Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 6 tuổi thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo - Pdf 34

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển của con
người. Sự nghiệp trồng người cũng giống như sự nghiệp trồng cây vậy, gốc có
chắc thì ngọn mới bền, đầu tư vào mầm non là vun vào gốc của sự phát triển
mỗi thế hệ. Trong đó phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu
quan trọng nhất của giáo dục mầm non. Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp,
học tập, vui chơi. Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lí trẻ
em, bên cạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn
diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực
hành vi văn hóa.
Trẻ thơ là lứa tuổi bắt đầu của sự nhận thức và những tình cảm mãnh
liệt, giữa các em và các nhân vật trong những câu chuyện cổ tích có sự đồng
điệu về tâm hồn và tình cảm, các em thích nghe kể chuyện và thích kể lại
chuyện. Những câu chuyện là một phần của cuộc sống gợi lên cho trẻ những
xúc cảm lành mạnh, giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh, những mối quan
hệ giữa con người với con người... góp phần giáo dục thẩm mĩ và phát triển
ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ, nhờ đó trẻ nảy sinh năng lực tự hoạt động nghệ
thuật khi tiếp xúc với những câu chuyện.
Chính vì vậy, cho trẻ tiếp xúc với văn học và đặc biệt là hoạt động dạy
trẻ kể chuyện sáng tạo là con đường phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất, hiệu
quả nhất. Do đặc điểm tâm lí của trẻ tuổi mầm non, nhất là đặc điểm về ngôn
ngữ của lứa tuổi mà việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học có ý nghĩa to
lớn trong việc góp phần mở rộng sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh,
giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, hoàn thiện các quá trình tâm lí, và đặc biệt là phát
triển ngôn ngữ cho trẻ. Việc dạy trẻ kể lại chuyện văn học một cách sáng tạo

1


để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, là một nhiệm vụ chủ đạo trong

nói luôn cái đó... Từ đó cho thấy việc phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ
phải được tiến hành ở các môn học khác nhau, trong đó dạy trẻ kể chuyện
sáng tạo là một trong những loại tiết học thuận lợi nhất để phát triển khả năng
sáng tạo cho trẻ.
Do vậy, là giáo viên mầm non tương lai, tôi đã nhận thức rõ được tầm
quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ đặc biệt là phát triển khả năng
sáng tạo ở trẻ thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo. Vì thế thông qua đợt
thực tập sư phạm tại trường mầm non Ngô Quyền tôi đã tìm hiểu và đưa ra
một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động dạy trẻ kể
chuyện sáng tạo.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của các môn khoa học liên ngành như: Tâm lí học,
giáo dục học, phương pháp dạy văn học và thực tiễn, đề tài này hệ thống hóa
và đưa ra một số biện pháp dạy trẻ kể chuyện sáng tạo nhằm nâng cao khả
năng kể chuyện của trẻ, phát triển ở trẻ khả năng sáng tạo giúp trẻ hiểu được
cuộc sống diễn ra xung quanh trẻ. Từ đó giúp trẻ biết cách cư xử với mọi
người, mọi vật xung quanh trẻ và đặc biệt là phát triển toàn bộ nhân cách cho
trẻ.
3. Lịch sử nghiên cứu
Ngôn ngữ là sự sáng tạo kì diệu nhất của nền văn hóa con người. Ngôn
ngữ chỉ sinh ra với xã hội và vì xã hội. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, giao
tiếp, là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng trí thức của
dân tộc và nhân loại. Bởi vậy, giáo dục và phát triển ngôn ngữ giữ một vai trò
đặc biệt quan trọng, nhất là đối với lứa tuổi mầm non, là lứa tuổi diễn ra sự
phát triển nhanh về nhiều lĩnh vực trong đó đáng chú ý hơn cả là lĩnh vực
ngôn ngữ và nhận thức. Đã từ lâu, ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề
được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu.

