SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM về BIỆN PHÁP rèn LUYỆN kỹ NĂNG vận ĐỘNG cơ bản CHO TRẺ mẫu GIÁO - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP.THANH HÓA
TRƯỜNG MẦM NON TƯỢNG LĨNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CHO TRẺ MẪU GIÁO

Họ và tên :
Chức vụ:
Trường:
THANH HÓA, THÁNG 11 NĂM 2014
-1-
PHẦN MỞ ĐẦU
Đất nước ta tiến hành Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa trong bối cảnh
chính trị - xã hội ổn định. Sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đòi hỏi
phải có một nguồn nhân lực dồi dào, có lòng yêu nước, có trình độ khoa học
công nghệ cao cùng với các phẩm chất nhân cách phù hợp. Con người đó phải
là con người có sức khỏe, con người công nghệ, con người tri thức…là mô
hình nhân cách con người Việt Nam mà giáo dục (GD) phải đào tạo ra. Như
vậy, GD Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu mới của xã hội phải xây
dựng con người có phẩm chất, năng lực, vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời
Bác Hồ đã căn dặn.
Rèn luyện KNVĐCB của trẻ MN nói chung và trẻ MG 3 – 4 tuổi nói
riêng làm thỏa mãn nhu cầu hoạt động của trẻ, tăng cường thêm sức khỏe, cơ
thể phát triển cân đối, hài hòa, tạo điều kiện phát triển ở trẻ sự cứng cáp của
cơ bắp và niềm vui trong hoạt động. Hoạt động đó có liên quan chặt chẽ với
quá trình GD nhằm mục đích phát triển thể chất, GD các phẩm chất tâm lý,
hình thành nhân cách…để tạo dần nên sự hoàn thiện mọi mặt cho trẻ.
Thế nên rèn luyện KNVĐCB cho trẻ được tiến hành thông qua tất cả
các hình thức hoạt động như: hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, dạo
chơi, tham quan, lao động…Trong đó hoạt động ngoài trời (HĐNT) rất tốt

1.1.1. Một số nghiên cứu nước ngoài
Con người từ thủa bình minh đã quan tâm đến việc rèn luyện thể chất,
rèn luyện các KNVĐCB. Nhìn tổng quát, có hai nền văn minh: Phương
Đông và Phương Tây.
Cùng phát triển với nền văn hóa, việc rèn luyện thể chất của các nước
Phương Đông có lịch sử hàng mấy ngàn năm. Xuất phát từ triết học Phương
Đông với nền tảng học thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Bát quái, mục tiêu
rèn luyện thể chất là rèn luyện con người toàn diện: thể lực, trí tuệ, khí
-4-
phách, v.v… tạo nên sức mạnh tổng hợp. Như Hoa Đà – danh y nổi tiếng của
Trung Quốc ở thế kỉ II đã nói: “VĐ giúp khí huyết lưu thông và ngăn ngừa
bệnh tật”. [44, 52]
Phương Tây cổ đại, Hy Lạp cổ chia ra nhiều thành bang như Athens,
Sparta, Thebes… Trong đó thành bang Sparte chú trọng đến rèn luyện thể
chất, chủ yếu rèn luyện KNVĐCB cho trẻ em từ thời thơ ấu bằng con đường
kinh nghiệm. Những trẻ khỏe mạnh, cứng cáp và có khả năng chống đỡ được
các tác nhân của môi trường xung quanh thì để nuôi, trẻ ốm yếu bị thủ tiêu.
