TRƯỜNG ĐẠI HỌC su ' PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIÈU HỌC
TRƯƠNG THANH LỆ NGỌC
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG s o SÁNH
KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
•
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán Tiểu học
HÀ NỘI, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIÊU HỌC
TRƯƠNG THANH LỆ NGỌC
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG s o SÁNH
KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
Trương Thanh Lệ Ngọc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Một số biện pháp
hình thành kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo nhỡ” là kết quả
nghiên cún của riêng tôi, trên cơ sở giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và tham
khảo các tài liệu có liên quan.
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của mình không trùng với kết quả
nghiên cún của các tác giả khác. Neu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, thảng 5 năm 2015
Sinh viên
Trương Thanh Lệ Ngọc
MỤC LỤC
PHẰN MỞ ĐẰU..................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cún.................................................................................... 1
3. Đối tượng nghiên cứu................................................................................... 1
4. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................... 1
5. Giả thuyết khoa h ọ c.................................................................................... 2
6. Nhiệm vụ nghiên cún.................................................................................. 2
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
8. Cấu trúc luận văn.........................................................................................3
NỘI DUNG......................................................................................................... 4
Chương 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN............................................. 4
kĩ năng so sảnh kích thước cho trẻ.............................................................26
2.2. Mối quan hệ giữa các biện pháp dạy học trên và điều kiện để
thực hiện các biện pháp dạy học đó..............................................................29
2.3. Quy trình hình thành kĩ năng so sánh kích thước của trẻ
mẫu giáo nhỡ..................................................................................................31
Tiểu kết chương 2.............................................................................................. 34
KẾT LUẬN........................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................37
PHÀN MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là một bậc học nằm trong hệ thống giáo dục của
nhà nước, là ngành học đầu tiên đặt nền tảng cho việc giáo dục trẻ. Mục
tiêu của giáo dục mầm non là: giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ vào lớp một.
Trong chương trình giáo dục mầm non, việc dạy trẻ hình thành biểu
tượng toán học sơ đẳng nói chung và dạy trẻ hình thành kĩ năng so sánh kích
thước vật thể nói riêng là một trong nhũng nhiệm vụ quan trọng, tạo cơ sở
nền móng cho trẻ học tập nói chung và học toán nói riêng ở trường phô
thông sau này.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay giáo viên mầm non chưa chú ý nhiều
đến việc sử dụng các biện pháp tối ưu để hình thành có hiệu quả kĩ năng so
sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo nhỡ trong hoạt động làm quen với toán. Do
đó để đáp ứng yêu cầu của lý luận và thực tiễn như trên mà tôi mạnh dạn chọn
đề tài: “Một số biện pháp hình thành kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ
mẫu giáo nhỡ” để nghiên cún.
2. Mục đích nghiên cứu
Đe xuất một số biện pháp hình thành kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ
năng so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo nhỡ qua hoạt động làm quen với
toán đã xây dựng.
7. Phưcmg pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên CÚOI các tài liệu (sách, báo, tạp chí...) có liên quan đến đề tài
nghiên cứu đế xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
- Phương pháp quan sát
+ Dự giờ các hoạt động học toán có chủ đích và quan sát quá trình thực
2
hiện kĩ năng so sánh kích thước của trẻ mẫu giáo để nghiên cứu mức độ thực
hiện kĩ năng này của trẻ.
+ Quan sát, ghi chép các biện pháp sư phạm mà giáo viên mầm non sử
dụng để hình thành kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ trong các hoạt động
học toán có chủ đích.
- Phương pháp điều tra
Điều tra bằng phiếu Ankét với các giáo viên mầm non để nắm bắt được
thực trạng nhận thức của giáo viên về việc hình thành kĩ năng so sánh kích
thước cho trẻ.
- Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên mầm non để tìm hiếu nhận thức và những biện
pháp giáo viên sử dụng nhằm hình thành kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ
trong hoạt động học toán có chủ đích. Đồng thời, tìm hiểu nhu cầu, nguyện
vọng của họ để tìm ra một số biện pháp hình thành kĩ năng so sánh kích thước
cho trẻ đạt hiệu quả hơn.
- Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi, tính hiệu quả
của các biện pháp hình thành kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ đã xây dựng.
Thế chất, trí tuệ, tính khéo léo phát triển hơn nên trẻ hiếu động.
- Hệ cơ quan trong cơ thể dần hoàn thiện và phát triển đặc biệt hệ thần
kinh và hệ tuần hoàn.
- Ớ thời kì này trẻ có sự phát triển tốt về sức khỏe, là yếu tố quan trọng
có ảnh hưởng đến hoạt động nhận thức của trẻ.
4
1.2. Một số vấn đề về kĩ năng so sánh kích thước
1.2.1. K ĩ năng
Khi nói đến kĩ năng chúng ta thường nghĩ đến các kĩ năng như kĩ năng
đọc, kĩ năng viết, kĩ năng nói... hay kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng giao tiếp,
kĩ năng tổ chức... Tuy nhiên, để có một khái niệm đúng đắn về kĩ năng thì
cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Từ các khái niệm đa dạng về kĩ năng của
các nhà tâm lí học và giáo dục học có hai khuynh hướng quan niệm về kĩ
năng như sau:
* Khuynh hưóĩig thứ nhất: Quan niệm kĩ nẫng nghiêng về mặt kĩ thuật
của hành động. Các tác giả tiêu biểu của khuynh hướng này là: V. X. Rudin,
V. A. Krutreski, p. A. Ruđich, Trần Trọng Thủy, Hà Nhật Thăng,....
- Theo V. X. Ruclỉn: Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động đã
được con người nắm vũng.
- V. A. Krutreskỉ quan niệm: Kĩ năng là thực hiện một hoạt động nào đó
nhờ sử dụng thủ thuật, những phương thức đúng đắn.
- p. A. Ruđich cho rằng: Kĩ năng là động tác mà cơ sở của nó là sự vận
dụng vào thực tế các kiến thức đã thu được để đạt được kết quả trong một
hình thức hoạt động cụ thể.
- Theo Trần Trọng Thủy: Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động,
con người nắm được cách thức hành động tức là có kĩ thuật hành động và
có kĩ năng.
Như vậy, các tác giả theo khuynh hướng này đều xem xét kĩ năng thuộc
về năng lực của con người. Họ cho rằng kĩ năng của con người không chỉ đơn
thuần về mặt kĩ thuật mà còn thuộc về năng lực của con người và khi đánh giá
kĩ năng thực hiện một hành động nào đó phải xem xét đến kết quả thực hiện.
Tóm lại, tù’ việc tìm hiểu các khái niệm về kĩ năng như trên chúng tôi
thiên về khuynh hướng thứ hai đó là xem xét kĩ năng thuộc về năng lực của
con người. Từ đây chúng tôi quan niệm rằng: K ĩ năng là khả năng con người
6
có thê thực hiện đủng một hành động nào đó trong thực tiên dựa trên những
hiếu biết, tri thức, kinh nghiêm mà bản thãn tích lũy được.
1.2.2. So sánh
Theo X. L. Rubinstein: “Hạt nhân của hoạt động trí tuệ là các thao tác
tư duy: Phần tích, tong hợp, so sảnh, khải quát hóa...
Chính vì thế, so sánh
là một trong những kĩ năng quan trọng thường xuyên diễn ra trong quá trình
hoạt động trí tuệ của con người. Bởi lẽ, để nhận biết được cái này giống hay
khác với cái kia thì trong đầu óc của con người diễn ra quá trình so sánh. Vậy
để hiểu so sánh là gì chúng ta tìm hiểu một số khái niệm cơ bản sau:
- So sánh là nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau,
khác nhau hoặc sự hơn kém.
- So sánh là đối chiếu, xem xét coi cái bên nào hơn, bên nào kém.
