Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thực hành qua dạy học lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến năm 1945 cho học sinh lớp 11, trường trung học phổ thông chuy[170308] - Pdf 26

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THỰC HÀNH
QUA DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ NĂM 1917 ĐẾN
NĂM 1945 CHO HỌC SINH LỚP 11, TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG CHUYÊN TRẦN PHÚ - HẢI PHÒNG
(CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
MÃ SỐ: 601410 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.VŨ QUANG HIỂN HÀ NỘI - 2012


Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Xã hội chủ nghĩa

4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1. Bảng tổng hợp số lượng học sinh trường THPT Chuyên Trần
Phú - Hải Phòng trong 5 năm (2006 - 2011).

32
Bảng 2.1. Bảng niên biểu những sự kiện tiêu biểu diễn ra ở nước Nga
(Liên Xô) từ năm 1917 đến năm 1945.

55
Bảng 2.2. Niên biểu tình hình các nước tư bản trong cuộc khủng hoảng

Oasinhtơn.

63
Hình 2.2. Sơ đồ các giải pháp thoát khỏi khủng hoảng kinh tế 1929 -
1933 của các nước tư bản.

66
Hình 2.3. Sơ đồ các lực lượng của phong tràoMặt trận Dân chủ Đông
Dương (1936 - 1939).

67
Hình 2.4. Đồ thị thể hiện sự gia tăng sản lượng một số sản phẩm công
nghiệp của Liên Xô (1929 - 1938).

69
Hình 2.5. Đồ thị thu nhập quốc dân của Mĩ (1929 - 1941).
69
Hình 2.6. Biểu đồ sản lượng công nghiệp của Liên Xô năm 1937.
71
Hình 2.7. Biểu đồ về tỉ lệ thất nghiệp ở Mĩ (1920 - 1946)
73

1.1. Cơ sở lý luận
14
1.1.1. Xuất phát điểm
14
1.1.2. Quan niệm về kỹ năng thực hành
19
1.1.3. Các kỹ năng thực hành trong bộ môn lịch sử
27
1.1.4. Vai trò và ý nghĩa của việc rèn luyện kỹ năng thực hành trong
dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông

29
1.2. Cơ sở thực tiễn
31
1.2.1. Đặc điểm học sinh trường THPT Chuyên Trần Phú, Hải Phòng
31
1.2.2. Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng thực hành trong bộ môn
lịch sử ở trường THPT Chuyên Trần Phú, Hải Phòng

33
1.2.3. Một số kết luận rút ra từ thực tế
38
Chƣơng 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
THỰC HÀNH CHO HỌC SINH LỚP 11 TRƢỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN TRẦN PHÚ - HẢI PHÒNG QUA
DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ NĂM 1917 ĐẾN NĂM 1945
(CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN)


30
2.3.1. Xây dựng và hướng dẫn học sinh làm bài tập lịch sử
50
2.3.2. Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống
76
2.4. Giáo án thực nghiệm
84
2.4.1. Mục đích của việc thực nghiệm
84
2.4.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
85
2.4.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm
85
2.4.4. Kết quả thực nghiệm
86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
95
PHỤ LỤC
98
bản chất, nguồn gốc của khoa học, mà những cơ sở khoa học này được giảng
dạy qua các bộ môn. Khoa học ra đời trong quá trình hoạt động thực tiễn của
con người, bao giờ cũng gắn liền với hoạt động sản xuất và hoạt động xã hội
của con người. Nó là sự tổng kết những kinh nghiệm trong lao động sản xuất
và đấu tranh xã hội, đạt tới trình độ khái quát hoá và trừu tượng hoá. Việc học
đi đôi với hành trong nhà trường không chỉ giúp cho việc thu nhận kiến thức
9