Lúc bấy giờ các nhà triết học, các nhà GD chưa hiểu được các quy luật hoạt
động của cơ thể, chưa thể giải thích được cơ chế tác động của các bài tập rèn
luyện KNVĐCB do đó đánh giá hiệu quả của các bài tập theo kết quả bên
ngoài (đúng hơn, thuần thục hơn, kĩ thuật hơn, có nhiều kĩ năng hơn…). Sau
đó họ đã biết liên kết các biện pháp rèn luyện KNVĐCB cụ thể, cũng như
các biện pháp rèn luyện và phát triển sức nhanh, sức mạnh, sức bền…thành
một hệ thống thống nhất. Mục tiêu của nền GD này là đào tạo các chiến binh
phục vụ cho các cuộc chinh chiến thế nên quá trình rèn luyện các kĩ năng
chiến đấu như đi, chạy, lăn, bò, trườn, kĩ năng sử dụng vũ khí… được đặt lên
hàng đầu. [39]
Nhà sư phạm Tiệp Khắc kiệt xuất – J.A. Cômenxki (1592 – 1670) đã
đặt cơ sở cho khoa học sư phạm. Ông cho rằng nguyên tắc phù hợp với tự
nhiên là nguyên tắc cơ bản của hệ thống GD của mình. Theo ý kiến của ông,

KNVĐCB… của mình với sự tiêu hao năng lượng ít nhất mà giành được kết
quả tốt nhất. Trẻ em nên rèn luyện kĩ năng tự lĩnh hội các bài tập VĐ và các
VĐ này được áp dụng trong các điều kiện khác nhau dưới các hình thức khác
nhau. [39]
Theo tác giả I.K.Khai-li-sốp trong cuốn GD thể dục cho thiếu nhi
trong gia đình, ở vườn trẻ, lớp MG coi GD thể chất là bộ phận không thể
-6-
tách rời của nền GD, hướng đến rèn luyện cho trẻ các KNVĐCB và khả
năng phối hợp giữa các KNVĐCB với nhau. Ông đặc biệt quan tâm đến việc
rèn luyện thân thể qua chế độ sinh hoạt hàng ngày, “giờ bài tập”, trò chơi,
hoạt động dạo chơi, các yếu tố thiên nhiên vô sinh … một cách có hệ thống.
Các hoạt động đó không chỉ diễn ra ở nhà trường hoặc cơ quan GD nào khác
mà chính các bậc phụ huynh phải hết sức chú ý đến việc rèn luyện các
KNVĐCB cho trẻ. [17]
Maria Montessori (1896 – 1952) bác sĩ, nhà tâm lí GD của nước Ý.
Dựa trên nền tảng của tâm lí học phát triển và lý thuyết học, bà cho rằng trẻ
em là một chủ thể tích cực, chủ động, tự lựa chọn nội dung học tập của mình
một cách độc lập. Hình thức học này gọi là “hoạt động tự do”, “vui chơi tự
do”. Trong quá trình CS GD trẻ em bà đưa ra 8 nguyên tắc cho phương pháp
GD của mình. Trong đó nguyên tắc “VĐ và nhận thức” được nhắc đến đầu
tiên. Bà nhấn mạnh đến việc trẻ chỉ được phát triển khi trẻ VĐ và tự VĐ. Bà
cho rằng VĐ và nhận thức có mối quan hệ với nhau, suy nghĩ và VĐ là một
quá trình. Những điều này cho thấy rằng GD nên tăng cường các hoạt động
VĐ để mở đường cho hoạt động nhận thức. [48]
Trong cuốn “Thể dục thể thao nhi đồng trước tuổi học” của tác giả
Lưu Tân – người Trung Quốc đã chỉ ra 4 mặt của bài tập động tác: bài tập
động tác cơ bản, bài tập thể dục cơ bản, trò chơi VĐ và các hoạt động VĐ
với dụng cụ. Trong đó rèn luyện các bài tập động tác cơ bản là mục tiêu, nội
dung quan trọng và là biện pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ hoạt động thể
dục thể thao. Theo ông hoạt động này có thể rèn luyện toàn bộ cơ thể một

trò chơi và HĐNT dựa trên những đặc điểm về sinh lý học, tâm lý học của các