3


– 6 tuổi nói riêng.
3. “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn kể chuyện về sinh hoạt nhằm
phát triển lời nói mạch lạc” – của tác giả Hoàng Thị Thu Hương đề cập đến
vấn đề phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện
về sinh hoạt và bà cũng đã đưa ra một số biện pháp dạy trẻ 5 – 6 tuổi kể
chuyện giúp phát triển lời nói mạch lạc ở trẻ độ tuổi này.
4. “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi
thông qua kể chuyện sáng tạo” của tác giả Hoàng Thị Hồng Mát đưa ra một

4


số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo kể chuyện sáng tạo nhằm phát triển lời nói
mạch lạc ở trẻ.
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác như: “ Biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi thông qua hoạt động kể lại
chuyện thần thoại một cách sáng tạo ở trường mầm non Hạ Long” của Vũ Thị
Lan – khóa luận tốt nghiệp năm 2005, “ Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5
– 6 tuổi kể lại chuyện diễn cảm ở trường mầm non Hạ Long” của Phạm Thị
Hải – khóa luận tốt nghiệp năm 2005, ... và một số công trình khác.
Nhìn chung việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở các độ tuổi được các nhà
nghiên cứu quan tâm nhiều mặt đa dạng và phong phú. Tuy nhiên các công
trình nghiên cứu này mới tập trung ở việc phát triển ngôn ngữ thông qua việc
day trẻ kể chuyện mà chưa chú ý đến khả năng sáng tạo ở trẻ, đặc biệt khi lứa
tuổi trẻ 5 – 6 tuổi đã hoàn toàn có khả năng thuộc chuyện, kể chuyện và sáng
tạo trong kể chuyện.
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện sáng
tạo hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào cụ thể và chuyên sâu.
Trong khóa luận này, tôi nghiên cứu một số biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo, với hy vọng góp

pháp thiết thực trong quá trình dạy trẻ kể chuyện sáng tạo thì sẽ phát huy tối
đa khả năng tự hoạt động văn học nghệ thuật và phát huy trí tưởng tượng
phong phú ở trẻ.
8. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy trẻ 5-6 tuổi kể chuyện sáng tạo ở
trường mầm non.
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua
hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.

6


PHẦN II : NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận
1.1. Vai trò phát triển ngôn ngữ đối với trẻ mẫu giáo lớn
1.1.1. Khái niệm chung về ngôn ngữ, phát triển ngôn ngữ
1.1.1.1. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp
cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người.
Dưới góc độ xã hội học, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội – lịch sử.
Ngôn ngữ xuất hiện là để thỏa mãn nhu cầu giao lưu của con người trong
cộng đồng xã hội loài người. Trong mọi lĩnh vực hoạt đông của con người
như: lao động, học tập, vui chơi, giải trí... đều cần đến ngôn ngữ. Nhờ ngôn
ngữ mà con người có thể trao đổi nguyện vọng, tình cảm, ý nghĩ, kinh nghiệm
với nhau. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, ngôn ngữ thể hiện ý thức xã
hội, sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của xã hội. Trong quá trình phát triển ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố
mới để phong phú và hoàn thiện thêm. Ngôn ngữ còn là một hiện tượng xã
hội đặc biệt, không thuộc hạ tầng, không thuộc thượng tầng cũng không phải
là công cụ sản xuất. Đặc thù riêng biệt của ngôn ngữ để phân biệt với các hiện
tượng xã hội khác, đó là ngôn ngữ phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp

giáo dục và phát triển con người, phát triển xã hội loài người.
Chức năng của ngôn ngữ: Ngôn ngữ có nhiều chức năng nhưng quan
trọng nhất là chức năng cộng cụ giao tiếp và chức năng công cụ tư duy:
∗Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người
Ngôn ngữ không phải là phương tiện giao tiếp duy nhất:
Ngoài ngôn ngữ, con người còn dùng những phương tiện giao tiếp khác
như điệu bộ, cử chỉ, các tín hiệu giao thông, tín hiệu hàng hải, các ký hiệu
toán học ..., những kết hợp âm thanh của âm nhạc, kết hợp màu sắc của hội
họa v.v... Điệu bộ cử chỉ là các yếu tố phi ngôn ngữ. Trong điều kiện bình
thường điệu bộ cử chỉ đi kèm theo lời nói, thể hiện tâm trạng của người nói và

