Khóa luận tốt nghiệp Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh - Pdf 30

LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, bạn bè, người thân.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân
thành tới Ban Giám Hiệu, các giáo viên cùng các cháu Trường Mầm Non Nam Lý đã
hợp tác và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Ths.Phạm Thị Yến, người đã “truyền
lửa” cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu, Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
Trường Đại học Quảng Bình đã động viên, khích lệ tôi không ngừng nổ lực phấn đấu
hoàn thành công việc của một sinh viên.
Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ, ông bà và
những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cũng như đặt sự kỳ vọng
và tôi.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất
định. Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của Hội đồng thẩm định để khóa luận
ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn! Đồng Hới, tháng 05/ 2015
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền 1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, làm
nền tảng ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Chính trẻ em hôm nay sẽ là
những nhân tố quan trọng, quyết định đến sự phồn thịnh và văn minh của một quốc gia
sau này. Do đó, việc giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là
vô cùng quan trọng.
Xã hội hiện đại luôn vận động và phát triển không ngừng, song song với sự
phát triển đó cuộc sống con người luôn nãy sinh nhiều vấn đề phức tạp, những thách
thức…đòi hỏi mỗi người phải có năng lực để ứng phó và vượt qua. Nếu không có năng
lực, kinh nghiệm và hành động theo cảm tính thì rất dể gặp rủi ro.
Nhằm giúp mỗi cá nhân có thể quyết định, hành động và ứng xử một cách có
hiệu quả, thích nghi được với mọi hoàn cảnh, tránh được những hậu quả xấu, thì việc
tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm…cho mỗi con
người là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, việc GDKNS đã được đưa vào mọi cấp
học từ mầm non, tiểu học, trung học, trung học phổ thông đến đại học. Tuy nhiên,
được đông đảo mọi người quan tâm nhất vẫn là việc GDKNS cho trẻ ở lứa tuổi mầm
non. Bởi việc hình thành kĩ năng sống (KNS) cho trẻ bắt đầu ở giai đoạn 7-8 năm đầu
tiên của cuộc đời con người.
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan
Bởi vậy, các em luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc, bảo vệ chu đáo của bố
mẹ, ông bà và mọi người xung quanh và ít khi được va chạm, cọ xát với thực tế. Trong

năng sống cho trẻ thông qua HĐ KPMTXQ để góp phần giúp trẻ hình thành được
những kĩ năng sống là việc làm hết sức cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, chúng
tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh” làm
hướng nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp nhằm giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Qúa trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non
thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp nhằm giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi ở trường mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm
non, nếu giáo viên sử dụng các biện pháp một cách linh hoạt sáng tạo nhằm tổ chức
các hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh một cách có hiệu quả thì
sẽ phát triển được kĩ năng sống cho trẻ, đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng cơ sở lý luận của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh ở trường
mầm non.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục kĩ
năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi
trường xung quanh ở trường mầm non và thử nghiệm biện pháp phù hợp nhằm nâng

- Trò chuyện với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua các hoạt động hàng ngày để tìm hiểu
mức độ giáo dục kĩ năng sống cho trẻ trong các hoạt động giáo dục nói chung và trong
hoạt động khám phá khoa học nói riêng.
7.2.3. Phương pháp điều tra anket
- Nhằm thu thập các thông tin về thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ trong
hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh ở trường Mầm non, từ đó
đánh giá thực trạng và làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu, lựa chọn các biện pháp
để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ.
7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 4
- Dự giờ, trao đổi với các giáo viên nhằm thu thập những kinh nghiệm quý báu
của các nhà chuyên môn về các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ để đưa ra kết
luận chính xác và khoa học, rút ra bài học cho bản thân.
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Nghiên cứu giáo án và giờ dạy của giáo viên nhằm tìm hiểu việc tổ chức giáo
dục kĩ năng sống cho trẻ ở các trường mầm non hiện nay.
- Nghiên cứu các sản phẩm của trẻ (các bài tập, các hạt động khác nhau) nhằm
biết được mức độ hình thành kĩ năng sống của trẻ.
7.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Bước đầu thử nghiệm các biện pháp đã lựa chọn, nhằm đánh giá hiệu quả thực
tiễn của các biện pháp đó đối với việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
- Chúng tôi sử dụng phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học để kiểm
tra độ tin cậy của đề tài.
8. Những đóng góp của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về việc giáo dục kĩ năng sống
cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.

