sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp phát triển kĩ năng sống cho trẻ 4- 5 tuổi - Pdf 25


PHÒNG GD - ĐT QUẬN CẦU GIẤY
TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Một số biện pháp phát triển kĩ năng sống cho trẻ 4- 5 tuổi Lĩnh vực/ Môn: Giáo dục mẫu giáo
Tên tác giả : Nguyễn Thị Hà
Giáo viên mẫu giáo
Tài liệu kèm theo:
dng v giỏo dc tr t la tui mm non chớnh l c s giỳp tr phỏt trin ton
din v th cht, tỡnh cm, trớ tu, thm m, l nn tng cho quỏ trỡnh hc
tp sut i ca tr.
L mt giỏo viờn tụi quan tõm n nhng bin phỏp dy k nng sng cho
tr c bit la tui tụi ang ging dy mu giỏo nh 4-5 tui bi trong nhng
nghiờn cu khoa hc gn õy v s phỏt trin ca nóo tr ó ch ra rng: Tr
la tui ny hon ton cú kh nng giao tip, kh nng t kim soỏt thớch nghi
v th hin cm giỏc ca mỡnh. Tr cng hon ton cú kh nng hũa nhp, t
gii quyt vn mt cỏch t lp. ú chớnh l tin gieo mm ht ging nhm
hỡnh thnh k nng sng cho tr. Song do cha c trỳ trng nờn tr lp tụi
hon ton cha cú nhng k nng sng c bn y.
Vy k nng sng l gỡ ?
K nng sng chớnh l phng tin khụng th thiu giỳp tr tng nng
lc hi nhp, tớch cc, ch ng, sỏng to, t tin vng vng trc mi khú khn
th thỏch.
K nng sng chớnh l chic thỡa khúa vng cho s sng cũn, s phỏt trin
v s thnh cụng ca mi con ngi.
Khi nhc n dy k nng sng, ngi ta cho rng ú l mt caớ gỡ ú rt
cao siờu, nhng thc t dy k nng sng l dy nhng thúi quen sinh hot rt
thng ngy trong giao tip v ng x gia tr vi nhng con ngi v s vt
xung quanh. ú cng l nhng cm nhn, cm xỳc ca con ngi trc s thay
i ca mụi trng xung quanh.
Vy lm th no cú th cú mt phng phỏp truyn t n tr nhng
k nng sng tt nht? V dy di hỡnh thc no?

Là một giáo viên mầm non, qua tìm tòi nghiên cứu, nhận thức sâu sắc ý
nghĩa vai trò quan trọng của các kỹ năng sống đối với sự phát triển của trẻ. Trái
tim người mẹ hiền thứ hai đã thôi thúc tôi lựa chọn thực hiện đề tài “Một số
biện pháp giúp trẻ 4-5 tuổi phát triển kỹ năng sống”.
Ngày nay, nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được chú trọng. Tuy nhiên

các trò chơi điện tử…

- Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm,
không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh.
2. Thực trạng kĩ năng sống của trẻ
Qua điều tra thực tế về vốn kỹ năng sống của trẻ tôi nhận thấy kết quả khảo sát
trước khi thực hiện như sau:

Nội dung khảo sát
Đạt Chưa đạt
Số
Tỷ lệ
%
Số
lượng

Tỷ lệ
%
1. Kỹ năng giao tiếp 20 39 32 61
2. Kỹ năng thích nghi 16 31 46 69
3. Kỹ năng tự phục vụ và tự bảo vệ 15 29 47 71
4. Kỹ năng nhận thức. 23 44 29 56
5.Kỹ năng vận động. 17 32 45 68
6. Kỹ năng tự giải quyết vấn đề 11 21 41 79
7. Kỹ năng hợp tác, hoạt động cùng nhóm. 10 20 42 80
8. Kỹ năng tự kiểm soát cảm xúc và tạo niềm vui

