó
sẽ có kết quả tốt nếu GV sử dụng hệ thống bài tập chính tả trong quá trình dạy
học. Qua việc thực hiện các bài tập chính tả kỹ năng viết chính tả sẽ dần dần
hình thành ở HS. Các em sẽ nắm được các quy tắc chính tả, luyện tập nhiều giúp
17
các em nhớ được các từ ngữ, các âm, vần dễ viết sai, dễ lẫn lộn, từ đó giúp các
em viết thông viết thạo hơn.
Ngoài việc rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho HS, Chính tả còn góp phần
rèn luyện cho các em các phẩm chất như tính cẩn thận, có thẩm mỹ, bồi dưỡng
các em lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết tiếng Việt.
1.3. Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường Tiểu học
Bốn hoạt động vô cùng quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ của con người
là nghe, nói, đọc và viết. Xét dưới góc độ chức năng giao tiếp thì nói và viết là
hoạt động tạo lập lời nói, còn nghe và đọc là hoạt động tiếp nhận lời nói. Còn
xét dưới góc độ phương diện giao tiếp thì nghe và nói là hoạt động bằng âm
thanh, đọc và viết là hoạt động bằng chữ viết. Cả bốn hoạt động này luôn có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện hoạt động này là tiền đề thực hiện các hoạt
động kia và ngược lại. Tuy nhiên, ở trong mỗi hoạt động lại có những đặc điểm
riêng, giữ vị trí riêng trong hoạt động chung của mỗi con người cũng như trong
dạy học ở nhà trường, trong đó chính tả là một kỹ năng vô cùng quan trọng là
rèn luyện cho HS.
Trong thực tiễn dạy học Chính tả cùng với tập viết, tập đọc, tập nói giúp
cho người đọc chiếm lĩnh được Tiếng Việt văn hóa, công cụ để giao tiếp, tư duy
và học tập. Từ đó hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt (đặc
biệt là kỹ năng viết) góp phần rèn luyện cho HS thao tác tư duy cơ bản, cung cấp
cho HS những hiểu biết sơ giản về tự nhiên xã hội để góp phần giáo dục và hình
thành nhân cách cho HS.
Ngoài ra, Chính tả còn có vị trí hết sức quan trọng là rèn cho HS biết quy

Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ, cố định. Tính chặt chẽ này thể
hiện ở chỗ âm tiết nào cũng phải có thanh điệu và nguyên âm làm âm chính
trong vần. Mỗi một vị trí chỉ có một yếu tố. Vị trí của các yếu tố trong âm tiết cố
định, không thể tùy tiện thay đổi. Thành phần cấu trúc âm tiết gồm : thành phần
siêu âm đoạn và thành phần âm đoạn. Song thành phần âm đoạn lại có thể chia
cắt tiếp tục ra các yếu tố nhỏ hơn. Không có âm tiết nào chỉ gồm một trong hai
thành phần cấu tạo trên.
19
Chẳng hạn: Từ “khoảng cách” gồm hai âm tiết. Mỗi âm tiết đều có thanh
điệu bao trùm lên toàn bộ (bộ phận siêu âm đoạn) đó là dấu hỏi và dấu sắc. Phần
còn lại có thể tiếp tục chia nhỏ nữa (bộ phận cấu tạo âm đoạn): khoảng, cách.
Âm tiết thường có nghĩa, có thể đứng một mình tạo nên từ hoặc kết hợp với
nhau với tư cách là hình vị để tạo nên từ. Vì vậy, đại đa số các âm tiết tiếng Việt
(tiếng) đều trùng với hình vị. [3, tr. 49]
Chẳng hạn : Khả năng hoạt động như từ đơn của các âm tiết tiếng Việt qua
một số ví dụ, thuộc:
+ Hiện tượng tách từ ghép để mỗi âm tiết tồn tại như một từ đơn có ý nhấn
mạnh: “ Cho con nào áo nào quà/ Cho củi con sưởi cho nhà con ngơi”
+ Hiện tượng tạo cách chơi chữ theo lối chiết tự : Có hội mà không có nghị,
có nghị mà không có quyết.