em MG. Trong đó ông xem HĐNT như là một phương tiện để GD KNVĐCB
cho trẻ thế nên không nhất thiết phải gò trẻ vào kĩ thuật VĐ chính xác mà cần
-8-
thiết là trẻ được VĐ cơ bản nhiều và VĐ một cách tự nhiên trong môi trường
thiên nhiên.[11]
Trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thể dục thể thao” của tác giả
Trương Quốc Yên đã cho chúng ta thấy quan điểm của Hồ Chí Minh – nhà
văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới về vấn đề rèn luyện thể chất
trong nhà trường và ngoài xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi GD và rèn
luyện thể chất là một mặt cần thiết, quan trọng như các mặt GD khác. Người
khẳng định nó đem lại cho tuổi trẻ sức khỏe, mà sức khỏe là cái quý nhất của
con người. Cho nên phải rèn luyện sức khỏe ngay từ lứa tuổi nhỏ và những
kĩ thuật động tác phải phù hợp với đặc điểm sinh lý, cấu trúc cơ thể và độ
tuổi của con người. [52]
Trong luận án Tiến sĩ của tác giả Đặng Hồng Phương: “Nghiên cứu
phương pháp dạy học bài tập VĐ cơ bản cho trẻ MG lớn (5 – 6 tuổi)” đã đi
sâu nghiên cứu và đề xuất các phương pháp dạy học bài tập VĐ cơ bản cho
trẻ. Bà quan tâm đến bài tập VĐ và trò chơi VĐ từ đó đưa ra 4 nhóm phương
pháp trong đó phương pháp ôn luyện KNVĐ cũ và xem yếu tố chơi, thi đua,
chia nhóm như là phương tiện, hình thức tạo cơ hội cho trẻ được tích cực VĐ,
rèn luyện KNVĐCB, giải quyết tình trạng nhiều trẻ trong một lớp học. [27]
Nguyễn Thị Tuyết Ánh với luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu “Một số
biện pháp tổ chức HĐNT nhằm phát triển thể lực cho trẻ 5 – 6 tuổi”. Tác giả
đã đề cập và đưa ra các biện pháp: chọn lựa trò chơi phù hợp nhằm phát triển
thể lực, lập kế hoạch, tạo môi trường, phương tiện phong phú, đánh giá trẻ
trong HĐNT, tăng cường rèn luyện có hệ thống các KNVĐ là những biện
pháp có tính chất quyết định đến sự phát triển các KNVĐCB. Đây là cơ sở
để giúp trẻ tự tin, hứng thú với hoạt động, thích tham gia vào hoạt động. [1]
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu lý luận - thực tiễn trong và

-10-
Ở góc độ giáo dục học, VĐ có trong tất cả mọi hoạt động của con
người, nó có tác động tốt lên cơ thể nếu đúng tư thế và vừa sức. VĐ là sự tác
động tích cực của các cơ quan VĐ của con người, phương tiện cơ bản, đặc
biệt của quá trình GD thể chất. Chúng ta GD thể chất cho trẻ chủ yếu là
thông qua hoạt động tự VĐ của trẻ. [29], [39]
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Lân thì VĐ được hiểu là sự thay đổi
chỗ hay tư thế của toàn bộ hay một phần thân thể. VĐ là điều kiện giữ gìn sức
khỏe.[19]
Vậy, có thể nói: Từ khi trẻ mới sinh ra, trẻ luôn thích hoạt động, VĐ
tích cực. VĐ là sự chuyển động của cơ thể con người. Trong đó có sự tham
gia của hệ cơ, hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh. VĐ làm cho cơ
thể trẻ phát triển đều đặn, cân đối, sức khỏe được tăng lên làm cơ sở cho sự
phát triển toàn diện nhân cách con người.
