MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU:...........................................................................................2
1. Lý do chọn đề tài :.........................................................................................2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:.....................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu:...................................................................................3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:......................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu:.............................................................................4
II. PHẦN NỘI DUNG:......................................................................................4
1. Cơ sở lý luận:.................................................................................................4
2.Thực trạng:......................................................................................................5
2.1 Thuận lợi- khó khăn:.....................................................................................6
2.2 Thành công- hạn chế:....................................................................................7
2.3 Mặt mạnh- mặt yếu:.......................................................................................7
2.4Các nguyên nhân, các yếu tố tác động: …………………………………….7
2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra:.................8
3. Giải pháp, biện pháp:....................................................................................9
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:................................................................9
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:................................10
3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:.....................................................15
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:..................................................16
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:....................16
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu:......................................................................................................................17
III. Phần kết luận, kiến nghị:...........................................................................17
1. Kết luận:.........................................................................................................17
2. Kiến nghị:.......................................................................................................19
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
2
Đối với trẻ mẫu giáo lớn thì sự quan tâm tới tác phẩm văn học sẽ giúp trẻ hiểu
được nội dung tác phẩm, các nhân vật trong tác phẩm trở nên gần gũi dễ hiểu hơn. Sự
cảm thông với nhân vật, sự lo lắng cho số phận của nhân vật của trẻ đã mang đặc
điểm cá tính hơn. Sự hồi hộp, lo lắng này của trẻ em đã nếm trải ngay cả trong sự kiện
đời sống hàng ngày.
Thông qua việc trẻ kể chuyện sáng tạo giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, óc
tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Khi trẻ kể chuyện,
ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc, vốn từ phong phú. Trẻ biết
trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay sự kiện nào đó bằng chính ngôn ngữ
của trẻ.
Là giáo viên dạy trẻ mầm non 5 - 6 tuổi tôi đã nhận thức rõ được tầm quan trọng
của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đặc biệt là thông qua hoạt động kể chuyện sáng
tạo. Từ đó tôi đã đi sâu nghiên cứu và tìm ra " Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo tại trường
mầm non Hoa Cúc". Hy vọng với đề tài nghiên cứu này tôi sẽ tìm ra giải pháp tốt nhất
trong việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Giáo dục trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo
nhằm giúp trẻ tích lũy và mở rộng vốn từ phong phú, đa dạng, giúp trẻ diễn đạt rõ
ràng, mạch lạc, là điều kiện tốt để trẻ học đọc sau này.
Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp thích trò chuyện với những người xung
quanh, thích đưa ra những câu hỏi và trả lời rõ ràng, mạch lạc
Giáo viên có kinh nghiệm hơn trong việc tổ chức dạy trẻ kể chuyện sáng tạo
3. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp sư phạm nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Khuôn khổ nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ.
Phát âm rõ ràng mạch lạc
23/34
67,6 %
Tích cực tham gia vào hoạt động môn
làm quen văn học
24/34
70,6 %
Hứng thú tham gia kể chuyện sáng tạo
13/34
38,2 %
Biết thể hiện ngôn ngữ hoàn cảnh (kể
chuyện sáng tạo)
9/34
26,5 %
Khả năng diễn xuất hoạt cảnh, đóng kịch
10/34
ngữ trong tác phẩm văn học.
Ở trường mầm non phát triển ngôn ngữ cho trẻ là nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Giáo viên cần phải khơi dậy ở trẻ tình yêu đối với từ ngữ nghệ thuật thông qua cách
đọc kể diễn cảm, cao hơn nữa là biết dùng ngôn ngữ của mình để kể chuyện sáng tạo.
Đây là một nhiệm vụ rất phức tạp, yêu cầu khi kể chuyện sáng tạo trẻ phải tự nghĩ ra
một nội dung câu chuyện, tạo ra cấu trúc logic được thể hiện trong hình thức nói
tương ứng (lời nói kết hợp với sử dụng đồ dùng trực quan).
Để thực hiện được yêu cầu này đòi hỏi trẻ phải có vốn từ phong phú, các kỹ năng
tổng hợp, kỹ năng truyền đạt ý nghĩ của mình một cách chính xác, tập trung chú ý và
nói biểu cảm. Những kỹ năng này trẻ lĩnh hội được trong quá trình nhận thức có hệ
thống bằng con đường luyện tập thường xuyên hàng ngày.