8


có lúc làm cho lời nói thêm chính xác. Trong trường hợp đặc biệt, điệu bộ cử
chỉ đóng vai trò độc lập, không đi kèm theo lời nói. Chẳng hạn khi người câm
điếc trao đổi với nhau, họ dùng ngôn ngữ cử chỉ. Dù điệu bộ cử chỉ có vai trò
quan trọng trong giao tiếp, chúng cũng chỉ có tính chất phụ trợ. So với ngôn
ngữ âm thanh, ngôn ngữ cử chỉ nghèo nàn và hạn chế. Đó là một số ít những
động tác giản đơn như lắc đầu, gật đầu, nhún vai, nheo mắt, khom lưng, vẫy
tay, chỉ tay v.v... Những tư tưởng khái quát, trừu tượng không thể được
chuyển tải đầy đủ bằng ngôn ngữ cử chỉ. Những tín hiệu khác nhau như tín
hiệu giao thông, tín hiệu hàng hải, ký hiệu toán học v.v... chỉ được áp dụng
trong những phạm vi hạn chế, trong các lĩnh vực chuyên môn hạn hẹp. Bản
thân những tín hiệu trên muốn hiểu được phải dùng ngôn ngữ âm thanh để
giải thích. Chính vì vậy chúng là các phương tiện giao tiếp có tính chất phát
sinh, bổ sung cho ngôn ngữ thành tiếng. Âm nhạc, hội họa, điêu khắc... tuy có
những khả năng vĩ đại nhưng với tư cách là phương tiện giao tiếp, chúng vẫn
bị hạn chế và có tính chất phiến diện so với ngôn ngữ. Âm nhạc, hội họa, điêu
khắc ... không thể truyền đạt khái niệm, tư tưởng mà chỉ khêu gợi chúng trên

“thấy được”. Không có ý nghĩ, tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn
ngữ. Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của tư tưởng.
Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng, phát
triển tư tưởng. Nó là công cụ để tư duy:
Vốn tri thức mà con người thu nhận được qua hoạt động thực tiễn được
tàng trữ, bảo toàn chủ yếu nhờ ngôn ngữ; rồi chính nhờ ngôn ngữ mà người ta
truyền thụ vốn tri thức đó từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang
thế hệ khác, từ nơi này đến nơi khác. Khi con người đã có ngôn ngữ và đã có
vốn tri thức do thế hệ trước truyền lại, họ không nhất thiết phải tìm hiểu thế
giới bằng con đường nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng” nữa. Họ có thể đi từ những khái niệm đã biết tiến lên những khái niệm
chưa biết, đi từ những phán đoán cũ tiến lên những phán đoán mới. Con

10


người dùng ngôn ngữ để suy luận và cuối cùng áp dụng các kết quả suy luận
của mình vào thực tế để kiểm nghiệm chân lý và phát triển xã hội, cải tạo thế
giới.
Tóm lại, nhờ có ngôn ngữ tư tưởng được hiện thực hóa. Từ đó, con
người có thể truyền đạt, tích lũy, phát triển thêm vốn tri thức của mình. Tư
duy con người ngày càng trở nên phong phú và sâu xa hơn.
* Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy
Ngôn ngữ thống nhất với tư duy
+ Ngôn ngữ và tư duy ra đời cùng một lúc trong lịch sử hình thành và
phát triển của con người. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Mác và
Ăngghen đã viết: “Ngay từ đầu, đã có một rủi ro đè nặng lên tinh thần”, đó là
sự rủi ro bị một “vật chất” làm hoen ố và vật chất đó thể hiện ở đây dưới hình
thức những lớp không khí chuyển động, những thanh âm, tóm lại là dưới hình
thức ngôn ngữ. Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy - ngôn ngữ là ý thức