sâu sắc mà còn làm cho học sinh biết vận dụng vào thực tiễn, góp phần vào
lợi ích xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam, qua Nghị quyết các Đại hội đại biểu
toàn quốc, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, cũng như trong chỉ đạo công
tác giáo dục, bao giờ cũng xác định nhiệm vụ của giáo dục là giáo dục thế hệ
trẻ phát triển toàn diện.
Luật Giáo dục (2005) quy định: „„Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ
và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công nhân,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc‟‟. Vì vậy,
„„Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyễn
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm tin, hứng thú học tập cho học sinh‟‟ [4, tr.10]. Như vậy, khái niệm „„phát
triển‟‟ năng lực trong giáo dục nói chung, trong dạy học lịch sử nói riêng
được hiểu một cách đầy đủ về nhiều mặt, chứ không chỉ phải là trí lực.
Thực tế cho thấy, công tác giáo dục lịch sử ở nhà trường hiện nay hầu
hết vẫn nghiêng về dạy năng lực tư duy cho học sinh, thiếu thời gian dành cho
học sinh phát triển các kỹ năng thực hành bộ môn lịch sử. Một số ít người đến
nay vẫn còn cho rằng học lịch sử không cần có bài tập thực hành, vì đó không
phải là môn học thực nghiệm như các môn khoa học tự nhiên, cũng không cần

tạo ra hứng thú hăng say học tập bộ môn đối với học sinh. Khi thực hành, bản
thân học sinh phải trực tiếp tiến hành các thao tác hành động cụ thể, các kỹ
năng, kỹ xảo bộ môn ngày càng được phát triển.
Trong quá trình giáo dục, học sinh không những cần biết lịch sử thế giới,
lịch sử dân tộc mà còn phải biết yêu mến và tự hào về truyền thống lịch sử xây
dựng và bảo vệ đất nước của tổ tiên ngay trên mảnh đất mình đang sinh sống và
học tập. Thực hành lịch sử đặc biệt có ý nghĩa khi các em được học tập, rèn
luyện, trải nghiệm trong môi trường cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
11

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử, bản thân tôi thấy rẳng việc
rèn luyện kỹ năng thực hành trong bộ môn này là rất cần thiết. Thực hành lịch
sử là một biện pháp đặc biệt quan trọng để phát triển năng lực tư duy nói
chung và năng lực tư duy lịch sử nói riêng. Ngoài ra, nó còn có tác dụng rèn
luyện tích cực, chủ động, sáng tạo trong cả suy nghĩ và hành động của chủ thể
nhằm đưa lại kết quả tốt nhất sau một quá trình lao động trí tuệ.
Xuất phát từ thực tiễn dạy học ở trường phổ thông và vai trò của thực
hành đối với quá trình nhận thức của học sinh, tôi quyết định nghiªn cøu ®Ò
tµi: Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thực hành qua dạy học lịch sử thế
giới hiện đại từ năm 1917 đến năm 1945 cho học sinh lớp 11 trường THPT
Chuyên Trần Phú - Hải Phòng (chương trình chuẩn).
2. Lịch sử vấn đề
Mỗi chế độ xã hội bao giờ cũng có tư tưởng giáo dục chính thống phục
vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ quyền lợi cho một số ít
hoặc số đông các thành viên trong xã hội. Tuy nhiên, dù ở chế độ xã hội nào
thì mục tiêu cuối cùng của giáo dục là nhằm phát triển toàn diện nhân cách
của người được giáo dục theo chuẩn mực của xã hội đó quy định. Mục tiêu
của giáo dục Việt Nam là hoàn thành chức năng cơ bản trong việc nâng cao
dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để xây dựng xã hội ngày càng
phát triển, văn minh, tiến bộ. Để đạt được mục tiêu đó, người học (học sinh)

thực hành, ông cũng nhận thấy trong quá trình thực hiện công việc, nhất là
những công việc mang tính tổng hợp dễ làm nảy sinh ở học sinh những nhu
cầu áp dụng độc lập các tri thức. Nhờ đó mà khả năng sáng tạo phát triển.
Theo Savin, việc mở rộng khối lượng các công việc thực hành trong học tập
đã thúc đẩy lý luận dạy học tìm kiếm các điều kiện để nâng cao hiệu quả của
chính các biện pháp này.
T.A.Ilina: Giáo dục học, tập II, Nxb Giáo dục 1973, xem công tác thực
hành của học sinh như một phương pháp dạy học. Ví dụ phương pháp học tập
ở phòng thí nghiệm, thực nghiệm, phương pháp luyện tập, ôn tập…
13

Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: Giáo dục học tập I, Nxb Giáo dục 1987,
nhấn mạnh trong dạy học nhất định phải gắn tri thức học sinh đã học với thực
tiễn bằng những hoạt động cụ thể, có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận với thực tiễn, một trong những nguyên tắc cơ bản của lý
luận dạy học. Qua hoạt động thực tiễn, những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo học
sinh nắm được sẽ hòa nhập vào hệ thống tri thức kỹ năng, kỹ xảo đã có và trở
thành những phần hữu cơ trong hệ thống đó. Hệ thống này phải được củng cố
thường xuyên thì chúng mới tồn tại một cách vững chắc được.
N.G.Đari: Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào, Đặng Bích Hà và
Nguyễn Cao Luỹ dịch, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1973, khẳng định: Học là để
giáo dục, nên không thể dừng lại ở mức độ học thuộc lòng. Theo ông, trong
giờ học lịch sử cần phải kích thích các hoạt động độc lập của học sinh bằng
cách ra các bài học nhận thức. Đây là một cơ hội tốt để học sinh vận dụng
kiến thức đã học vào thực tiễn. Như vậy, N.G.Đari đã đề cập đến một biện
pháp thực hành - làm bài tập lịch sử của học sinh. Nhưng ông chưa đi sâu vào
vấn đề này mà chỉ dừng lại ở việc nhắc tới vị trí quan trọng của bài tập nhận
thức đối với việc phát huy tư duy độc lập của học sinh.
Nguyễn Thị Côi - Trịnh Đình Tùng - Lại Đức Thụ - Trần Đức
Minh: Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử, Trường Đại học

Cũng như cuốn Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử,
giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử tập trung vào hướng dẫn giáo viên,
sinh viên sư phạm cách tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh, chưa đi
sâu nghiên cứu những vấn đề chủ yếu của kỹ năng thực hành như: khái niệm,
nội dung, phương thức thực hiện, và tác dụng của nó trong việc phát triển
nhận thức của học sinh.
Quan điểm về thực hành trong bộ môn lịch sử cũng được thể hiện trong
các bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành giáo dục.
PGS.TS Trịnh Đình Tùng - Kiều Thế Hƣng: “Xây dựng và sử dụng
bản đồ trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu Giáo dục số 6/1994. Trên cơ sở vận dụng những lý luận về xây dựng và
15

sử dụng bản đồ lịch sử, bài viết đã hướng dẫn một cách cụ thể các bước tiến
hành và xây dựng một bản đồ sách giáo khoa treo tường nhằm phát huy khả
năng của thầy - trò để bổ sung và làm phong phú hệ thống đồ dùng trực quan
ở trường phổ thông.
PGS.TS Nguyễn Thị Côi - Phạm Thị Kim Anh: “Hướng dẫn học
sinh làm bài tập lịch sử”, Nghiên cứu Giáo dục số 6/1994.
Trần Quốc Tuấn: “Bài tập lịch sử trong việc tích cực hoá hoạt động
nhận thức của học sinh”, Nghiên cứu Giáo dục số 2/1998.
Trong hai bài viết trên các tác giả đã đưa ra quan niệm của mình về bài
tập cũng như vai trò của nó với việc học tập của học sinh và đi vào tìm hiểu
một số loại bài tập cơ bản được sử dụng trong nhà trường phổ thông.
GS.TS Phan Ngọc Liên - T.S Vũ Ngọc Anh: “Thực hiện chuẩn kiến
thức, kĩ năng, thái độ trong dạy học lịch sử qua bài Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời” đăng trên tạp chí Giáo dục số 184/2008 cũng khẳng định: học sinh
không chỉ tiếp nhận một cách thụ động, thuộc lòng sự kiện do giáo viên cung
cấp mà còn tự mình sưu tầm, chọn lựa sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái
niệm, đặt và giải quyết vấn đề, làm bài tập, tự đánh giá, liên hệ thực tế, vận

học tập bộ môn, đề tài đi sâu nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp kết hợp
các dạng tổ chức hoạt động học tập khi dạy học lịch sử trong giờ lên lớp và
ngoại khóa nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả
học lịch sử ở trường phổ thông.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ :
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, giáo dục lịch sử
viết về vấn đề phát triển các kỹ năng nhận thức, thực hành của học sinh. Qua
đó, tìm hiểu cơ sở lý luận về việc rèn luyện kỹ năng thực hành và việc kết hợp
các hoạt động thực hành nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh
trong dạy học lịch sử.
17