2. Thực trạng
Ban đầu khi chưa thực hiện nghiên cứu đề tài trẻ của tôi mặc dù đã nói rõ ràng
nhưng ngôn ngữ của trẻ vẫn còn nhiều hạn chế, trong câu nói của trẻ chưa có tư duy
5
nhiều, chưa thật sự sáng tạo. Trẻ chưa hứng thú trong việc kể chuyện sáng tạo. Giáo
viên ít cho trẻ kể chuyện sáng tạo
2.1. Thuận lợi và khó khăn
* Thuận lợi
Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu trường mầm non Hoa Cúc về
chuyên môn xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục
mầm non, tạo mọi điều kiện giúp tôi thực hiện tốt chương trình mầm non mới, đầu tư
về cơ sở vật chất đầy đủ. Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và các đợt
chuyên đề văn học, hội thi đồ dùng đồ chơi cho chị em đồng nghiệp học tập và rút
kinh nghiệm.
Phụ huynh quan tâm đến con em mình, nhiệt tình ủng hộ cùng tôi trong việc dạy
dỗ các cháu và thường xuyên ủng hộ những nguyên vật liệu để làm đồ dùng dạy học
và vui chơi cho các cháu.
kết quả trên trẻ chưa cao, trẻ chưa thực sự say mê, hào hứng, sử dụng đồ dùng dạy
học chưa có khoa học, dẫn đến giờ học trẻ ít tập trung chú ý, hiệu quả trên tiết học
chưa cao.
2.2. Thành công và hạn chế
* Thành công
Ngôn ngữ của trẻ tăng dần, trong giờ học kể chuyện sáng tạo trẻ có hứng thú
tham gia vào hoạt động. Giáo viên có khả năng thu hút trẻ tham gia vào hoạt động kể
chuyện sáng tạo để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
* Hạn chế
Trẻ chưa thật sự hứng thú kể chuyện sáng tạo chính vì vậy ngôn ngữ của trẻ chưa
phong phú, chưa mạch lạc. Giáo viên chưa có sáng tạo trong việc chuyển thể từ
chuyện kể sang kịch bản sân khấu, không tạo ra được tính kịch - sự kiện, lời thoại còn
dài dòng khó hiểu.
2.3: Mặt mạnh- mặt yếu
* Mặt mạnh
Trẻ thích tham gia vào hoạt động kể chuyện sáng tạo, giáo viên biết khắc phục
khó khăn của nhà trường, lên chương trình đầy đủ, phù hợp với trẻ và chủ đề trẻ đang
học.
* Mặt yếu
7
Nhiều trẻ chưa mạnh dạn, chưa có ý tưởng để kể chuyện sáng tạo, chưa dám kể
chuyện theo ý của mình nên việc phát triển ngôn ngữ còn yếu
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Môi trường lớp học chưa trang trí phù hợp, chưa lôi cuốn được trẻ vào tham gia
hoạt động phát triển ngôn ngữ như mong muốn
Trẻ chưa được trực tiếp sử dụng nhân vật nhiều, hầu hết là cô hoặc được một vài
trẻ sử dụng. Khi trẻ trực tiếp cầm các nhân vật thì trẻ mới hứng thú tham gia vào hoạt
động từ đó mới khơi gợi ý tưởng trẻ mới nói lên những suy nghĩ của bản thân về nhân
nhiều hình thức. Cho tất cả các trẻ đều được sử dụng các nhân vật, được đội mũ các
nhân vật đóng kịch không những trong giờ học mà trong giờ đón trẻ, trả trẻ cô cũng
có thể cho trẻ tiếp xúc làm quen đặc biệt là những trẻ rụt rè, nhút nhát.
Khi dạy trẻ kể chuyện sáng tạo tôi chưa lồng ghép các môn học khác vào nên
chưa tạo được không khí mới lạ trong câu chuyện. Vì vậy cần phải lồng ghép các môn
học khác như âm nhạc, câu đố, ca dao… vào khi kể chuyện sáng tạo là rất cần thiết
giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên
Trước đây công tác tuyên truyền phụ huynh tôi thường tuyên truyền cách chăm
sóc sức khỏe, cách dạy con học toán, chữ cái, v.v…còn việc tuyên truyền cho phụ
huynh phát triển ngôn ngữ cho trẻ là rất ít và chưa cụ thể rõ ràng. Nếu trẻ được phát
triển ngôn ngữ thông qua kể chuyện sáng tạo ở lớp rồi về nhà được phụ huynh rèn
luyện nữa thì ngôn ngữ của trẻ sẽ phát triển rất mạnh. Mà ngôn ngữ là một trong năm
lĩnh vực giúp trẻ phát triển toàn diện.