- So sánh - một trong những thao tác tư duy làm chức năng đối chiếu
các đối tượng để phát hiện ra những nét khác nhau giữa chúng.
- Grant Evans coi so sánh là “một cách nhận thức”, “không chỉ để hiểu
những sự khác biệt.. mà còn để thấy những sự tương đồng”.
nhỡ trong hoạt động làm quen với toán là: Khả năng mà trẻ biết vận dụng
những kiến thức toán học sơ đấng đã nắm được đê phân biệt sự giống và khác
nhau về các dấu hiệu toán học và mối quan hệ toán học có trong các sự vật,
hiện tượng xung quanh trẻ.
1.3. Vai trò của kĩ năng so sánh đối vói sự phát triến các quá trình nhận
thức của trẻ mẫu giáo
So sánh là một trong những kĩ năng quan trọng của quá trình nhận thức
nói chung và tư duy nói riêng. Không có so sánh thì không có sự nhận thức,
không có hiện tượng tư duy và không có sự dạy học. Nhờ có so sánh mà con
người không những tìm thấy các dấu hiệu bản chất giống và khác nhau của sự
vật, hiện tượng mà còn tìm thấy các dấu hiệu không bản chất của chúng.
Với trẻ em, kĩ năng so sánh giúp cho chúng hiểu biết hơn về thế giới
xung quanh, nhận ra sự đa dạng, phong phú mà sự vật, hiện tượng xung quanh
đem lại cho chúng. Khi diễn ra quá trình so sánh trẻ không chỉ nhận ra các
dấu hiệu bên ngoài mà còn biết được các dấu hiệu bên trong để tách bạch rạch
ròi sự vật này với sự vật kia. Chính vì thế trí tuệ trẻ ngày càng phát triến, tri
thức đến với trẻ ngày càng phong phú hơn.
- So sảnh với quả trình tri giác, biếu tượng
So sánh giúp cho chúng ta tri giác sự vật, hiện tượng chính xác hơn. Tri
giác là sự phản ánh sự vật, hiện tượng cùng toàn bộ các thuộc tính của chúng
trong lúc chúng tác động lên các giác quan của mỗi con người. Chính nhờ quá
trình so sánh mà các giác quan của chúng ta không bị nhầm lẫn giữa sự vật
này với sự vật kia.
Ví dụ: Khi nhìn một cái cây chúng ta cảm nhận được thuộc tính riêng
về: Màu hoa, kiểu dáng (to hay nhỏ, cao hay thấp), kiểu lá... tri giác nó như
một vật khác biệt với các cây khác ở tất cả các đặc điểm về màu hoa, kiểu
dáng, kiểu lá...
Mặt khác, đối với biểu tượng, khi chúng ta nhớ lại các sự vật, hiện
xác nhất.
Bên cạnh đó so sánh là cơ sở của mọi sự phân hóa, phân loại và hệ
thống hóa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Khi sử dụng so
sánh, con người nhận biết được các đặc điểm của mỗi đối tượng mới và của
nhóm đối tượng, phân loại được chúng trong thế giới khách quan. Đối với trẻ
mẫu giáo, trên cơ sở các đối tượng trẻ lĩnh hội được các khái niệm “bằng
nhau”, “nhiều hơn” và “ít hơn”.
Ngoài ra, so sánh còn là chỗ dựa có ý nghĩ và ngôn ngũ’, nó giúp cho sự
phân biệt của con người trở nên tinh tế, chính xác hơn.
Như vậy, so sánh có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển tư duy của
con người nói chung và trẻ em nói riêng. So sánh giúp cho quá trình tư duy
chính xác hơn, giúp cho con người phản ánh đúng đặc điếm bản chất và
không bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh.
- So sảnh với sự phát trỉến ngôn ngữ:
10
So sánh và ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chính nhờ quá
trình so sánh giúp cho đứa trẻ có vốn tù’ đa dạng hơn, hiểu nghĩa của nhiều từ
và biết vận dụng chúng cho phù họp với hoàn cảnh cụ thể.