14 27 38 73

Từ những số liệu trên cho thấy kỹ năng sống và việc thực hiện các kỹ

giúp trẻ phát triển khả năng ngôn ngữ thông qua việc trò chuyện với trẻ, cho trẻ
chơi những trò chơi phát triển ngôn ngữ, đọc sách hay kể chuyện cho trẻ nghe là
những hoạt động cần thiết để giúp trẻ đạt được sự giao tiếp tốt nhất.Tuy nhiên,
không phải cứ nói nhiều, nói hoài với trẻ là tốt, mà nhiều khi một bà mẹ nói
chuyện quá nhiều với con, nói những câu dài và trả lời luôn cho con khiến trẻ
chỉ biết gật gù, lại là một trong những nguyên nhân gây ra sự thụ động hay chậm
nói cho trẻ.
3.1.1. Kỹ năng giao tiếp với bạn bè
- Lớp học chính là một thế giới thu nhỏ của xã hội chúng ta ngày nay, là
nơi đa văn hóa, đa tính cách và cũng đa sở thích. Mô hình này tạo cơ hội cho
giáo viên có thể dạy trẻ học cách chấp nhận và có cơ hội để khám phá những sở
thích, những mối quan tâm chung của nhau.
Để giúp trẻ phát triển kỹ năng chơi với các trẻ khác, tôi tổ chức và tập cho
trẻ những cách chơi mang tính lần lượt, thay phiên nhau : Cô vẽ một vòng, trẻ vẽ
một vòng - cô xếp một khối gỗ,trẻ xếp một khối khác lên hay chơi những trò
chơi buôn bán, cô là người mua hàng, trẻ là người bán hàng Khi trẻ đã quen
những trò chơi cùng nhau như thế, thì khi chơi trẻ sẽ dễ dàng tham gia vào hoạt
động cùng với các bạn hơn.

Cô tạo môi trường cho trẻ giao tiếp với nhau và tạo tình huống để trẻ tự
giải quyết. Cô có thể khuyến khích trẻ, đặt câu hỏi có vấn đề để trẻ cùng nhau
suy nghĩ và tìm cách giải quyết.
Ngoài ra, cô còn sưu tầm một số câu chuyện, bài thơ mang tính giáo
dục.Giúp trẻ thấy các nhân vật trong câu chuyện, bài thơ giao tiếp với nhau như
thế nào?
Tính cách mỗi trẻ mỗi khác, có những trẻ hoạt bát hiếu động nhưng cũng
có những trẻ chậm chạp, thụ động hoặc quá nóng nảy Vì thế, giáo viên cần
phải biết rõ tính cách của từng trẻ để có thể cho các trẻ chơi với những người
bạn thích hợp với cá tính nhằm tránh xẩy ra những va chạm về tính cách.


sự nuông chiều, trẻ được chấp nhận mọi yêu cầu vô điều kiện với suy nghĩ đơn
giản là trẻ nhỏ chưa biết gì, chiều nó một chút cũng không sao, nhưng điều đó sẽ
tạo nên những hành vi và nhận thức sai lệch của trẻ mà lâu dần sẽ biến thành
thói quen rất khó thay đổi !
Đối với người lớn, trẻ cần được tập cho những lời nói lễ phép và tự nhiên,
không quá màu mè và hình thức nhưng cũng không được phép cộc lốc và xuồng
sã - Điều này trẻ sẽ học được một cách hiệu quả thông qua cách giao tiếp và ứng
xử của bố mẹ với người khác. Chúng ta sẽ không thể cấm trẻ nói năng thô lỗ nếu
chính bố mẹ thích "xả rác bằng miệng" và cũng không thể buộc trẻ lễ phép khi
bố mẹ không có những hành vi lịch sự tối thiểu.
- Ngoài ra qua những giờ học, cô lồng ghép nội dung giáo dục, cách giao
tiếp với người lớn tuổi giúp trẻ hiểu và diễn đạt nhu cầu mong muốn của mình.