3. Giải pháp, biện pháp
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Tôi chọn các giải pháp này dựa vào đặc điểm phát triển của trẻ lớp tôi đang chủ
nhiệm, dựa vào điều kiện thực tế về môi trường, đồ dùng đồ chơi, nhận thức của phụ
huynh trẻ. Tôi nhận thấy các giải pháp này là cần thiết, vì mỗi giải pháp đều góp phần
giúp cho trẻ phát triển ngôn ngữ. Khi tạo môi trường hoạt động phù hợp, đẹp mắt sẽ
tạo cho trẻ sự hứng thú từ đó trẻ sẽ hứng thú tham gia vào hoạt động kể chuyện sáng
tạo. Sử dụng biện pháp khảo sát thực tế đầu năm giúp cho giáo viên biết trẻ đang phát
triển ngôn ngữ ở mức độ nào từ đó có biện pháp phát triển tiếp theo cho phù hợp.
Biện pháp dạy trẻ cách sử dụng nhân vật phù hợp với ngôn ngữ lời kể sáng tạo giúp
cho trẻ tự tin hơn, trẻ sẽ hiểu được nội dung của câu chuyện, biết được đặc điểm tính
cách của các nhân vật thông qua ngôn ngữ nói của mình. Với biện pháp lồng ghép các
môn học khác khi dạy trẻ mầm non 5 - 6 tuổi kể chuyện sáng tạo sẽ làm cho môn học
9
thêm phong phú, sáng tạo hơn về mặt ngôn ngữ. Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh
Qua cách nghĩ và làm như vậy tôi đã tạo ra một góc văn học với đầy đủ chủng
loại về đồ dùng trực quan đa dạng phong phú, đã giúp trẻ hứng thú tham gia vào hoạt
động và trẻ có thể nảy ra nhiều ý tưởng hay khi trẻ kể chuyện sáng tạo.
Tạo môi trường cho trẻ kể chuyện sáng tạo là một việc làm vô cùng quan trọng
bởi nó là chỗ dựa, là cơ sở vững chắc cho trẻ kể chuyện sáng tạo. Đòi hỏi cô giáo phải
biết tạo cảm xúc cho trẻ bằng các con vật ngộ nghĩnh, đáng yêu, đồng thời cũng phải
biết hướng lái, gợi mở cho trẻ có cảm xúc tích cực khi tham gia hoạt động kể chuyện
sáng tạo.
Qua nội dung các bức tranh, các nhân vật, các con rối trẻ được xem và nói lên
nhận xét của mình về các đồ dùng đó.
Như vậy ngôn ngữ của trẻ sẽ được phát triển một cách phong phú và đa dạng
hơn.
* Biện pháp 2: Dạy trẻ mầm non 5 - 6 tuổi cách sử dụng nhân vật phù hợp với
ngôn ngữ lời kể sáng tạo.
Không những tạo môi trường hoạt động với đầy đủ các loại đồ dùng trực quan đa
dạng phong phú, thu hút sự hứng thú tham gia kể chuyện sáng tạo của trẻ thì chúng ta
còn phải dạy trẻ cách sử dụng nhân vật phù hợp với ngôn ngữ lời kể sáng tạo.
Giờ đón, trả trẻ hay giờ chơi hàng ngày tôi thường đọc kể cho trẻ nghe những
câu chuyện truyện tranh mà tôi sưu tầm. Đây là hình thức cho trẻ làm quen với tác
phẩm văn học, là cơ sở cho trẻ có kiến thức vững vàng khi thực hiện kể chuyện sáng
tạo. Với cách làm quen như vậy trẻ biết đánh giá, nhận xét về đặc điểm tính cách của
các nhân vật thông qua ngôn ngữ nói của mình.
Ví dụ: Dê con thật thà, sói già hung ác, cô Tấm hiền lành, bà tiên ông bụt thì tốt
bụng còn phù thuỷ, mụ gì ghẻ thì độc ác.