So sánh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển các quá
trình nhận thức của con người nói chung và trẻ em nói riêng.
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng so sánh của trẻ
mẫu giáo nhỡ
* Các yếu tố khách quan:
- Môi trưòĩig hoạt động: Môi trường hoạt động bao gồm môi trường vật
chất và môi trường tâm lí. Môi trường có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và
phát triển kĩ năng so sánh kích thước của trẻ. Trẻ tiếp thu tri thức và hình
thành kĩ năng thông qua sự tác động của môi trường, môi trường tạo điều
- Tính tích cực họat động của cả nhân trẻ
Đe có được kĩ năng bền vững cần có sự nỗ lực, tích cực của bản thân
trẻ. Trẻ phải tự mình rèn luyện, tự’ mình hoạt động khám phá, tìm tòi, giáo
viên chỉ là người hướng dẫn, giúp đỡ khi cần thiết thì kĩ năng mới phát triển
thành thạo, thực hiện chính xác, ứng dụng tốt trong mọi trường hợp.
Như vậy, khi đề ra các biện pháp để hình thành kĩ năng so sánh kích
thước cho trẻ trong hoạt động làm quen với toán chúng ta cần dựa vào các
quá trình hình thành kĩ năng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ
năng ở trẻ.
1.5. Đặc điếm hình thành kĩ năng so sánh kích thước của trẻ mẫu giáo
nhõ’
Trẻ mẫu giáo nhỡ đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm tri giác kích
thước các vật, khả năng cảm nhận, ước lượng kích thước của trẻ đã tốt hơn.
Trong quá trình nhận biết, phân biệt kích thước của các vật không chỉ có sự
tham gia tích cực của các giác quan như: thị giác, xúc giác,... mà còn có sự
kết hợp của các kĩ năng tư duy như: so sánh, phân tích, tổng hợp...
12
Trẻ lứa tuổi này đã có khả năng phân biệt được các chiều đo kích thước
của các vật như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao nếu những chiều đo đó là nổi
bật. Trẻ đã nắm được các tù’ diễn đạt các chiều đo kích thước khác nhau, trẻ
không chỉ thường xuyên sử dụng chúng mà còn sử dụng chúng một cách
chính xác hơn. Trẻ có khả năng nhận biết sự khác biệt về kích thước của 2 - 3
vật có độ chênh lệch nhỏ. Khả năng ước lượng kích thước của các vật ngày
càng phát triển ở trẻ dưới tác động dạy học của người lớn. Trẻ dễ dàng nắm
được các biện pháp so sánh giữa các đối tượng như: xếp chồng, xếp cạnh.
13
14
làm cho kết quả hình thành thành kĩ năng so sánh kích thước ở trẻ mẫu giáo
nhỡ chưa cao.
- Ket quả điều tra mức độ hình thành kĩ năng so sánh kích thước của trẻ
mẫu giáo nhỡ trong hoạt động làm quen với toán dưới sự tác động của các
biện pháp hiện nay là chưa cao, tỷ lệ thực hiện kĩ năng so sánh kích thước của
trẻ ở mức trung bình và kém chiếm đa số.
- Những kết luận trên chính là cơ sở lí luận và thực tiễn để tôi làm căn
cứ cho quá trình xây dựng các biện pháp nhằm hình thành kĩ năng so sánh
kích thước cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
15
Chương 2
ĐỀ XUẤT MỘT SÓ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KĨ NĂNG s o SÁNH
KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỞ
2.1. Biện pháp hình thành kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo nhõ’
2.1.1.
Sử dụng tình huống có vấn đề nhằm tạo nhu cầu, tâm thế so sánh
kích thước cho trẻ
Tình huống có vấn đề là một hoàn cảnh có mâu thuẫn và trẻ phải suy
nghĩ tích cực để giải quyết mâu thuẫn đó.