Tính đơn lập của âm tiết tiếng Việt không những được thể hiện trên lời nói
mà còn thể hiện thông qua chữ viết.
Chẳng hạn: Tiếng Việt: Tôi/ là/ Sinh viên
Tiếng Anh: I’m a student
Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị được
ghi bằng một con chữ. Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng
Việt đa số thống nhất với nhau. Đọc như thế nào thì sẽ viết như thế ấy. Song có
những trường hợp đặc biệt, một cách đọc nhưng có nhiều chữ viết khác nhau.
Điều đó gây khó khăn cho việc dạy chính tả, nhất là học sinh Tiểu học. Trong
giờ Chính tả HS sẽ xác định được cách viết đúng (đúng chính tả) bằng việc tiếp

cũng như mọi hiện tượng xã hội khác nó đều không ngừng biến đổi, phương ngữ
là một biểu hiện của sự biến đổi đó.
Sự biến đổi của một ngôn ngữ được thể hiện trên từng phương ngữ về mặt
ngữ âm, từ vựng ngữ pháp. Chính sự biến đổi này đã tạo nên đặc điểm riêng của
từng phương ngữ làm nên sự đa dạng của ngôn ngữ trong thể hiện.
Quảng Bình nằm trên dải đất miền Trung ở vào khoảng từ 16
0
55- 18
0
05 vĩ
độ Bắc. 105
0
37- 106
0
39 kinh độ Đông. Về phía Bắc, dãy Hoành Sơn chạy từ
Tây sang Đông ngăn cách Quảng Bình với Hà Tĩnh. Phía Nam Quảng Bình giáp
21
với Quảng Trị, phía Tây giáp với dãy Trường Sơn hùng vĩ là biên giới giữa Việt
Nam và Lào, phía Đông giáp với biển Đông.
Địa thế Quảng Bình tương đối hẹp, là vùng đất trải qua nhiều biến động dữ
dội của lịch sử, có một quá trình hình thành và phát triển khá phức tạp. Quảng
Bình có các di tích lịch sử của người Chăm, người Việt. Chính vì vậy đã tạo nên
vốn từ khá phong phú và đa dạng. Tỉnh Quảng Bình có 6 huyện : Lệ Thủy,
Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa và một Thành phố:
Thành phố Đồng Hới.
Dân số Quảng Bình phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít
người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người
chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, sống tập trung ở
hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch,
Quảng Ninh, Lệ Thuỷ. Từ đó tạo nên bức tranh phương ngữ ở Quảng Bình rất

phụ âm khác đều có những nét khác biệt nhất định.
Về phần vần, thổ ngữ ở Bình Trị Thiên cũng có những nét khác biệt rất lớn so
với vần của tiếng phổ thông. Sự có mặt của 35 vần hoàn toàn không có trong tiếng
phổ thông đã nâng số vần của các thổ ngữ Bình Trị Thiên lên 183 vần.
Về thanh điệu, trừ một vài thổ ngữ có 4 thanh như ở các xã: Hạ Trạch, Bắc
Trạch (Bố Trạch), Hương Hóa (Tuyên Hóa), các thổ ngữ này đều không có
thanh điệu với những nét võng, tức là không có hai thanh hỏi và ngã. Thanh
nặng của thổ ngữ Hạ Trạch và Bắc Trạch tương ứng với cả thanh nặng, thanh
hỏi và thanh ngã của tiếng phổ thông. Ví dụ: Thổ ngữ Hạ Trạch : ba tương ứng
với tiếng phổ thông: bã mía/bả vai/bậy bạ. Do có tình hình tương ứng về thanh
điệu như vậy nên HS Hạ Trạch, Bắc Trạch thường không phân biệt được dấu
hỏi, dấu ngã với dấu nặng.
Còn các thổ ngữ khác đều có 5 thanh là: thanh ngang, thanh huyền, thanh
sắc, thanh nặng và thanh hỏi. Phẩm chất của 5 thanh trong các thổ ngữ ở Quảng
Bình không hoàn toàn đồng nhất với 5 thanh tương ứng trong tiếng phổ thông.