* Nội dung phát triển vận động
Phát triển các nhóm cơ: Cơ hô hấp, tay vai, cơ chân, cơ lưng, cơ
bụng…
Phát triển các VĐ cơ bản (VĐ thô): Đi, chạy, nhảy, thăng bằng, leo
trèo… Trẻ thực hiện các VĐ theo nhạc, nhịp điệu và hiệu lệnh bằng lời, với
các dụng cụ như bóng, dây, gậy, vòng…
Phát triển các VĐ tinh: VĐ của bàn tay, sự khéo léo của các ngón tay,
phối hơp VĐ mắt – tay và kĩ năng sử dụng các đồ dùng, dụng cụ (kéo, bút, đồ
chơi…)
*Cơ sở sinh lý của sự hình thành thói quen VĐ ở trẻ
Qua nghiên cứu học thuyết của I.P.Páp-Lốp về sự hoạt động của hệ
thần kinh cao cấp, quá trình hình thành những thói quen VĐ cơ bản đúng đắn
của trẻ sẽ là cơ sở để tiếp tục phát triển và hoàn thiện chúng ở lứa tuổi tiếp
theo. Cơ sở sinh lý của việc hình thành những thói quen VĐ là quá trình hình
-11-
thành kĩ năng, kĩ xão VĐ. Quá trình này diễn ra theo các giai đoạn liên tục

nhiệm vụ giáo dưỡng và GD trong quá trình GD thể chất cho trẻ. [26]
* Ý nghĩa
Khi thực hiện bài tập VĐ cơ bản sẽ thu hút đa số các nhóm cơ bắp
hoạt động, đẩy mạnh quá trình hoạt động sinh lý và nâng cao hoạt động sống
của toàn bộ cơ thể. Như vậy qua luyện tập bài tập VĐ cơ bản giúp hoàn thiện
khả năng làm việc của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, củng
cố và phát triển cơ bắp, rèn luyện, hình thành các tư thế đúng… Nó có tác
dụng tốt tới sức khỏe và phát triển thể lực, tạo điều kiện phát triển các tố chất
nhanh, mạnh, khéo…
Ngoài ra, các bài tập VĐ cơ bản còn có tác dụng:
+ Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng trong không gian: sự định
hướng trong khi VĐ, vị trí để các dụng cụ, mối quan hệ giữa các vật trong
không gian, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt.
+ Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng về thời gian: sự lâu dài –
kéo dài của việc thực hiện VĐ, tính thứ tự của những giai đoạn riêng biệt của
VĐ, thực hiện VĐ theo nhịp điệu cho sẵn hay theo nhịp điệu cá nhân…
+ Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng trong hoạt động tập thể: vị
trí của mình trong đội hình chung.
Bài tập VĐ cơ bản góp phần GD thẩm mỹ cho trẻ, GD về cái đẹp khi
VĐ, tính chính xác và tính biểu cảm.
* Phân loại các bài tập vận động cơ bản. [8], [26], [27]
Số lượng các bài tập thể dục cho trẻ vô cùng nhiều và đa dạng, nên
cần phải có sự phân loại. Trên cơ sở đó đề ra phương pháp biện pháp để rèn
luyện phù hợp với độ tuổi của mỗi trẻ.
V.X.Pharphen đã tiến hành phân loại các bài tập VĐ cơ bản:
-13-
Dựa vào tình huống diễn ra ông chia thành bài tập chuẩn và bài tập
không chuẩn.
+ Bài tập chuẩn: người tập biết trước được trình tự và hình thức tiến
hành các động tác. Các bài tập chuẩn cũng rất phong phú: đi chạy, nhảy…

thăng bằng; bật, nhảy; ném, chuyền, bắt; bò, trườn, trèo. Trong khuôn khổ luận
văn, chúng tôi chỉ quan tâm đến việc rèn luyện “VĐ đi”, “VĐ chạy” và “thăng
bằng” cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.
1.2.3. Kĩ năng vận động cơ bản
Tất cả các hoạt động con người, bao gồm cả hoạt động VĐ đều là
phản xạ. Do yêu cầu, mục đích của VĐ và để thích nghi với điều kiện sống,
các phản xạ VĐ được phối hợp lại với nhau thành một tổ hợp các động tác
có ý nghĩa và trở thành kĩ năng.
Khi những động tác thực hiện chuẩn xác, nhịp nhàng sẽ được gọi là kĩ
năng. Khái niệm kĩ năng đã nói lên thói quen và phải trải qua một thời gian
nhất định. Thế nên KNVĐ của trẻ em đuợc hình thành phải thông qua quá
trình tập luyện thường xuyên.