với hiện thực). Tiêu chuẩn để đánh giá ngôn ngữ là có hiệu lực hay không có
hiệu lực, thuận lợi hay không thuận lợi cho giao tiếp.
Nhằm đạt được mục đích giao tiếp, con người có thể “bóp méo” hiện
thực, tạo ra các yếu tố phi logic trong văn bản. Các yếu tố phi logic đều được
chấp nhận trong ngôn ngữ nếu nó diễn đạt được điều cá nhân định nói hoặc có
vai trò trong tổ chức lời nói, tổ chức thông điệp. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ
có quá nhiều yếu tố phi logic, các yếu tố đó lại hết sức quen thuộc với người
bản ngữ nên con người dễ bị nhận thức hiện thực theo ngôn ngữ.
Ví dụ: ba từ tươi, sống, mộc trong các kết hợp “thịt tươi”, “gạo sống”,
“gạch mộc” đều dùng để chỉ tính chất “chưa trải qua nhiệt độc cao, chưa
được nấu chín”. Ba từ thể hiện một khái niệm nên con người dễ lầm tưởng đó
là ba khái niệm.
Các kết hợp phi logic khác như “lòng yêu thương”, “trái tim nồng
nhiệt”, “mặt trời mọc” ... quá quen thuộc đến mức người bản ngữ không chú

12


ý nên dễ mắc sai lầm trong nhận thức thế giới khách quan. Lênin đã từng nói:
con người dễ nhận biết bao nhiêu sự lừa dối của cảm giác thì khó nhận biết
bấy nhiêu sự lừa dối của ngôn ngữ; sự lừa dối của cảm giác thô thiển bao
nhiêu thì sự lừa dối của ngôn ngữ tinh vi đến bấy nhiêu.
+ Về bản thể, ngôn ngữ và tư duy khác nhau ở các điểm sau:
¤ Ngôn ngữ là một thực thể vật chất vì các đơn vị của nó đều mang thể
chất âm thanh, có những thuộc tính vật lý nhất định (độ cao, độ dài, bản
sắc ...). Ngược lại, tư duy là một thực thể tinh thần. Nó nảy sinh và phụ thuộc
vào một vật chất được tổ chức đặc biệt là não nhưng bản thân nó lại có tính
tinh thần. Tư duy không có các đặc tính của vật chất như khối lượng, trọng
lượng, mùi, vị
¤ Các đơn vị của tư duy không đồng nhất với các đơn vị ngôn ngữ.

- Không màu, không mùi, không vị.
Nhưng từ “nước” trong tiếng Việt chỉ có nghĩa là “chất lỏng” (nước
biển, nước mắm, nước mắt ...) vì nó chịu ảnh hưởng của những từ xung quanh
(biển, mắm, mắt)
¤ Nội dung các đơn vị ngôn ngữ không chỉ phản ánh các đơn vị tư duy
mà còn phản ánh thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người
Ví dụ: ba câu cùng chứa một phán đoán nhưng thể hiện 3 thái độ đánh
giá:
1.Còn 3 chai rượu. (Không thể hiện thái độ đánh giá)
2.Chỉ còn 3 chai rượu (đánh giá: ít)
3.Còn những 3 chai rượu (đánh giá: nhiều)
+ Về tính chất:
Tư duy mang tính nhân loại, qui luật của tư duy là quy luật chung cho
toàn nhân loại. Ngược lại, ngôn ngữ có tính dân tộc vì ngôn ngữ biểu hiện tư
duy nhưng mỗi ngôn ngữ lại biểu hiện theo cách riêng của mình.