2.2.1. ỉ. Mục đích
- Giúp cho đứa trẻ tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo trong việc tìm
Đây là bước tạo tình huống có vấn đề do giáo viên đặt ra khi lập kế
hoạch tổ chức hoạt động làm quen với toán cho trẻ. Giáo viên nêu vấn đề và
nói vấn đề trẻ cần giải quyết.
Vỉ dụ 1: Để hình thành kĩ năng so sánh chiều cao hai đối tượng giáo
viên tạo tình huống cho trẻ hái quả trên cây, trẻ không hái được, cô hái quả hộ
trẻ và cô hái được, vậy tại sao cô hái được quả mà trẻ không hái được quả?
Ví dụ 2: Đe hình thành kĩ năng so sánh chiều dài hai đối tượng giáo
viên nêu vấn đề: “Hôm nay, bạn Thỏ Trắng tặng lóp chúng mình 2 dải lụa
màu xanh và màu đỏ rất đẹp nhưng cô không biết dải lụa nào dài hơn. Vậy
theo các con chúng ta làm thế nào để biết được dải lụa nào dài hơn?”
- Bước 2: Giải quyết vấn đề đặt ra
Giáo viên nên khuyến khích trẻ tự’ nêu ra cách giải quyết vấn đề để kích
thích trẻ suy nghĩ, tìm tòi ra phương thức giải quyết mới trong các tình huống
cụ thể. Ở những tình huống có nhiều mâu thuẫn và khó đối với trẻ (sau khi
khuyến khích, động viên, gợi ý mà thấy chưa có trẻ nào giơ tay phát biểu ý
17
kiến) giáo viên có thể tự đưa ra cách giải quyết vấn đề và cho trẻ đánh giá,
thực hiện cách giải quyết đó. Đồng thời, gơi ý, khuyến khích trẻ đưa ra giải
quyết khác so với cách của cô. Sau khi đã tìm được các giả thuyết đế giải
quyết vấn đề trên thì cô và trẻ cùng nhau chứng minh giả thuyết đó xem thử
đúng hay sai.
Ví dụ: Với vấn đề đặt ra ở trên, giáo viên mời trẻ nêu ý kiến của mình
để tìm ra dải lụa nào dài hơn dải lụa còn lại. Gọi một trẻ đứng dậy phát biểu
xem dải lụa nào dài hơn? Trẻ có thế phát biểu ngẫu nhiên là dải lụa màu xanh
dài hơn dải lụa màu đỏ. Làm thế nào để chứng minh giả thuyết trẻ nêu ra là
đúng hay sai? Trẻ đề xuất là xếp chồng dải lụa màu xanh lên dải lụa màu đỏ.
- Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
trong cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết. Trẻ giải quyết vấn đề, tự
đánh giá chất lượng, hiệu quả. Giáo viên chỉ có ý kiến bổ sung khi cần thiết.
2.2.1.5. Điều kiện thực hiện
- Giáo viên phải nắm được đặc điểm nhận thức, đặc điểm tâm sinh lí
của trẻ và nắm được vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tình huống có vấn đề để
thiết kế các tình huống cho phù hợp với trẻ.
- Giáo viên phải biết thiết kế các hoạt độngcó sửdụng tình huống tình
huống có vấn đề, đồng thời, các tình huống được thiết kế nhằm mục đích phát
triển và hình thành kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ.
- Tình huống thiết kế phải gần gũi với kinh nghiệm của trẻ và bắt buộc
trẻ phải sử dụng các kĩ năng tư duy như: phân tích, tổng họp, so sánh...
- Giáo viên phải tạo được cơ hội cho trẻ tụ’ pháthiệnvà giải quyết tình
huống do cô đưa ra hoặc tình huống có trong thực tiễn.
- Trẻ phải có vốn tri thức, kinh nghiệm cần thiết đế giải quyết tình
huống do đặt ra.
- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi, vật liệu cần thiết để đáp ứng tốt
việc giải quyết tình huống.
19