Kĩ năng VĐ là một hình thức hành động, được hình thành theo cơ chế
phản xạ có điều kiện, nhờ quá trình luyện tập thường xuyên. Hay nói cách
khác:
* Kĩ năng vận động: là khả năng VĐ ở mức độ cần phải tập trung chú
ý cao vào từng chi tiết của bài tập VĐ, các chi tiết của bài tập VĐ được
luyện chưa liên tục, chưa nhuần nhuyễn, chưa đảm bảo độ bền vững. [41]
* Bản chất của kĩ năng vận động
Nhà sinh lý học người Nga Pavlov đã chỉ ra rằng trong quá trình hình
thành các dạng hoạt động hay hình thành phản xạ có điều kiện phải có sự
hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa các vùng khác nhau trên vỏ
bán cầu đại não. Mà hoạt động bình thường của vỏ não là kết quả của hai quá
-15-
trình hưng phấn và ức chế. Đường liên hệ thần kinh tạm thời được củng cố
bằng những kích thích có điều kiện thông qua quá trình luyện tập. Hay nói
một cách khác phản xạ có điều kiện là mối liên lạc giữa cơ thể và môi
trường. Phản xạ có điều kiện cần có một quá trình xây dựng trong đời sống,
trong luyện tập để hình thành đường liên hệ tạm thời.
Quá trình hình thành phản xạ có điều kiện ở người và động vật thí

giá và các cách thức thực hiện động tác, tức là phải tư duy một cách tích cực.
* Đặc điểm tiếp thu kĩ năng vận động cơ bản ở trẻ em
Trong quá trình tập luyện, trẻ ở lứa tuổi này rất khó để thực hiện các
động tác thực tập ngay được. Quá trình hình thành động tác ở trẻ tuân theo
quy luật từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực
tế cho thấy muốn hình thành động tác một cách chuẩn xác phải dựa trên
những động tác đơn giản hoặc những động tác đã được tiếp thu từ trước
Ở những kĩ năng nhiều thành phần thì không phải là mới hoàn toàn mà
có những động tác đã được học từ trước.
Như vậy, muốn tiếp thu được các kĩ năng động tác phức tạp phải dựa
trên cơ sở lưu dấu vết của những động tác đã có trước. Khi cần phải tiếp thu
các kĩ thuật VĐ phức tạp mà thành phần của chúng có nhiều động tác mới lạ,
thường phải sử dụng các bài tập hỗ trợ, chuẩn bị xây dựng kĩ năng theo từng
phần. Tóm lại muốn xây dựng những kĩ năng động tác phức tạp phải dựa
trên cở sở của sự tiếp thu những động tác đơn giản. Ví dụ: Kĩ năng đi được
hình thành trên cơ sở kĩ năng đứng, kĩ năng chạy được hình thành trên cơ sở
kĩ năng đi.
Trong thực tế cho thấy, có nhiều trường hợp các KNVĐCB được củng
cố vững chắc không những không góp phần thúc đẩy, mà ngược lại còn cản trở
sự hình thành kĩ năng động tác mới. Nhất là trong trường hợp cấu trúc động tác
-17-
mới làm thay đổi kĩ năng động tác cũ. Cho nên trong quá trình tập luyện, khi
tập một động tác phải đảm bảo hình thành động tác đúng ngay từ đầu, vì sửa
một động tác sai đã được củng cố vững chắc còn khó hơn và cần nhiều thời
gian hơn tập một động tác mới.