- Cho trẻ tham gia đóng vai để trải nghiệm kỹ năng giao tiếp
- Tạo tình huống cụ thể để giúp trẻ giải quyết và chọn cách giao tiếp với
người lớn cho phù hợp.
3.1.3. Kỹ năng giao tiếp với người lạ
Một trong những điều mà trẻ cần phải học và nhận biết một cách đầy đủ,
đó là tính tôn trọng . Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau :
- Biết nói lời xin lỗi, biết nói cám ơn.
- Không cướp lời, nói leo khi người khác nói.
- Không tự tiện lấy và sử dụng đồ dùng của người khác.
Và cả ba khía cạnh này sẽ được trẻ học rất tốt qua sự làm gương của bố
mẹ, cô giáo và những người xung quanh. Khi chúng ta biết cám ơn và xin lỗi
những người mà chúng ta tiếp xúc trên đường phố, hay trong sự va quẹt khi
tham gia giao thông, cũng như ở ngay trong lớp cô “cảm ơn” trẻ khi trẻ giúp cô.

Kỹ năng giao tiếp là một trong
những kỹ năng thực hành . Những
lời dạy dỗ sáo rỗng không đem lại

ta vẫn chấp nhận và tôn trọng những sở thích này nhưng vẫn nên tập cho trẻ có
khả năng ăn uống đa dạng, vì nếu không có những sở thích về ăn uống của trẻ
sẽ gây ra những khó khăn, rắc rối đặc biệt là trong các chuyến đi chơi xa.
Chúng ta cũng nên biết rằng một chút thiếu vệ sinh, thiếu sạch sẽ …cũng
không gây ra tác hại nào, mà lại tạo cho trẻ có một sức đề kháng tốt hơn, tránh
được tình trạng chỉ cần uống chút nước lã, ăn chút rau sống là đau bụng, đi cầu.
- Tập cho trẻ tham dự bữa cơm gia đình để trẻ cảm nhận được niềm vui
khi ăn. Tổ chức các bữa ăn tập thể ở lớp,động viên trẻ ăn theo hình thức thi đua
để trẻ cảm thấy hứng thú khi ăn.
- Khi tổ chức bữa ăn cho trẻ ở trường cần tạo không gian thoáng mát, hợp
vệ sinh, đảm bảo an toàn cho trẻ để trẻ ăn ngon miệng.
- Có thể làm một cái lịch “ăn uống” trong tuần với trẻ trên 3 tuổi. Bữa
nào trẻ ăn được thì sẽ gắn một bông hoa và một khuôn mặt tươi cười, bữa nào
trẻ khó ăn, không tập trung ăn thì sẽ có một khuôn mặt mếu. Đến cuối tuần làm
tổng kết và khen ngợi trẻ về các khuôn mặt cười và tặng cho trẻ một món quà
nho nhỏ. Nhưng nếu nhiều khuôn mặt buồn thì cũng không nên trách mắng, mà
nên khuyến khích “: Cô biết là còn sẽ làm tốt hơn…”
Chúng ta cũng nên tìm hiểu kỹ hơn về tình trạng sức khỏe của trẻ để giúp
trẻ ăn uống tốt hơn.
- Trước bữa ăn để tạo cảm giác ăn ngon miệng và thích thú khi ăn, cô nên
giới thiệu tên các món ăn và tác dụng của những loại thực phẩm mà trẻ ăn thật
hấp dẫn và thu hút. Các bé cùng nhau thưởng thức ẩm thực quê hương 3.2.2. Kỹ năng thích nghi với môi trường
Với môi trường sống cũng thế, một môi trường bẩn thỉu và ô nhiễm là
không thể chấp nhận được, nhưng một không gian quá sạch sẽ cũng không phải