Ngoài ra tôi thường xuyên quan tâm định hướng cho trẻ quan sát các tranh
chuyện, cho trẻ xem qua đĩa hình các câu chuyện . Đồng thời kết hợp tri giác với đàm
thoại giữa cô và trẻ, giúp trẻ nhận xét đánh giá nội dung truyện một cách chính xác và
nói lên ý tưởng của mình qua sự nhận thức. Từ đó trẻ sẽ có nền tảng để kể chuyện
chuyện sáng tạo, giúp trẻ linh hoạt sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với nghe, tay
sử dụng”.
Sau đây là một số câu chuyện của trẻ khi thực hiện kể chuyện sáng tạo:
12
Câu chuyện “Bé làm bác sĩ ” cháu Bảo Ngọc với đồ dùng là một con búp bê và
các dụng cụ khám chữa bệnh được cháu thể hiện như sau:
- Hôm nay em bé chíp (cháu đặt tên cho con búp bê) của tôi bị ốm. Ôi chắc là bị
sốt rồi, tôi phải mau mau khám bệnh cho em chíp mới được. Nhưng mà phải đo nhiệt
kế cái đã xem em sốt mấy độ rồi nào. Em ngoan nhé! Chị sẽ khám cho em rồi em sẽ
mau lành bệnh thôi. Em chíp sốt 40 độ luôn, nhưng nhờ có bác sĩ tôi đây, em đã hạ sốt
lại rồi.
Câu chuyện “Cáo, Thỏ, Gà trống ” của cháu Gia Bảo, Đức Kiên và Thúy Ngân.
Đồ dùng là con cáo, thỏ và gà từ sản phẩm làm bằng rối tay, câu chuyện được các bé
thể hiện như sau:
+ Bạn thỏ ơi cho tôi ở nhờ nhà bạn nhé.
+ Ừ, bạn cứ vào nhà tớ chơi đi.
+ Ha ha ha... cút đi thỏ, đây sẽ là nhà của tao.
+ Hu hu hu…Có ai giúp tôi không? Cáo lấy mất nhà tôi rồi.
+ Bạn thỏ, bạn bị làm sao thế? Được rồi tôi sẽ giúp bạn lấy lại nhà.
+ Ôi cảm ơn bạn nhiều lắm...
+ Cáo kia, hãy mau trả lại nhà cho thỏ đi!.........
Qua phần thể hiện của các cháu tôi nhận thấy các cháu sử dụng rối rất tốt. Ngôn
ngữ của các cháu được thể hiện một cách rất tự nhiên và phong phú. Các cháu đã biết
kết hợp với nhau sử dụng các nhân vật phù hợp ăn khớp với lời kể.
Trong quá trình nghiên cứu và tiến hành kể chuyện sáng tạo đến nay ở lớp tôi đa
số trẻ đã kể chuyện sáng tạo theo ý tưởng của mình. Trẻ rất thích được sử dụng các
nhân vật để kể chuyện sáng tạo. Từ những việc làm đó không những trẻ sử dụng
việc cung cấp thêm một số kiến thức bổ trợ cho câu chuyện sinh động hơn.
Việc tích hợp các môn học khác giáo viên phải linh hoạt, lựa chọn nội dung sao
cho phù hợp với nội dung câu chuyện, giúp trẻ tham gia vào hoạt động một cách tích
cực nhất và ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạnh mẽ nhất.
* Biện pháp 4: Bồi dưỡng cho những cháu yếu.
Để chất lượng Giáo dục nâng lên bản thân tôi luôn tìm ra những biện pháp tối ưu
để bồi dưỡng giúp đỡ trẻ yếu, những trẻ cá biệt. Tôi không những cho những trẻ khá
giỏi tham gia kể chuyện sáng tạo mà còn khuyến khích, gây ấn tượng cho những trẻ
yếu cũng được tham gia kể chuyện sáng tạo. Đoạn nào trẻ kể được tôi dùng hình thức
14
khen trẻ để trẻ được tự tin hơn. Lúc đầu có thể trẻ kể được ít nhưng dần dần trẻ sẽ tiến
bộ hơn, thích học môn học này.
Ngoài ra tôi còn có kế hoạch bồi dưỡng, dạy mọi lúc, mọi nơi và thường xuyên
trao đổi trực tiếp với phụ huynh với nhiều hình thức. Với các trẻ này tôi thường xuyên
quan tâm, chú ý hơn thường xuyên động viên khuyến khích trẻ nhất là trong các giờ
học.