- Nghiên cứu, khai thác nội dung sách giáo khoa Lịch sử 11 (2007),
Nxb Giáo dục, phần lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến năm 1945, xác
định những nội dung có thể áp dụng các biện pháp thực hành, từ đó đề xuất
một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh khi dạy học phần
lịch sử này.
- Điều tra, quan sát thực tế dạy học lịch sử ở trường THPT Chuyên
Trần Phú, Hải Phòng. Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường
trung học phổ thông Chuyên Trần Phú - Hải Phòng để kiểm tra tính khả thi
của các ý kiến đề xuất.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Là một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh lớp 11
trường THPT Chuyên Trần Phú, Hải Phòng qua dạy học lịch sử thế giới hiện
đại từ năm 1917 đến năm 1945 (chương trình chuẩn).
5. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Chủ thể của các hoạt động thực hành là học sinh lớp 11 trường THPT
Chuyên Trần Phú (Hải Phòng), đây là nơi tôi đang thực hiện công tác giảng
dạy, trường có những điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài.

nay và thực tiễn tổ chức các hoạt động thực hành trong giờ học lịch sử.
- Soạn giáo án thực nghiệm, vạch ra kế hoạch và các dự kiến cụ thể cho
các hoạt động thực hành tại trường trung học phổ thông Chuyên Trần Phú,
Hải Phòng.
7. Giả thuyết khoa học
Thực hiện tốt các đề xuất được đưa ra trong luận văn góp phần rèn
luyện kỹ năng thực hành cho học sinh qua dạy học lịch sử ở bậc THPT, qua
đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử.
8. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài hoàn thành có giá trị thiết thực cho bản thân
tác giả, cũng như các đồng nghiệp quan tâm, hiểu biết sâu sắc hơn lý luận về
19

phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử, phương pháp rèn luyện kỹ năng, cách
thức tổ chức thực hành cho học sinh… góp phần rèn luyện tinh thần lao động,
tính kiên nhẫn cho các em thông qua các hoạt động học tập để nhận thức tốt
hơn kiến thức môn học.
Thực hiện đề tài cũng là một hình thức trau dồi chuyên môn nghiệp vụ
sư phạm, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Kết quả nghiên cứu nhằm
nâng cao nhận thức của bản thân tác giả về chuyên môn, nghiệp vụ, làm cơ
sở, tiền đề cho bản thân vận dụng vào quá trình giảng dạy lịch sử ở trường
phổ thông.
Đề tài giúp học sinh lớp 11 nói riêng và học sinh trung học phổ thông nói
chung học tập tốt, hiểu biết và yêu thích lịch sử. Đồng thời là một tài liệu tham
khảo hữu ích trong công tác giảng dạy lịch sử đối với các đồng nghiệp khác.
Ý nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cụ thể
hóa lý luận về phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
xung quanh vấn đề rèn luyện kỹ năng thực hành của học sinh, qua đó, thực
hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay.
Thứ nhất, là sự khái quát cơ bản những vấn đề lý luận về rèn luyện kỹ
21

CHƢƠNG 1
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Xuất phát điểm
1.1.1.1. Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường THPT
Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở
lý luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo
dục phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng, nội dung của môn
học và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể.
Đảng Cộng sản Việt Nam, qua Nghị quyết các Đại hội đại biểu toàn
quốc, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, cũng như trong chỉ đạo công tác
giáo dục, bao giờ cũng xác định nhiệm vụ của giáo dục là giáo dục thế hệ trẻ
phát triển toàn diện.
Văn kiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 - Ban chấp hành trung ương
Đảng khoá VIII nhấn mạnh: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là
nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn

hiện nay.
Về giáo dưỡng: bộ môn Lịch sử ở trường THPT cung cấp cho học sinh
những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử trên cơ sở củng cố, phát triển nội
dung kiến thức lịch sử đã học ở Trung học cơ sở, hợp thành nội dung giáo dục
lịch sử của bậc THPT, bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản, nhân vật tiêu biểu,
thời gian, không gian, các khái niệm, thuật ngữ, những hiểu biết về quan điểm
lí luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập, phù hợp
với yêu cầu và trình độ của học sinh.
23