ồn ào vui vẻ, náo nhiệt, thích các hoạt động tập thể. Còn với trẻ hướng nội thì trẻ
sẽ ngại tiếp xúc với đám đông, có vẻ như dụt dè nhút nhát. Nhưng các bé cũng
có những ưu điểm để có thể thành công, đôi khi còn tốt hơn cả trẻ hướng ngoại
nếu được sự định hướng đúng cách của người lớn.
Chúng ta có thể giúp trẻ quen dần với đám đông qua việc cho trẻ tham
gia các giờ học dã ngoại, tham gia các hoạt động ở trường.
Ngoài ra, trong việc hòa nhập với xã hội, chúng ta cũng cần tập cho trẻ
những thói quen ứng xử với một phong cách văn minh, lịch sự qua những hoạt
động hằng ngày ở trường:

- Thói quen biết xếp hàng : Đây là
một thói quen mà hầu hết người lớn
chúng ta không để ý khi tham gia vào
các hoạt động chung. Nhưng hãy cố
gắng làm gương và tập cho trẻ có thói
quen xếp hàng ngay từ nhỏ để dẩn
dần thay đổi được một cách ứng xử
kém văn hóa nơi công cộng là sự
chen lấn nhau.
Ở lớp cô rèn cho trẻ thói quen xếp
hàng (không chen ngang, xô đẩy
bạn ) khi tham gia vào một hoạt động
nào đó. Cùng nhau xếp hàng đi chơi công viên
- Thói quen bỏ rác vào thùng rác:
Ngay tại lớp học cũng nên có nhiều
thùng rác, để trẻ thấy việc bỏ rác là 1
thói quen trong lớp. Khi đi chơi ngoài

trị của mọi thứ. Thỉnh thoảng có thể bạn muốn dừng nhu cầu đòi hỏi khám phá
của trẻ. Nhưng hãy nhớ rằng: Khám phá thế giới xung quanh là cần thiết cho sự
lớn lên của trẻ. Hãy tập trung năng lượng của bạn vào việc cung cấp cho trẻ
những nơi an toàn để học tập về thế giới xung quanh mình.
Nếu có thể, trước tiên, hãy để trẻ sờ vào những đồ vật trong thực tế. Sau
đó, hãy nói với trẻ về những đặc trưng, tính chất, tác dụng cơ bản của sự vật
như: “Cái chổi dùng để quét nhà, cái bút dùng để viết…” để trẻ dần dần hình
thành khái niệm về những thứ ở xung quanh mình.
Khi trẻ ở độ tuổi này thường giành ít thời gian khám phá hơn, và càng
ngày chơi càng nhiều hơn. Và chơi là "công việc" của trẻ, giúp trẻ luyện tập và
làm chủ được trí óc, thể chất và các kỹ năng xã hội.
Để giúp cho trẻ phát triển, tôi lên kế hoạch các cách làm để khám phá những
điều mới lạ và thú vị tại trường, tại nhà các khu vực lân cận. Tất nhiên công việc
này nên trao đổi với các bậc phụ huynh, đề nhị phụ huynh cùng hợp tác.
Nghĩ đến những ý tưởng mới, liên quan tới màu sắc, hình khối, kết cấu bề
mặt, và kích cỡ.
Làm một cuộc đi dạo đến những nơi mới đối với trẻ: cửa hàng, công viên,
hoặc một sở thú. Nói chuyện với trẻ về những gì trẻ thấy ở những nơi này.
Để trẻ rửa những cái đĩa nhựa với bạn, hoặc đưa cho trẻ đồ chơi để chơi khi
trẻ trong bồn tắm (và chắc chắn bạn sẽ phải thu dọn một chiến trường lộn xộn).
Cung cấp cho trẻ những nơi an toàn để bò, trốn tìm, leo trèo và khám phá
(ví dụ, bạn nên trải 1 tấm ga giường lên bàn, để tạo một cái hang giả vờ)
Nói về những cái mà trẻ và bạn nhìn thấy và nghe thấy trong khi đi dạo, đi
xe bus, hoặc lái xe. Thông qua những giờ học ngoại khóa, hay những chuyến đi
dã ngoại do trường tổ chức để trẻ giúp bạn chuẩn bị những thức ăn đơn giản, để
trẻ khám phá xem hình thức, hình khối, nguyên liệu và màu sắc (một lần nữa,
bạn chắc chắn sẽ phải chuẩn bị cho một sự lộn xộn khác). Khi nói với trẻ về thế
giới xung quanh, giáo viên không nên nói nhiều mà hãy để trẻ tự khám phá bằng
sự quan sát, suy luận của trẻ. Điều này sẽ gây hứng thú và kích thích sự sáng tạo
của trẻ. Giáo viên nên quan tâm đến những gì trẻ thích chứ không nên cố gắng