Khi một động tác được thực hiện nghĩa là từ khi tiếp nhận kích thích,
thần kinh phân tích và tổng hợp rồi đưa ra chương trình VĐ. Đó là cả một quá
trình đòi hỏi nhiều yếu tố tham gia. Bởi vì KNVĐ không phải chỉ là những cử
động, động tác đơn giản mà là một tổ hợp nhiều cử động, nhiều động tác phối
hợp với nhau theo một trình tự nhất định nhất định để tạo nên một hệ VĐ

truyền của các quá trình hưng phấn. Vai trò của hệ thống tín hiệu thứ hai dần
dần được nâng cao, hoàn thiện những VĐ trong vỏ đại não, tạo ra những mối
liên hệ tạm thời phức tạp, nhờ việc lặp đi, lặp lại hệ thống các phản xạ có điều
kiện của bài tập đã học, để dần tiến tới hình thành những định hình động lực ở
giai đoạn sau.
Đặc điểm: Trẻ hiểu nhiệm vụ và hành động của mình. Các kĩ năng VĐ
được hình thành với đầy đủ các chi tiết của kĩ thuật bài tập, bắt đầu xuất hiện
các tố chất VĐ, nhưng thường giao động. Trẻ biết dùng sức hợp lý giữa các
phần của bài tập, củng cố hệ thống phản xạ về bài tập VĐ, bước đầu biết phối
hợp giữa tay và chân.
Giai đoạn 3: Củng cố và tiếp tục hoàn thiện KNVĐ, ổn định kĩ năng
Mục đích: Chuyển những KNVĐ đã học thành kĩ xảo VĐ (nếu có thể)
Nhiệm vụ: Củng cố kĩ thuật bài tập dã học, tiếp tục hoàn thiện các chi
tiết kĩ thuật của bài tập đó.
Cơ chế sinh lý: Hình thành định hình động lực của các mối liện hệ
giữa các phản xạ đã được hình thành, trong mối liên hệ tác động qua lại giữa
hệ thống tín hiệu thứ nhất liên quan đến phản xạ có điều kiện được thành lập
trên cơ sở phản xạ không có điều kiện và hệ thống tín hiệu thứ hai liên quan
-19-
đến lời nói của giáo viên, tư duy của trẻ. Hệ thống tín hiệu thứ hai giữ vai trò
chủ đạo.
Đặc điểm: Trẻ đã nắm vững kĩ năng của bài tập VĐ đã học, trẻ biết tiết
kiệm sức lực, tập thoải mái tự nhiên, không gò bó, tập một cách tự do, chính
xác.
Trẻ tự tin, tin tưởng vào hành động của mình và thực hiện nhiệm vụ một
cách tự giác, áp dụng được những VĐ đó vào thực tế, khi dạo chơi, chơi trò
chơi VĐ.
1.2.4. Đặc điểm vận động cơ bản của trẻ MG 3 – 4 tuổi
1.2.4.1. Vận động đi
*Khái niệm

gù lưng… trên cơ sở đó mà sửa đổi tốc độ và bước đi dài ngắn cho phù hợp,
để nâng dần khả năng hoạt động tự nhiên, phục vụ trong lao động. Khi giảng
dạy giáo viên cần đặc biệt quan tâm và đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật, trẻ cần
thực hiện các tư thế chính xác. Mặt khác cần thường xuyên chú ý sửa chữa tư
thế đi của trẻ trong học tập, sinh hoạt và lao động.
* Đặc điểm vận động đi của trẻ MG 3 – 4 tuổi
Do sự phát triển của hệ thần kinh được hoàn thiện hơn, quá trình cốt
hóa của xương xảy ra nhanh hơn. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ giữ
được tư thế đúng đắn hơn trong động tác đi. Trẻ biết giữ được hướng và biết
thay đổi hướng khi đi dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đi bộ của trẻ ở lứa
tuổi này có đặc điểm là nhịp điệu chưa ổn định phối hợp tay chân chưa nhịp
nhàng, khả năng thay đổi hơn trong không gian chưa tốt.
Nếu được hướng dẫn, rèn luyện một cách có hệ thống thì trẻ MG 3 – 4
tuổi đã đi vững vàng. Các động tác thừa đã mất đi, bước đầu đã biết phối hợp
-21-
các phần riêng lẻ trong động tác đi. Cụ thể : trẻ đã biết giữ đầu và ngực thẳng
khi đi, đã biết phối hợp chân tay tuy chưa nhịp nhàng, thân vẫn còn dao động
sang 2 bên.