1.1.1. Trên thế giới
Ở nhiều nước trên thế giới, việc GDKNS được thực hiện bằng sự kết hợp giữa giáo
dục nhà trường và các tổ chức xã hội. Trong nhà trường, GDKNS được coi là nhiệm vụ
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.
- Ở các nước châu Âu:
Tiêu biểu là chương trình giáo dục kĩ năng sống ở Nga:
Ở Nga việc GDKNS cho trẻ được thực hiện thông qua: các trò chơi đóng vai,
hoạt động thực tiễn, hoạt động sáng tạo, lời nói, … nhằm hình thành cho trẻ những kĩ
năng cơ bản như: Kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tự học, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ
năng giao tiếp ứng xử và tạo lập mối quan hệ…
Vấn đề giáo dục KNS là vấn đề mới trong đào tạo giáo viên mầm non ở Nga,
cho nên việc GDKNS cho trẻ vẫn chưa được chú trọng quan tâm, việc tổ chức các hoạt
động để giáo dục KNS cho trẻ chưa được thường xuyên và còn mang tính chất loa qua,
cách tổ chức các tiết học còn mang tính chất lý thuyết. Phần giáo dục trẻ kĩ năng sống
để ứng xử trong các tình huống, các mối quan hệ, các hoạt động cũng chưa được chú
trọng. 6
- Ở châu Úc: Chương trình GDKNS cho trẻ với hàng loạt các hoạt động mang
tính trải nghiệm và các phương pháp thực hành, giúp học sinh khám phá và phát triển
các kĩ năng: Giao tiếp, tôn trọng, yêu thương, trách nhiệm, hợp tác…
Mục đích của chương trình là: Góp phần giúp cho học sinh nhận biết, hình
thành các giá trị sống căn bản, phổ quát trong mối liên hệ giữa hoài bão cá nhân và ý
tưởng chuẩn mực xã hội. Từ đó, các em có thể đào sâu, xây dựng những phẩm chất,
đức tính tốt của bản thân với việc lựa chọn và phát triển các KNS tích cực, theo những
giá trị cốt lõi, để làm kim chỉ nam cho mọi ứng xử xã hội.
- Ở các nước châu Á:
Singapore: Được đánh giá là một nước có nền kinh tế năng độc bậc nhất của
Châu Á và thế giới. Hàng loạt chương trình giáo dục được xây dựng và tiến hành

ý tưởng Việt : “Hiện nay, thuật ngữ KNS được sử dụng phổ biến nhưng có phần bị lạm
dụng khi chính những người huấn luyện hay tổ chức cũng chưa hiểu gì về nó”.
Thực tế, trong hệ thống giáo dục quốc dân, việc GDKNS cho trẻ cũng đang
được quan tâm. Tuy nhiên, trong nhà trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kĩ năng
học tập và chính trị, còn việc GDKNS chưa được quan tâm nhiều. Nhận thức được tầm
quan trọng của các KNS là điều kiện cần thiết để tiến hành bất cứ một hoạt động nào
đó trong xã hội. Tổng hợp từ các nghiên cứu của các nước và thực tế Việt Nam, đã
triển khai GDKNS cho trẻ với các nội dung:
- Giáo dục kĩ năng tư duy sáng tạo
- Kĩ năng giao tiếp có hiệu quả
- Kĩ năng giải quyết vấn đề
- Kĩ năng hợp tác
- Kĩ năng chia sẻ
Các nhà giáo dục từ trước đến nay đã khẳng định: Kĩ năng sống là những kĩ
năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những
thách thức của cuộc sống hàng ngày. Nếu con người có các kĩ năng sống thì sẻ có khả
năng là chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội, khả
năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Do đó, cần thiết phải
GDKNS cho học sinh.
- Tình hình nghiên cứu khoa học về GDKNS cho trẻ lứa tuổi mầm non ở
trong nước:
Việc GDKNS cho trẻ ở các trường mầm non cũng đang được quan tâm, tiêu
biểu có các công trình nghiên cứu như:
- Đề tài “Xây dựng nội dung GDKNS cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường
mầm non” (Trung tâm nghiên cứu GDMN - Viện KHGD, 1998 - 2000).
- Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ Mầm non tại trường Mầm non Sao
Mai, Đông Anh, Hà Nội ( Trần Lệ Thùy, năm 2012) 8

hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững. Theo các tác giả
trên, người có kĩ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động 9

đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả
của hành động.
+ Quan điểm thứ 2:
Quan điểm xem xét kĩ năng từ gốc độ không đơn thuần chỉ là mặt kỹ thuật của
hành động mà còn là biểu hiện của năng lực của chủ thể hành động và nhấn mạnh đến
kết quả của hành động.
- Các tác giả K.K. Platonop và G.G.Golubev cho rằng: “Kĩ năng là năng lực của
con người thực hiện công việc có kết quả là một chất lượng cần thiết trong những điều
kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng”.
- Theo TS. Vũ Dũng: “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức
về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ
tương ứng”.
- Các nhà Tâm lý học Việt Nam như PGS.TS Ngô Công Hoàn, PGS.TS Nguyễn
Thị Ánh Tuyết, GS Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành cho rằng kĩ năng là một
mặt năng lực của con người thực hiện một công việc có hiệu quả.
Như vậy, hai quan điểm này tuy về hình thức diễn đạt có vẻ khác nhau nhưng
thực chất chúng không hoàn toàn mâu thuẫn hay loại trừ lẫn nhau. Dù theo quan điểm
nào thì khi nói đến kĩ năng chúng ta đều phải quán triệt một số điểm sau:
- Mọi kĩ năng đều dựa trên cơ sở tri thức, muốn hành động, muốn thao tác trước
hết phải có kiến thức về nó dù cho tri thức có thể ẩn chứa ở nhiều dạng khác nhau.
- Nói kĩ năng của con người là nói tới hành động có mục đích, tức khi hành
động, thao tác con người luôn hình dung kết quả đạt tới.
- Để có kĩ năng con người cũng phải biết cách thực hiện hành động trong những
điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình với sự tập luyện nhất định.

Kĩ năng sống là:
- Khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với
những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của
cuộc sống.
Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về KNS. Trong nội hàm kết luận này,
trên cơ sở tiếp thu, kế thừa quan điểm của các tác giả trên, chúng tôi tiếp nhận khái
niệm kĩ năng sống như sau:
Kĩ năng sống là tập hợp các kĩ năng mà con người sử dụng để liên lạc và giao
tiếp với những cá nhân khác xung quanh họ, được hình thành và liên tục phát triển
trong môi trường sống trên cơ sở các giá trị và quy định xã hội nhất định.
Nói cách khác đi, kĩ năng sống là cách một cá thể “sống” giữa các cá thể khác:
Cách bạn hành xử, cách bạn nói năng, thậm chí là cách bạn cảm nhận và nhìn nhận về
một sự vật hay hiện tượng diễn ra trong cuộc sống … 11
1.2.1.3. Khái niệm “Giáo dục kĩ năng sống”
Giáo dục “Kĩ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội
hiện đại. Giáo dục cho trẻ những kĩ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ có
thể chuyển kiến thức, thái độ, cảm nhận thành những khả năng thực thụ, giúp trẻ biết
xử lý hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trong cuộc sống .
Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại chưa có kĩ năng
cuộc sống (Bao gồm rất nhiều kĩ năng) và biết sử dụng linh hoạt kĩ năng này thì không
đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả và có
mối quan hệ tốt với mọi người. Kĩ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để đáp
ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày.
Kĩ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kĩ năng: Kĩ năng giao tiếp ứng xử, kĩ năng
vệ sinh, kĩ năng thích nghi với môi trường sống, kĩ năng hợp tác chia sẻ…
1.2.2. Phân loại kĩ năng sống
* Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi sau

số kĩ năng sống cốt lõi như sau:
- Kĩ năng tự nhận thức
- Tự trọng
- Thể hiện cảm thông
- Có trách nhiệm
- Ứng phó với sự căng thẳng
- Kiểm soát cảm xúc
- Giao tiếp hiệu quả
- Quan hệ của cá nhân với người khác
- Suy nghĩ sáng tạo
- Ra quyết định
- Giải quyết vấn đề
1.2.3. Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
1.2.3.1. Ý nghĩa của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
Kĩ năng sống là cách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn, khỏe
mạnh và hiệu quả. Giáo dục kĩ năng sống nhằm giúp trẻ nâng cao nhận thức, trang bị
thái độ sống và hành vi tích cực, lành mạnh trong mọi hành động.
Kĩ năng sống cần thiết cho mọi người, đặc biệt là đối với trẻ em. Nó giúp trẻ thể
hiện kiến thức, thái độ và các giá trị, hành vi lành mạnh nhằm giảm thiểu các nguy cơ
có hại cho sức khỏe và cải thiện cuộc sống của mình.
Thông qua việc GDKNS trẻ biết mình là ai, mình muốn gì, có mục đích gì trong
cuộc sống, biết dung hòa giữa cái tôi, cái chúng ta, có những chọn lựa và quyết định
đúng trước những biến cố do cuộc sống đưa đến. Để có năng lực tâm lý xã hội này, trẻ 13
được dạy các kĩ năng như: Ý thức về bản thân, thấu cảm với người khác, suy nghĩ sáng
tạo và có phán đoán, truyền thông và giao tiếp có hiệu quả, giải quyết vấn đề, lấy
quyết định, ứng phó với cảm xúc và stress
Phương pháp giáo dục là đặt trẻ trước những tình huống khó để trẻ giải quyết