[11, tr. 174]
Trái với phụ âm đầu và vần, sự khác biệt giữa phương ngữ nơi đây và tiếng
phổ thông thể hiện rõ nhất ở số lượng thanh điệu bị giảm, tức là không có thanh
23
ngã trong hệ thống thanh điệu. Đây cũng là nét khác biệt chung của các phương
ngữ miền Trung và miền Nam so với tiếng phổ thông. Về thanh có các lỗi phát
âm địa phương như sau: lẫn thanh hỏi và thanh ngã (Đồng Hới), không phân biệt
thanh ngã và thanh huyền (Quảng Xuân - Quảng Trạch), thanh ngã và thanh hỏi
bị biến thành thanh nặng (Hạ Trạch - Bố Trạch), lẫn lộn thanh sắc và thanh
huyền (Quảng Xuân- Quảng Trạch).
Về ngôn ngữ Quảng Bình thì con người nơi đây luôn “một lòng chung
thủy” với thứ ngôn ngữ sinh ra đã có trên mảnh đất này. Có những người từ nhỏ
lớn lên không bước chân ra khỏi làng nên sự bảo toàn phương ngữ ban đầu là
một điều chắc chắn. Ít có nơi đâu có thể tìm đọc được những câu như : “nồi đất
nấu ếc” , “cá tréc nấu keng”, “cơm đẻo, thịt đai”. Những từ ngữ địa phương

các em thực hiện được hoạt động học tập. Tuy vậy, ở giai đoạn HS Tiểu học, các
cơ quan của cơ thể chưa phát triển đầy đủ, khả năng mã hóa các đơn vị ngôn
ngữ âm thanh thành chữ viết còn chậm, viết thiếu từ hay mắc một số lỗi như lỗi
không nắm vững chính tự (viết nhầm các phụ âm đầu: tr/ch, s/x…), lỗi không
nắm vững cấu trúc âm tiết của tiếng Việt, không hiểu cấu trúc nội bộ của âm tiết
tiếng Việt… Thêm nữa, do hệ thần kinh phát triển chưa ổn định nên các em dễ
bị phân tán bởi các điều kiện ngoại cảnh.
Học sinh Tiểu học thường hiếu động, chóng nhớ, chóng quên, do đó GV
cần hình thành cho các em các kĩ xảo chính tả. Trong tâm lí học, khái niệm kỹ
xảo được hiểu là “những yếu tố tự động hóa của hoạt động ý thức, được sinh ra
trong quá trình thực hiện hoạt động đó…”. Hình thành cho HS kỹ xảo chính tả
nghĩa là giúp HS viết đúng chính tả một cách tự động hóa, không cần trực tiếp
nhớ tới các quy tắc chính tả, không cần tới sự tham gia của ý chí. Để thực hiện
được, có thể tiến hành bằng hai con đường: có ý thức và không có ý thức. Với
cách không có ý thức thường tốn thời gian, công sức, GV phải luyện cho HS
thường xuyên, qua đó củng cố trí nhớ máy móc ở mức độ nhất định. Với cách có
ý thức, GV cần cho HS bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc các “mẹo” chính
tả. Nội dung kiến thức phải bắt đầu từ dễ đến khó, tránh nhàm chán mà phải học
mà chơi chơi mà học. Thông qua luyện tập dần dần hình thành các kỹ xảo chính
25
tả bằng con đường có ý thức, đó là con đường ngắn nhất, có hiệu quả cao. Cần
vận dụng cả hai con đường để rèn luyện chính tả cho HS Tiểu học. Trong đó,
con đường dạy không có ý thức chủ yếu thực hiện ở các lớp đầu cấp còn con
đường có ý thức nên thực hiện ở các lớp cuối cấp.
Từ những cơ sở tâm lí trên khiến cho việc lựa chọn nội dung, hình thức các
bài Chính tả trong chương trình Tiếng Việt cũng chịu sự chi phối căn bản.
Người GV phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí của HS lứa tuổi này để
nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học nói chung và chính tả nói riêng. Đồng
thời, cần có những biện pháp dạy học tích cực, hình thức dạy học phong phú
phát huy trí lực của HS, nhằm đạt kết quả dạy học cao nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status