thể tự xúc ăn, chính vì vậy giáo
viên chỉ cần khuyến khích và động
viên trẻ trong giờ ăn 3.4.2. Kỹ năng tự mặc quần áo
Cô hướng dẫn trẻ cách tự mặc
quần áo, gấp quần áo, cất quần áo
vào đúng nơi quy định. Giúp trẻ
hình thành thói quen tự lập trong
việc chăm sóc bản thân.
3.4.3. Kỹ năng tự chăm lo vệ sinh cá nhân

Cô hướng dẫn trẻ cách vệ
sinh cá nhân như: rửa tay, rửa
mặt, đánh răng, tắm. Dạy trẻ
cách an toàn khi thực hiện
các việc vệ sinh cá nhân. Tạo
cho trẻ có ý thức tự giác
chăm lo vệ sinh cá nhân
thông qua các câu truy
ện,
hoạt động học tập trên lớp.


diễn kịch…Với niềm say mê tự khám
phá từ các bài học, trẻ rút ra kiến thức
để vận dụng trong cuộc sống, mỗi trẻ
sẽ giới thiệu nhiều kết quả bất ngờ.
Giáo viên đưa ra những bài tập,
những thử thách, trò chơi mang tính
chất tập thể đòi hỏi trẻ phải tự tìm
nhóm, tự hợp sức để hoàn thành yêu
cầu của cô. Từ đấy, hình thành ý thức
tập thể và làm việc theo nhóm.
Vui chơi cùng nhóm bạn trong HĐNK

3.6. 2. Kỹ năng tạo niềm vui thông qua kết quả tập thể đạt được
Khi trẻ tham gia vào một hoạt động nhóm đòi hỏi trẻ phải có sự làm việc
nghiêm túc, phải phân công rõ ràng để đạt được kết quả. Giáo viên cần có sự
động viên để trẻ thấy được sự nỗ lực của cả nhóm trong quá trình trẻ làm việc
theo nhóm. Giáo viên cần nhận xét sao cho trẻ cảm nhận được mỗi thành viên
trong nhóm đều rất quan trọng và đều đã làm việc rất tốt. Dù kết quả đó có đạt
yêu cầu hay không đạt yêu cầu thì trẻ vẫn cảm thấy giá trị của sự đoàn kết giữa
các thành viên trong nhóm, tự biết động viên và an ủi, tạo niềm vui cho nhau
thông qua kết quả tập thể đạt được.

3.6. 3. Kỹ năng tạo ra tinh thần đồng đội
Trẻ ở độ tuổi này đã biết làm việc
theo nhóm và thích tham gia vào
những hoạt động tập thể. Tuy
nhiên, đôi khi trẻ vẫn làm việc theo
nhóm với cách hiểu đơn giản là gộp
các bạn lại chứ ít nhiều chưa có sự
gắn kết. Vì vậy, giáo viên cần tổ