Theo E.G.Le – vi Gô – nhép – xkai – a trẻ 3 tuổi chỉ còn hơi co chân
trong tư thế ban đầu, trong lúc đi chân đưa ra trước vẫn chưa thật đúng, chân
chưa thẳng được như yêu cầu cần thiết. Bước đi của trẻ không được dài
ngoài ra trẻ thuờng đăt cả 2 bàn chân xuống đất và 2 bàn chân vẫn đặt song
song. Bên cạnh đó trẻ lứa tuổi này đã biết đi nối đuôi nhau, đi hàng đôi, đi
vòng tròn, có khả năng điều khiển VĐ của mình: đi theo hiệu lệnh, đi tới một
vật đã định trước. Dưới sự huớng dẫn của giáo viện buớc đi của trẻ đã giống
bước đi của người lớn, bàn chân có độ dẻo hơn, chân đánh lăng được mạnh
hơn.
Mỗi một động tác đi của trẻ ở từng độ tuổi khác nhau đều được hoàn
thiện trong điều kiện thực hiện động tác ấy theo nhiều phương thức khác nhau.
Sau những VĐ mạnh: chạy, nhảy, mà đi bộ với nhịp điệu chậm dần để hạ VĐ

giảm điểm tựa trên mặt phẳng, làm cho cơ thể VĐ tích cực hơn.
Đi bằng mép ngoài của bàn chân đòi hỏi sự căng cơ của cơ bắp chân
và bàn chân, tạo sự thuận lợi cho cột sống, củng cố cơ bàn chân.
- Đi theo các hướng khác nhau, đi và làm theo hiệu lệnh
Mục đích của hoạt động đi này nhằm phát triển khả năng định hướng
không gian, rèn luyện sự chú ý, nhanh trí, tập cho trẻ đi theo vòng tròn, theo
đuờng dích dắc, đi lùi sau…
Đi bộ với những nhiệm vụ khác nhau phải thực hiện theo hiệu lệnh.
Xác định vị trí trong không gian, thay đổi nhịp điều, hướng với các đội hình
khác nhau, đi giữa các vật; đi bộ bằng cách bước chéo chân, nhằm phát triển
sự khéo léo, nhanh nhẹn của VĐ, đi bộ nhưng phải chăm chú theo dõi bước
chân; đi bộ tay thực hiện mang dụng cụ, đi trên cầu, đi theo đuờng hẹp… tác
động đến cảm giác thăng bằng tự kìm hãm, tập trung chú ý, khéo léo, không
có động tác thừa.
Đi theo hiệu lệnh của giáo viên (vỗ tay, đếm nhịp…), nhịp nhanh, nhịp
chậm luôn thay đổi. Lúc đi phải giữ tư thế đi chính xác, bước đi phải theo
đúng nhịp của hiệu lệnh.
- Đi ngang bước dồn
Trẻ đứng thẳng, tay đưa ngang hoặc chống hông, bước chân trái sang
trái một bước, thu chân phải về sát chân trái và bước tiếp như vậy. Sau đó
cho trẻ bước dồn ngang sang bên phải. Có thể cho trẻ đi ngang theo từng
nhóm, theo đường thẳng, sau đó đi theo đường hẹp.
1.2.4.2. Vận động chạy
*Khái niệm
Từ điển Tiếng Việt chạy là di chuyển nhanh, bằng bước chân. Chạy là
phương thức VĐ chuyển dịch vị trí cơ thể nhanh nhất. [52]
-24-
Theo quan điểm sinh học, chạy là phản xạ có điều kiện. Chạy làm tăng
quá trình sinh lý, phản ánh trao đổi chất của cơ thể và ảnh huởng tốt tới cơ
thể trẻ. Thế nên động tác chạy có ý nghĩa sinh lí to lớn. Trong quá trình thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status