Đối với những trẻ cá biệt tôi thường xuyên trò chuyện, gần gủi để tạo niềm tin
cho trẻ, động viên trẻ cùng làm với bạn. Những lời động viên kịp thời có tác dụng rất
nhiều khuyến khích trẻ hứng thú tham gia các giờ học sau.
* Biện pháp 5: Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh.
Trẻ mẫu giáo dễ hứng thú nhưng cũng nhanh chán, dễ nhớ nhưng cũng nhanh
quên. Nếu phối hợp được với phụ huynh ôn luyện thêm ở nhà thì hiệu quả chăm sóc,
giáo dục sẽ rất cao. Vì vây trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi nêu tầm quan trọng
của lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là thông qua hoạt động kể chuyện
sáng tạo. Hàng tháng tuyên truyền với phụ huynh qua các biểu bảng nêu lên nội dung
về chủ điểm, về các câu chuyện sáng tạo của cô và trẻ.
Qua đó phụ huynh thấy được ngôn ngữ của trẻ phát triển như thế nào và có biện
pháp kích thích sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình.
Kết quả cụ thể mà tôi đã thực hiện trong thời gian qua như sau:
Khi đã áp dụng
hình thức đổi mới
Tỉ lệ
Kể diễn cảm
30/34
88,2 %
Phát triển ngôn ngữ, diễn đạt tốt
31/34
91,2 %
Phát âm rõ ràng mạch lạc
30/34
88,2 %
Tích cực tham gia vào hoạt động môn
làm quen văn học
32/34
cứu
Sau khi thực hiện các biện pháp tôi đã thu được một số kết quả sau:
* Về bản thân:
Tôi đã rút ra được nhiều kinh nghiệm qua cách dạy trẻ kể chuyện sáng tạo, sưu
tầm được nhiều truyện tranh, học thuộc nhiều truyện ngoài chương trình.
Tạo được môi trường cho trẻ hoạt động tốt ở các góc, đặc biệt là góc văn học.
Tôi đã tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có, dễ tìm để tạo ra nhiều loại rối phong
phú, đa dạng, sử dụng có hiệu quả trong việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
Các tiết dạy kể chuyện sáng tạo của trường tôi tham gia và các hội thi đều được
xếp loại giỏi.
* Kết quả trên trẻ:
Qua các tiết học trẻ rất hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập, ngôn ngữ
của trẻ trở nên mạch lạc hơn so với trước đây.
Trẻ hoạt động không bị áp đặt để phát huy năng lực bản thân, được trao đổi,
được nhận xét nên trẻ trở nên năng động hơn.
* Đối với phụ huynh:
- Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo để phát
triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Đã nhiệt tình đóng góp hỗ trợ kinh phí và nhiều nguyên vật liệu để tạo góc văn
học cho lớp.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Một trong những cơ sở để đánh giá sự phát triển của trẻ là khả năng phát âm
chuẩn, trả lời câu hỏi rõ ràng mạch lạc, kể chuyện sáng tạo. Vì vậy, việc rèn luyện
17
ngôn ngữ cho trẻ hiện nay là một vấn đề quan trọng hàng đầu. Phát triển ngôn ngữ tốt
giúp trẻ nhận thức tốt hơn. Ngoài ra ngôn ngữ còn đóng vai trò quan trọng trong cuộc
sống hàng ngày của trẻ. Trẻ tích cực giao tiếp hơn, thích tham gia vào các hoạt động,
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”
Đúng như vậy, trẻ ở tuổi mầm non thật đáng yêu, tâm hồn trẻ thơ ngây, hồn
nhiên như tờ giấy trắng. Mọi hoạt động học tập và vui chơi trong quá trình chăm sóc
giáo dục trẻ ở trường mầm non đều đem lại cho trẻ những điều kỳ lạ, thần tiên.
2. Kiến nghị:
* Đối với nhà trường
- Cần tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập ở các đơn vị bạn để trao đổi,
học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn.
- Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này, mặc dù được sự quan tâm giúp đỡ
của ban giám hiệu trường mầm non Hoa Cúc, của các chị em đồng nghiệp. Nhưng
vẫn không tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của
các cấp, sự đóng góp ý kiến của ban lãnh đạo cấp trên và các bạn đồng nghiệp để sáng
kiến ngày càng tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Buôn Trấp, ngày 20 tháng 3 năm 2016
Người viết
Trần Thị Kim Loan
19
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
...
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Phạm Thị Sửu
21