thiện việc tự kiểm soát của mình. Nó cũng là một thái độ bày tỏ sự tán dương trẻ
không nên mất kiểm soát trong những tình huống khó khăn hoặc dễ gây bực bội.
- Giữ bình tĩnh khi đối phó với hành vi hung hăng của trẻ. Các trẻ học hỏi
từ những gì trẻ quan sát được. Giáo viên nên là hình mẫu khi dạy trẻ và trong
cuộc sống. Tuyệt đối không đánh hoặc thô bạo với trẻ ngay cả khi giáo viên
đang thất vọng hay mệt mỏi. Chỉ cần giáo viên có hành vi thô bạo, trẻ cũng sẽ
bắt chước theo ngay.
- Nói chuyện với trẻ thật nghiêm túc và rõ ràng với ngôn ngữ mà trẻ hiểu
được để chấm dứt hành vi xấu. Nghiêm khắc nói với trẻ câu đơn giản như: "Con
không được làm như vậy. Cô không thích điều đấy". Điều này cho phép trẻ biết
rằng hành vi của trẻ là không thể chấp nhận được. Hoặc chuyển sự chú ý của trẻ
sang hoạt động khác để đánh lạc hướng.
- Kỷ luật trẻ khi cần thiết (với thời gian ngắn) để trẻ biết hành vi hung
hăng không được phép. Trong độ tuổi từ 3 đến 6, trẻ có thể phải đứng ở góc phạt
trong vòng vài phút hoặc cách ly trẻ khỏi bạn chơi nếu trẻ cắn người bạn này.
Cách ly trẻ khỏi cả đồ chơi và giải thích trẻ đang bị phạt vì trẻ vừa đánh, cắn bạn
và la hét.
- Hạn chế cho trẻ tiếp xúc với truyền hình hoặc trò chơi có tính bạo lực vì
chúng có thể thúc đẩy hành vi hung hăng của trẻ. Giáo viên cũng nên trao đổi
với phụ huynh thận trọng với chương trình tivi dành cho người lớn vì nó có thể
không phù hợp với trẻ nhỏ tuổi hơn.
- Nhận biết sự giận dữ và khó chịu của trẻ thông qua trò chuyện. Cô giáo
cần giúp trẻ bộc lộ trạng thái cảm xúc tiêu cực. Qua đó, giúp trẻ hiểu rằng, tức
giận là được chấp nhận nhưng cắn hay đá bạn là không được phép. Hãy hỏi trẻ:
"Trông con giận dữ thế. Cho cô biết tại sao?" - một cuộc hội thoại có thể ngăn
chặn hành vi hung hăng ở trẻ.
-

Tạo một biểu đồ phần thưởng giúp trẻ kiếm được miếng dán bé ngoan
hoặc đồ chơi nhỏ cho hành vi tốt. Các trẻ trong độ tuổi này cần được người lớn

những phương án giải quyết cho mình, nếu trẻ làm tốt thì sẽ động viên khuyến
khích, khen trẻ, nếu trẻ không tự giải quyết được thì giáo viên sẽ đưa ra những
gợi ý để trẻ tự giải quyết, từ đấy dần hình thành thói quen tự lập và phản ứng
nhanh với các tình huống trong cuộc sống.
3.8 Xây dựng mối quan hệ gần gũi mật thiết trong lớp học.
Trong mỗi lớp học đều tồn tại mối quan hệ giữa: Cô giáo - học sinh - phụ
huynh. Xây dựng mối quan hệ gần gũi mật thiết giữa lớp học chính là việc xây
dựng mối liên hệ hai chiều hài hòa giữa:
Cô giáo