14


Trong quá trình sống của mình con người dùng ngôn ngữ với tư cách là
một công cụ để giao tiếp và tư duy để xác lập mối quan hệ với thế giới xung
quanh, với cộng đồng, để nhận thức và để cải tạo nó. Hai chức năng này của
ngôn ngữ được thực hiện không tách rời nhau, trong một chừng mực nhất
định nào đó chúng xuất hiện cùng nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau.
Như vậy, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, là một hệ thống tín hiệu
đặc biệt làm công cụ giao tiếp và phát triển tư duy.
1.1.1.2. Phát triển ngôn ngữ
Khái niệm phát triển: Theo từ điển Tiếng Việt thì phát triển là mở mang
từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh, phát triển cũng có thể được hiểu là diễn
biến khi nó đứng trong cụm từ : “Tình hình phát triển”. Phát triển còn được

Ở trẻ, sự phát triển lời nói mạch lạc đã đạt tới mức độ tương đối cao.
Lời nói mạch lạc tồn tại bởi sợi dây liên kết (liên kết nội dung và liên kết hình
thức) được biểu hiện bởi tư duy logic về một chủ đề nhất định và bởi phương
thức liên kết lời nói với nhau nhằm thực hiện các chức năng giao tiếp. Theo
nhận định của Ph.A.Xokhina thì lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở
rộng một nội dung, xác định được thục hiện một cách logic, tuần tự chính xác,
đúng ngữ pháp và biểu cảm. Lời nói mạch lạc không thể tách rời thế giới tư
duy, sự mạch lạc của lời nói chính là sự mạch lạc của tư duy. Trong lời nói
mạch lạc phản ánh tư duy của trẻ, kĩ năng suy nghĩ cái tiếp nhận được và phản
ánh nó một cách đúng đắn. Theo mức độ trẻ nói ra suy nghĩ của mình có thể
đánh giá được trình độ phát triển ngôn ngữ của trẻ. Tác giả Nguyễn Xuân
Khoa thì cho rằng tính mạch lạc trong lời nói của trẻ thể hiện ở mối quan hệ
chặt chẽ của sự liên kết nội dung và liên kết hình thức, ông cho rằng “... nắm
vững lời nói mạch lạc không có được nếu không phát triển theo khả năng tách
biệt các yếu tố của nó như: câu, từ ...” Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã bắt đầu
để ý đến thuộc tính bên trong của sự vật thể hiện ở các câu hỏi “Tại sao?”.
F.Fiaget đã nghiên cứu nhu cầu trí tuệ, chức năng tư duy trong những câu hỏi

16


của trẻ, trong đó câu hỏi “Tại sao” trên cơ sở thống kê 1125 câu hỏi của một
em 6 tuổi với cô mẫu giáo (trong 10 tháng, mỗi ngày 2 giờ). F.Fiaget chia 250
câu hỏi “Tại sao” thành 3 nhóm:
1.

“Tại sao” đòi hỏi sự giải thích nguyên nhân của một hiện tượng

tự nhiên.
2.