14
- Kĩ năng ứng xử phù hợp với những người gần gũi xung quanh
- Kĩ năng hợp tác
Kĩ năng sống là một yếu tố quan trọng tác động rất lớn đến hành vi và ý thức
của con người. Vì vậy, việc đẩy mạnh giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non sẽ đóng
vai trò nền tảng trong việc mang lại cho các cháu rất nhiều lợi ích cả về mặt sức khỏe,
giáo dục lẫn văn hóa xã hội. Có kĩ năng sống sẽ giúp các trẻ sớm có một cơ thể cường
tráng, lành mạnh về trí tuệ cũng như thể lực, sớm có ý thức và khả năng thích nghi với
cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho
chính mình cũng như cho cộng đồng.
Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ có thể chú ý đến những nội dung sau:
- Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và
giao tiếp.
- Nhận biết các ưu khuyết điểm của bản thân.
- Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơi công
cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài phố, khi gặp người lạ,…)
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu hình thành
một số kĩ năng sau:
+ Kĩ năng tự phục vụ
+ Kĩ năng tự bảo vệ bản thân
1.2.3.4. Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
Giáo dục kĩ năng sống không phải là nói cho trẻ biết thế nào là đúng, thế nào là
sai, cũng không phải là truyền cho trẻ những lời hay ý đẹp mà sáo rỗng. Mà phương
pháp GDKNS cho trẻ mầm non cần phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm
tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, đáp
ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “học mà chơi, chơi mà học”, chú
trọng đổi mới phương pháp giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực
khám phá, trải nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ. Cần giúp
trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau. Quyết định phải
tự xuất phát từ nhận thức của trẻ.

Trong trường mầm non, việc GDKNS cho trẻ được thực hiện thông qua chế độ
sinh hoạt hằng ngày của trẻ như: đón trẻ, thể dục sáng, giờ hoạt động chung, hoạt động
vui chơi, đi dạo, ăn trưa, ngủ trưa, hoạt động chiều trả trẻ…những hoạt động nối tiếp
nhau và được lặp lại hằng ngày. Thông qua hoạt động hằng ngày cô giáo thực hiện
nhiều yêu cầu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ, dạy trẻ biết quan tâm, tự tin, tự ý thức,
tôn trọng mọi người xung quanh, giáo dục tinh thần tự lực, tự giác, ý thức kỷ luật, trật
tự trong sinh hoạt, hành vi văn minh, giữ gìn vệ sinh, giáo dục tình thương, quan hệ 16
đoàn kết thân ái với bạn bè, biết yêu mến và tôn trọng người lớn, tinh thần chăm sóc
và giữ gìn của công cũng như của riêng mình.
* Thông qua hoạt động vui chơi
Phương pháp giáo dục mầm non chủ yếu là thông qua các hoạt động vui chơi
cho trẻ. Vui chơi là hoạt động chủ đạo trong các trường lớp mầm non, qua vui chơi
giúp trẻ phát triển, trẻ em tiếp thu rất tốt khi vui chơi. Trẻ em học hỏi, tiếp thu hiểu
biết và các kĩ năng căn bản qua các cuộc chơi và các kinh nghiệm đơn giản hằng ngày.
Việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ không chỉ giúp hình thành khả năng vui đùa
mà còn đặt nền tảng khá vững chắc để phát triển những kĩ năng sống.
Các trò chơi đều có tác dụng giúp trẻ lĩnh hội kiến thức như: qua trò chơi phân vai
theo chủ đề, khi chúng ta quan sát một trò chơi rất đơn giản mà trẻ em có thể thực hiện như
trò chơi bán hàng, trẻ đã lĩnh hội được những giá trị nhất định khi phân vai cho chính mình.Ví
dụ: Với trò chơi bé đóng vai làm một bác sĩ, một bác sĩ vẻ mặt nghiêm trang, mời bệnh nhân
vào, để ống nghe lên tai, tay cầm ống nghe ấn vào lưng vào ngực bệnh nhân, nói rằng cháu bị
cảm rồi ghi đơn thuốc và đưa ra những lời dặn dò tỏ vẻ rất thuần thục. Các trò chơi với đất
nặn lại giúp cho trẻ phát huy trí tưởng tượng cũng như kĩ năng khéo léo của bàn tay, hay với
các trò chơi vận động, giúp trẻ phát triển thể lực, biết phối hợp sự vận động, tăng cường khả
năng phản xạ, sự nhanh nhẹn. Chính những trò chơi này đã dạy cho trẻ những kĩ năng sống
rất cần thiết và sự tưởng tượng rất phong phú.
* Thông qua hoạt động học

- Đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi: Nhận thức của trẻ còn mang nặng cảm
tính và tính trực quan hành động nên trẻ chỉ tập trung, chú ý, ghi nhớ và tái tạo những
sự vật hiện tượng mới lạ, hấp dẫn ngộ nghĩnh… Vì vậy, trong giáo dục trẻ cần có
những đồ dùng trực quan đẹp mắt, những tình huống cụ thể…có như vậy những kĩ
năng, kiến thức mới ăn sâu vào tâm trí trẻ.
Trẻ có khả năng tổng hợp, phân tích và khái quát hóa những dấu hiệu bên
ngoài, khả năng vận dụng những điều đã biết vào thực tế cuộc sống được nâng lên sâu
và rộng hơn.
* Yếu tố khách quan
- Qúa trình và môi trường học tập: Môi trường học tập cần phải lành mạnh, an
toàn và có khả năng bảo vệ. Tiếp cận KNS là cách tiếp cận dựa trên cá nhân và khả
năng hành động của người đó. Để cách tiếp cận đó hiệu quả thì cần phải coi trọng môi
trường giáo dục không chỉ trong nhà trường mà còn ở gia đình và trong cộng đồng.
Cần phải kết hợp đào tạo KNS với các điều kiện bổ sung như: chính sách phát triển
một môi trường tâm lý xã hội thuận lợi và gắn với các dịch vụ của cộng đồng. 18
- Gia đình: Gia đình là người đặt nền móng cho mọi sự phát triển của trẻ, chính
vì vậy chúng ta cần phải tạo mọi điều kiện cho trẻ được tham gia vào các hoạt động
cùng mọi người xung quanh trẻ, và phải tạo mọi điều kiện để trẻ có thể trải nghiệm.
- Nhà trường: Điều kiện giáo dục tốt, thì hiệu quả mới cao. Do vậy, nhà trường
cần phải cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết cho quá trình giáo dục
trẻ. Như chúng ta biết, trung tâm của mọi việc giáo dục là sự tương tác giữa người dạy
và người học, điều đó có nghĩa là chất lượng được tạo ra trong quá trình này, để việc
GDKNS cho trẻ có hiệu quả thì người giáo viên cần phải có năng lực, hiểu biết và
phải thường xuyên thay đổi cách dạy, phong cách học, các phương pháp khác nhau để
thu hút sự tham gia của trẻ vào các hoạt động do cô giáo tổ chức.
Bên cạnh đó nhà trường cần chủ động phối hợp với gia đình trẻ, để có sự giáo
dục thống nhất.

1 Em yêu trường lớp em
2 Lớp học của em
3 Khám phá bản thân
4 Nhận thức bản thân
5 Giọng nói trong giao tiếp
6 Cách chào hỏi người lớn
7 Cách chào hỏi bạn bè
8 Vệ sinh thân thể
9 Tư thế, dáng điệu
10 Tính ngăn nắp
11 Tính chính xác
12 Chấp nhận và học từ lỗi lầm
13 Vượt qua nỗi sợ hãi
14 Sự chú ý
15 Sự quan tâm
16 Tự thay áo quần
17 Tự mang giày, dép
18 Sắp xếp đồ dùng cá nhân ngăn nắp
19 Kĩ năng khéo léo của đôi bàn tay
20 Kĩ năng tự chải tóc
Nội dung GDKNS được thể hiện trong chương trình ở tất cả các chủ đề, tổ chức
thông qua các hoạt động giáo dục, đặc biệt là hoạt động KPKH về MTXQ, qua chăm
sóc bảo vệ sức khỏe của trẻ và luôn gắn liền với đời sống của trẻ trong trường mầm
non, ở gia đình và xã hội. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi 20
chỉ tập nghiên cứu nhằm giáo dục cho trẻ có những kĩ năng tự bảo vệ bản thân và kĩ
năng tự phục vụ.
1.3.3. Cơ hội GDKNS cho trẻ thông qua hoạt động KPKH về MTXQ