Phụ huynh Học sinh
Trong lớp tôi, tôi luôn lỗ lực để tạo dựng tình cảm hai chiều mở rộng, gần
gũi, yêu thương gắn bó giữa cô và trẻ. Cô là người bạn cùng trẻ chia sẻ cảm xúc vui
buồn, cùng trẻ vui chơi, học tập, lắng nghe và thấu hiểu những suy nghĩ tình cảm
của trẻ. Cô khuyến luôn khích trẻ tạo cơ hội và niềm tin để trẻ sẵn sàng bày tỏ, trò
chuyện bộc lộ khả năng, năng lực cảm xúc của minh. Ở bên trẻ không có một áp
lực nào, trẻ mạnh dạn hồn nhiên và sống đúng với những suy nghĩ của mình. Đó là
điều kiện không thể thiếu để trẻ phát triển kỹ năng chủ động tích cực sáng tạo, là
môi trường để trẻ được bộc lộ và để sống cuộc sống của chính mình.
- Mối liên kết tình cảm, tình bạn thân thiết trong sáng giữa trẻ với trẻ trong
lớp cũng luôn được tôi dày công vun đắp và nâng niu. Trong mọi hoạt động tôi

luôn tạo cơ hội để trẻ gần gũi quan tâm đến nhau và kết hợp với nhau để cùng
học,cùng chơi, cùng hoạt động. Biểu dương khuyến khích những nhóm bạn biết
cùng nhau tiến bộ và biết thể hiện sự quan tâm, yêu thương, gắn bó lẫn nhau.
“Học thầy không tày học bạn”
- Đối với phụ huynh để việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có hiệu quả
nhất thì giáo viên cần phải thật sự thắt chặt mối dây liên hệ giữa hai bên.
- Ngay từ đầu năm học thông qua các buổi họp phụ huynh tôi đã trân tình
cởi mở trao đổi nội dung kế hoạch giáo dục hình thành kỹ năng sống cho trẻ để phụ

thành kỹ năng sống cho trẻ.
- Được phụ huynh tin yêu, quý mến, yên tâm gửi gắm con em cho mình.

b. Đối với trẻ:
- Trẻ biết lao động phù hợp với sức của mình, tự tin, bạo dạn trước nơi
đông người, vững vàng , chủ động, có bản lĩnh trong mọi tình huống.
- Trẻ được trang bị đầy đủ những kỹ năng sống cơ bản.
- Giúp trẻ có điều kiện để phát triển một cách toàn diện.
Qua điều tra thực tế về vốn kỹ năng sống của trẻ tôi nhận thấy kết quả
khảo sát sau khi thực hiện như sau:
Nội dung khảo sát
Đạt Chưa đạt
Số
Tỷ
lệ%
Số
lượng

Tỷ lệ
%
1. Kỹ năng giao tiếp 49 95 3 5
2. Kỹ năng thích nghi 48 92 4 8
3. Kỹ năng tự phục vụ và tự bảo vệ 50 96 2 4
4. Kỹ năng nhận thức. 48 92 4 8
5.Kỹ năng vận động. 47 90 5 10
6. Kỹ năng tự giải quyết vấn đề 45 87 7 13
7. Kỹ năng hợp tác, hoạt động cùng nhóm. 49 95 3 5
8. Kỹ năng tự kiểm soát cảm xúc và tạo niềm vui 45 87 7 13

Biểu đồ thể hiện kết quả khảo sát sau khi thực hiện


T
ỷ lệ đạt

95% 92% 96% 92% 95%
90% 87% 87% 13% 13%
5% 8% 4% 8% 10% 5%

III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Kỹ năng sống là một yếu tố quan trọng điều khiển ý thức và hành vi của
con người. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non sẽ mang lại cho các cháu rất
nhiều lợi ích về mặt sức khỏe, giáo dục và cả văn hóa xã hội, giúp các con sớm
có một cơ thể cường tráng, lành mạnh về trí tuệ cũng như thể lực, sớm có ý thức
và khả năng thích nghi với cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng
đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như cho cộng đồng.
Giáo dục những năm tháng đầu đời có ý nghĩa cho cả cuộc đời. Giáo dục
mầm non là những viên gạch đầu tiên có ý nghĩa hết sức quan trọng cho những

lãnh đạo cho đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Cầu Giấy, ngày 22 tháng 03 năm 2012
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Nguyễn Thị Hà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status