viết cho mình đọc (nhật ký) nhờ đó tự điều chỉnh, điều khiển chính mình).
Việc nắm ngôn ngữ trong thực hành và thông hiểu ngôn ngữ đã giúp cho đứa
trẻ hiểu được nhiều điều người lớn nói. Đây là một đặc điểm vô cùng thuận
lợi để đứa trẻ nghe kể chuyện. Từ đó trẻ có thể kể lại chuyện bằng ngôn ngữ
của chính mình.
1.1.2.2. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn:
Trong lứa tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ được tiếp tục phát triển. Các
cấu tạo âm thanh của ngôn ngữ được hoàn thiện, vốn từ được mở rộng. Trẻ
nắm được cách dùng trong thực tế cấu tạo ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ. Từ vựng
của trẻ trong tuổi mẫu giáo tăng lên rất nhiều, ở các giai đoạn khác của tuổi
mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ có tính chất khác nhau. Giai đoạn 5 – 6 tuổi là giai
đoạn mà trẻ rất nhạy cảm với sự hình thành ngôn ngữ. Đây là bước ngoặt
quan trọng nhất cần có những biện pháp tác động đúng lúc và kịp thời vì mọi
sự chậm trễ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn vẫn tuân theo những quy
luật chung, song so với trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ thì ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo lớn có nội dung phong phú hơn, có cấu tạo phức tạp hơn, và mang
những nét riêng gắn với đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ ở lứa tuổi này.
- Vốn từ: Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tăng lên đáng kể. Trẻ nắm được
khoảng 3000 – 4000 từ vào cuối tuổi lên 5. Trẻ mẫu giáo lớn đã thường xuyên
sử dụng khoảng 1033 từ. Trong đó loại từ được tích lũy khá phong phú không
những về danh từ, động từ mà cả về đại từ, tính từ, liên từ... Danh từ và động
từ vẫn chiếm ưu thế nhưng tính từ và các loại từ khác cũng được trẻ sử dụng
nhiều hơn. Có thể nói rằng trẻ đã nắm được các loại từ có trong tiếng mẹ đẻ
và đủ để trẻ có thể diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày. Khả năng nắm
bắt nghĩa của từ phát triển hơn... Các từ chỉ tính chất không gian (rộng lớn,
mênh mông... ); từ chỉ tốc độ (nhanh, chậm dần... ); từ chỉ màu sắc (xanh

18



nói của trẻ có cấu trúc ngữ pháp phức tạp và nội dung biểu hiện cũng phong
phú hơn nhiều so với lứa tuổi trước.
Chẳng hạn: Trẻ 3 tuổi có tỷ lệ câu đơn là: 72,55%, câu phức là: 27,44%.
Nhưng trẻ 5 tuổi tỷ lệ câu đơn là: 62,13%, câu phức là: 37,84%
Sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ (5 - 6 tuổi) còn được quyết định bởi tính
tích cực của trẻ đối với ngôn ngữ. Những trẻ em tích cực giao tiếp, tích cực
tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của
ý thức thì không những hiểu từ ngữ và nắm ngữ pháp một cách sâu sắc mà
còn sáng tạo ra những từ ngữ, những cách nói chưa hề có trong ngôn ngữ của
người lớn.
Chẳng hạn cháu nói: "Con vịt ngã lộn phèo" hay cháu dùng từ ngữ rất lạ
để nói về màu đỏ "Đỏ choen choét". Tính tích cực cao đối với ngôn ngữ của
trẻ mẫu giáo lớn còn biểu hiện ở chỗ trẻ thích "sáng tác" thơ ca. Nhìn chung,
thì trẻ mẫu giáo chưa thể sáng tác thơ ca theo đúng nghĩa được, nhưng ở một
số trẻ do tiếp xúc sớm với những âm hưởng thơ ca nên cũng đã bắt đầu làm
thơ vào cuối tuổi mẫu giáo.
Chẳng hạn: Cháu Thu Giang đã làm bài thơ "Cái vườn". Đây là bài thơ
cháu làm đầu tiên khi cháu mới gần 6 tuổi:
"Cái vườn nho nhỏ
Cô gió đến chơi
Cô đưa võng đỏ
Ru chú mặt trời
Cháu Ngô Thị Bích Hiền cũng đă làm bài thơ "Ông mặt trời” ngay từ
lúc cháu mới 5 tuổi:
Ông mặt trời óng ánh
Toả nắng hai mẹ con
Bóng em và bóng mẹ