Về kỹ năng: tiếp tục hoàn thành các kỹ năng cần thiết cho học tập Lịch
sử; rèn luyện năng lực tư duy và thực hành trên cơ sở hoàn chỉnh và nâng cao
những năng lực được hình thành ở Trung học cơ sở. Cụ thể là bồi dưỡng cho
học sinh: tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích,
đánh giá, liên hệ… Kỹ năng học tập và thực hành bộ môn bao gồm: sử dụng
sách giáo khoa và các tài liệu khác có liên quan, nâng cao năng lực trình bày
nói và viết, làm và sử dụng đồ dùng trực quan, ứng dụng thành tựu công nghệ
thông tin vào học tập, tổ chức và thực hiện những hoạt động ngoại khoá của
môn học. Ngoài ra học sinh phải biết vận dụng các kiến thức lịch sử đã học
vào cuộc sống hiện nay.
Về giáo dục: giáo dục quan điểm, thái độ, tình cảm, tư tưởng, lập
trường, phẩm chất đạo đức, nhân cách thông qua học tập lịch sử là yêu cầu
quan trọng cần chú ý thực hiện. Tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giáo
dục trí tuệ mà cả thái độ tình cảm, tư tưởng, góp phần đào tạo con người Việt
Nam toàn diện có: lòng yêu nước XHCN, lòng yêu quê hương; tinh thần đoàn
kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc; niềm tin vào sự phát triển hợp quy
luật của xã hội loài người và dân tộc; có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn
sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế; những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống
cộng đồng…
Tóm lại, mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT là cung cấp kiến

riêng là yêu cầu cấp thiết trong cải cách giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển của đất nước. Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa
trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4 - 1999).
Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
25

việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [4, tr. 10].
Đổi mới PPDH cần có một cuộc cách mạng về tư duy: thay đổi kiểu tư
duy đơn tuyến - tư duy coi phương pháp là hệ thống các nguyên tắc, điều
chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạp thực tiễn; chuyển kiến thức
của thầy sang trò theo một chiều. Tư duy đa tuyến là tư duy đặt phương pháp
vào hệ thống hoạt động gồm nhiều thành tố, là tư duy theo hệ hình thái tương
tác, bao quát tổng thể mỗi sự vật, từ đó nắm được bản chất cụ thể và sâu xa
của sự vật.
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học
tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo
được hứng thú học tập cho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc
phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn; làm cho
học là một quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập,
khai thác và xử lý thông tin… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất.
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lý.
Chú trọng hình thành các năng lực tự học, dạy phương pháp và kĩ thuật lao

Giáo dục phải được thực hiện thông qua hành động và bằng hành động của bản
thân (tư duy và thực tiễn)” [20, tr. 6]. Cho nên, bồi dưỡng và phát triển năng
lực học tập, nhất là bồi dưỡng phương pháp tự học trong đó có phương pháp
thực hành là nhiệm vụ không thể thiếu được trong suốt quá trình dạy học.
1.1.2. Quan niệm về kỹ năng thực hành
1.1.2.1. Quan niệm về thực hành
Thực hành hiểu theo tiếng Nga (practika) là một hoạt động của con
người có áp dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất để tích lũy kinh nghiệm.
Theo từ điển tiếng Anh, thực hành (practise) là công việc thực hiện của
những người có nghề mang tính chuyên nghiệp như bác sĩ, luật sư. Ở đây,

Trích đoạn Lựa chọn phương phỏp phự hợp Về chuẩn kỹ năng Vận dụng những kiến thức đó học vào thực tế cuộc sống Kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status