21
đó cũng là khả năng vận dụng các tri thức khoa học thu thập được vào thực tiễn để có
thể thực hiện tốt một việc gì đó…
Cũng thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh trẻ có thể nhận
thấy rằng: Bằng sự nổ lực và khả năng tìm tòi, học hỏi của mình, trẻ có thể cùng người
lớn góp phần làm đẹp cuộc sống, bảo vệ môi trường xung quanh.
Như vậy, hoạt động KPMTXQ là phương tiện hữu hiệu nhất để GDKNS cho trẻ
5-6 tuổi ở trường mầm non.
1.4. Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi
Từ 0-6 tuổi là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển
chung của trẻ em. L.N.Tônxtôi đã nói về tầm quan trọng của giai đoạn này như sau:
“Tất cả những cái gì mà đứa trẻ đã có, sau này trở thành người lớn đều thu nhận được
trong thời ấu thơ. Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng
một phần trăm những cái đó mà thôi”.
Nhiều công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
và tâm lý học sư phạm đã khẳng định việc dạy học và nâng cao chất lượng việc dạy
học cần phải được xây dựng trên những cơ sở đặc điểm phát triển tâm - sinh lý của trẻ
em. Bên cạnh đó, trẻ thời kì này có đặc điểm là rất dể uốn nắn và có mức độ phát triển
nhanh, chính vì vậy việc giáo dục tạo ra cho trẻ thói quen sống có kĩ năng, có ý thức
đạo đức sẽ rất thuận lợi trong thời kì này.
Sự phát triển tâm sinh lý của trẻ được chia làm 2 phần:
1.4.1. Về quá trình nhận thức trẻ
* Sự phát triển cảm giác, tri giác
Ở tuổi này sự phát triển về cảm giác và tri giác của trẻ phát triển mạnh mẽ.
- Đặc điểm chuẩn lĩnh hội của trẻ mẫu giáo: Lúc đầu trẻ lĩnh hội các biến dạng
cơ bản của mỗi loại thuộc tính, sau đó trẻ học phân loại các biến dạng của chuẩn.
- Sự phát triển hành động tri giác của trẻ mẫu giáo: Dần chuyển hành động định
hướng bên ngoài thành hành động tri giác và tăng khả năng định hướng có mục đích,
tính kế hoạch, có điều khiển trong quá trình tri giác.

thật để giải thích các khái niệm đó.
* Đặc điểm về sự phát triển tình cảm của trẻ mầm non
Trẻ mầm non rất dể xúc cảm và rất nhạy cảm, xúc cảm của trẻ nãy sinh nhanh
chóng và mất đi cũng dể dàng, do đó tình cảm của trẻ chưa ổn định và không bền
vững, mọi hành động của trẻ đều bị chi phối bởi tình cảm.
Tình cảm đạo đức và cảm xúc thẩm mỹ được nãy sinh, phát triển mạnh và luôn
luôn gắn quyện với nhau, trẻ bắt đầu biết rung động trước cái đẹp và yêu thích cái đẹp,
hứng thú tham gia vào các hoạt động nghệ thuật như: múa, hát 23
Trẻ biết nhận biết và thể hiện cảm xúc, tình cảm với con người.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo
nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng, chúng tôi nhận thấy rằng. Việc giáo dục kĩ năng
sống cho trẻ là hết sức cần thiết, do vậy mỗi chúng ta cần có cái nhìn khách quan và
tổng thể về đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ, về mục tiêu, nội dung, phương
pháp, hình thức giáo dục…và các yếu tố khách quan như: gia đình, xã hội… để việc tổ
chức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ đạt kết quả cao hơn, giúp trẻ có kiến thức, kĩ năng
để tham gia vào các hoạt động của xã hội một cách tích cực và có hiệu quả hơn.
Chương 2
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KPKH VỀ MTXQ
2.1. Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu
Tiến hành điều tra thực trạng tổ chức các hoạt động khám phá khoa học nhằm hình
thành kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường Mầm Non Nam Lý. Trường Mầm
Non Nam Lý thuộc Phường Nam Lý, là một Phường trung tâm nằm ở phía Tây của Thành
Phố Đồng Hới, có diện tích gần 3.900ha và dân số có trên 14000 người.
Trường Mầm Non Nam Lý có tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên là
62 người ( biên chế - 46 người: hợp đồng -16 người). Về trình độ đào tạo: Đại học: 44;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status