21


+ Các câu phải đúng ngữ pháp và có nghĩa.
+ Nội dung thông báo phải đầy đủ, khúc chiết, chính xác và hợp lý và có
chủ đề nhất định.
+ Có sử dụng các phép liên kết một cách hợp lí.
+ Các hành động ngôn ngữ được thực hiện trong các câu phải dung hợp
nhau và thực hiện được chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.
+ Có sắc thái biểu cảm trong lời nói.
Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện trình độ phát triển tương đối cao không
những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư duy nữa. Đây chính
là hình thức cao nhất của ngôn ngữ, là kỹ năng khó nhất, phải đến tuổi mẫu
giáo lớn kỹ năng này mới thể hiện rõ.
Trẻ 1 - 2 tuổi có thể sử dụng 1 từ, trẻ 2 - 3 tuổi có thể sử dụng 1 câu để
giao tiếp nhưng trẻ 5 - 6 tuổi nhờ có ngôn ngữ mạch lạc trẻ mới có thể giao
tiếp một cách đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất và có hiệu quả nhất. Nhờ ngôn ngữ
mạch lạc mà trẻ thể hiện được suy nghĩ của mình một cách đầy đủ hơn, trọn
vẹn hơn và lĩnh hội được thông tin và tình cảm của người khác thông qua
ngôn ngữ một cách chính xác hơn.
Ở tuổi mẫu giáo bé, trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu. Khi
giao tiếp với những người xung quanh, trẻ sử dụng nhiều yếu tố trong tình
huống giao tiếp để hỗ trợ cho ngôn ngữ của mình. Vì vậy, chỉ có những người
đang giao tiếp với trẻ lúc đó mới hiểu được trẻ muốn nói gì. Dần dần cuộc
sống đòi hỏi trẻ em cần phải xây dựng cho mình một kiểu ngôn ngữ mới phụ
thuộc vào tình huống hơn, nhất là khi trẻ phải mô tả lại cho người khác những
điều mà mình đã mắt thấy tai nghe. Ở đây, trẻ phải nói năng sao cho người
khác có thể hình dung ra được những điều mình định mô tả mà không thể dựa
vào tình huống cụ thể trước mắt. Kiểu ngôn ngữ này là ngôn ngữ ngữ cảnh

Tuy nhiên, trong thực tế còn khá nhiều trẻ em nói năng chưa đúng, phát
âm ngọng, dùng từ sai, nói câu què câu cụt, ngôn ngữ chưa mạch lạc. Điều

23


này đáng để cho các nhà giáo dục phải suy nghĩ. Cần phải có cách dạy dỗ
đúng đắn để khi "tốt nghiệp" trường mẫu giáo, trẻ đã nắm vững được tiếng
mẹ đẻ, nếu không trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong những năm tháng học tập
phổ thông và trong bước đường trưởng thành sau này.
Để làm việc đó một cách tích cực, ở gia đình cũng như ở trường mẫu
giáo cần phải coi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nội
dung quan trọng nhất của "giáo dục mầm non" và nhiệm vụ đó cần phải thực
hiện ngay từ năm đầu tiên cho tới cuối mẫu giáo đặc biệt là thời kỳ phát cảm
ngôn ngữ (từ 2 đến 5 tuổi). Tất nhiên, sau này cá nhân cần phải học thêm
nhiều ở trường phổ thông, trong sách báo và ngoài đời để nắm vững một cách
có ý thức hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn tiếng mẹ đẻ với tư cách là một khoa
học, nhờ đó mà nắm vững nhiều phong cách đa dạng của ngôn ngữ có thể sử
dụng trong nghề nghiệp và để nâng cao trình độ văn hoá chung của mình.
1.1.3. Vai trò của ngôn ngữ đối với phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo
lớn
1.1.3.1. Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức con người nói chung.
Nhận thức là một trong 3 mặt của đời sống tâm lý con người (nhận
thức, tình cảm và hành động). Nó là tiền đề của 2 mặt kia và đồng thời có
quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người. Hoạt động
nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ hiện
thực khác nhau gồm cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng ... và mang lại sản
phẩm khác nhau về hiện thực khách quan như: Hình ảnh, hình tượng, khái
niệm...
Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia hoạt động nhận thức thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status