Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
1
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TẬP LÀM VĂN CHO
HỌC SINH LỚP 6 TRONG DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN
PHẦN A : ĐẶT VẤN ĐỀ 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN .
Bước vào một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên hội nhập toàn cầu. Đảng và nhà
nước ta trong những năm đầu của thế kỷ XXI liên tục đưa ra các chủ trương
xã hội hóa giáo dục, nên đã có nhiều chuyển biến tích cực về công tác giáo
dục và đào tạo như: Tập trung mọi điều kiện để thực hiện tốt việc dạy học
nhằm năng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các cấp các bậc học.
Một yêu cầu bức thiết đang đặt ra hiện nay là đổi mới phương pháp dạy
học sao cho phù hợp nhất và nhiệm vụ trọng tâm đưa lên hàng đầu là: “Nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp bậc học. Trong đó bậc THCS
luôn được Bộ giáo dục quan tâm chú trọng . Bởi vì đó là cấp học cung cấp
kiến thức cần thiết và đònh hướng tương lai cho học sinh - những chủ nhân
tương lai của đất nước.Trong những năm gần đây Đảng và nhà nước ta kết
hợp với bộ giáo dục đã đề ra những biện pháp thúc đẩy sự nghiệp giáo dục ở
các trường THCS. Một trong những giải pháp đó là: Không ngừng nâng cao
chất lượng giảng dạy của giáo viên nhằm phát huy tính tích cực , chủ động,
sáng tạo của học sinh. Chọn ra những phương pháp dạy học phù hợp giúp học
sinh tiếp thu một cách hiệu quả các môn học trong đó có môn Ngữ văn.
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học – kó thuật và công
nghệ, tri thức của nhân loại đang gia tăng theo cấp số nhân . Không những
thông tin ngày càng nhiều mà với sự phát triển vượt bậc của các phương tiện
thông tin , con người ngày càng có nhiều cơ hội để tiếp cận với các thông tin
mới một cách nhanh chóng hơn. Trước tình hình đó, một vấn đề đặt ra cho
nhà trường là cần phải xem lại chức năng truyền thống của người giáo viên
Thông qua phân môn Tập làm văn, giáo viên có thể tiến hành giáo dục
tư tưởng, tình cảm thẩm mó cho học sinh. Tác dụng giáo dục của tập làm văn
chủ yếu thông qua quá trình quan sát, suy nghó, phân tích, tổng hợp , sáng tạo
của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bài Tập làm văn của học sinh
phản ánh khá rõ ràng nhận thức, tình cảm của các em về những vấn đề văn
học và đời sống. Mỗi bài tập làm văn đối với học sinh là “ một tác phẩm
nhỏ”, quá trình xây dựng một “Tác phẩm nhỏ” là quá trình xây dựng cái
đẹp. Ngoài ra, phân môn Tập làm văn dạy cho học sinh viết đúng, nói đúng,
viết hay, nói hay, sẽ đóng vai trò trong việc thực hiện nhiệm vụ lớn lao là
bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt .
Tóm lại : Tác dụng giáo dục và giáo dưỡng của phân môn Tập làm văn rất
to lớn . Nó phục vụ đắc lực cho mục tiêu giáo dục của nhà trường Trung học
cơ sở.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở nói chung , chương trình
Ngữ văn lớp 6 nói riêng, có rất nhiều tiết Tập làm văn và đặc biệt ở chương
trình sách giáo khoa lớp 6 được triển khai 2 thể loại văn đó là tự sự và miêu
tả và nhà biên soạn cũng coi trọng mối quan hệ đồng qui, đã gắn bó với ba
phân môn Văn – Tiếng – Tập làm văn và cũng vạch ra đònh hướng kết nối
hệ thống tri thức trong từng phân môn, thậm chí, kiến thức của môn Ngữ văn
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
3
có thể được kết nối với kiến thức của các môn khoa học khác. Việc tiếp cận
tinh thần đổi mới của sách giáo khoa theo hướng tích hợp giữa các phân môn
đó là một phương pháp dạy tốt nhất để phát huy tính sáng tạo của học sinh
trong phân môn tập làm văn .
Phân môn Tập làm văn có vai trò như đã nêu ở trên, thế nhưng qua thực
tế, chúng ta thấy năng lực cảm thụ văn chương và đưa văn chương vào cuộc
sống của đại đa số các em lớp 6 còn yếu. Có những học sinh cấp trung học
cơ sở mà viết những đoạn văn, bài văn thật ngây ngô khiến cho người đọc
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
4
Rèn luyện kó năng làm văn cho học sinh là một hoạt động thiết thực , có
nhiệm vụ cung cấp cho học sinh tri thức lí thuyết, vừa rèn luyện kó năng thực
hành vừa khắc phục những thiếu sót về nói và viết, vừa nâng cao trình độ
ngôn ngữ cho phù hợp với bật trung học cơ sở . Những nhiệm vụ này được
thực hiện trong qua trình dạy và học không phải theo lối tách rời từng mặt
một mà phải được kết hợp với nhau một cách có hệ thống theo một tuyến chủ
đạo thống nhất. Sau đây là những kinh nghiệm và đề xuất của
chúng tôi về việc kó năng làm văn cho học sinh lớp 6 .
II. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN :
1. Phát phát hiện một số lỗi tiêu biểu cho học sinh :
Qua tìm hiểu khảo sát bài kiểm tra đầu năm học 2008-2009 của một trăm
tám mươi tư bài. Đã phát hiện các lỗi điển hình cơ bản :
- Trong đó lỗi sai : 200 lần
+ Lỗi nhận diện đề : 48 lần (24% )
+ Lỗi về lập luận : 47 lần (23,5%)
+ Lỗi về dùng từ : 65 lần (32,5%)
+ Lỗi về bài viết thiếu văn chương : 40 bài ( 20%)
Tuy nhiên đây là đề bài làm nên chúng tôi không thể đưa ra hết các dẫn
chứng về lỗi học sinh đã mắc phải một cách cụ thể rõ ràng, mà chúng tôi nêu
ra một số dẫn chứng tiêu biểu và chỉ ra những nguyên nhân của những lỗi ấy
mà thôi .
Sau đây là hai đề bài tôi dùng làm kiểm tra khảo sát :
Đề 1: Tả lại một người bạn thân mà em yêu mến .
Đề 2: Từ bài văn “ Lao xao” của Duy Khán, em hãy tả lại khu vườn một buổi
sáng đẹp trời .
a. Lỗi về nhận diện đề :
Học sinh chưa xác đònh đúng yêu cầu của đề .
Ví dụ1 : “ Bạn Hoa là người rất tốt . Bạn ấy thường xuyên giúp đỡ các bạn
mến”, kết luận thiếu tính thuyết phục “ bạn ấy con nhà nghèo nên học rất
giỏi”
Nguyên nhân : Vốn từ nghèo nàn, chưa hiểu hết nghóa của từ .
Ví dụ2 : “Em rất thích khu vườn này vì khu vườn này rất đẹp, rất nên thơ.
Em mong sao mai này lớn lên em cũng có khu vườn như vậy để em trồng
cây, trồng hoa làm giàu cho quê hương đất nước xứng đáng là con ngoan trò
giỏi cháu ngoan Bác Hồ” .
Lỗi của đoạn văn : Lặp từ “ khu vườn”, áp đặt thiếu logic , thiếu thuyết
phục “… Trồng cây, làm hoa làm giàu cho quê hương đất nước xứng đáng là
con ngoan trò giỏi cháu ngoan Bác Hồ” ( “ mai sau” nghóa là lúc đã trưởng
thành thì không thể trở thành con ngoan trò giỏi cháu ngoan Bác Hồ được ).
Nguyên nhân : Chưa tự độc lập suy nghó còn phụ thuộc vào những khuôn
mẫu sáo mòn dẫn đến tình trạng viết mà không hiểu ý nghóa của lời đã viết ,
không thấy được tính bất hợp lí của lời văn .
c. Lỗi dùng từ :
Học sinh dùng rất nhiều từ không hợp lí, thiếu chính xác .
Ví dụ 1 : - Đối với việc học bạn ấy rất nghiêm trang còn khi đi chơi thì bạn
ấy thoải mái ( từ sai là nghiêm trang nghiêm túc ) .
- Bạn ấy rất gầy nên khi bạn cười da bạn nhăn nheo trông rất hay
( Nhăn nheo : da mặt người già, cách dùng từ không phù hợp ) .
- Sáng nào bạn cũng dậy sớm vét nhà sạch sẽ giúp đỡ cha mẹ .
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
6
( vét quét ) .
Ví dụ 2: - Em rất ngậm ngùi khi vườn nhà em thay lá ( ngậm ngùi – buồn
đau , xúc động )
- Những chùm xoài treo lơ lửng trên cành trông rất thích mắt. ( Lơ lửng –
lủng lẳng )
- Sáng nào cũng vậy, ngủ dậy là em chạy ngay ra vườn để hít thở bầu
không khí trong lành, lúc ấy em thấy mình như là một nhà du hành vũ trụ
vẻ thoáng ít giới hạn hơn .
Bên cạnh những đề có nêu đầy đủ : (1 )
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
7
+ Quê em đổi mới .
+ Kể về một việc tốt mà em đã làm .
+ Kể về người thân .
+ Kể về một lần em mắc lỗi .
+ Kể về một chuyến về thăm quê .
+ Kể về một chuyến ra thành phố .
Giáo viên cần phải hướng dẫn cho các em xác đònh thể loại thông qua
tín hiệu ẩn trong đề .
Chẳng hạn đề (1) Quê em đổi mới . Tức là học sinh phải kể về sự đổi mới
của quê mình qua đó bày tỏ tình cảm của bản thân trước sự đổi mới đó
Không được bỏ xót khâu tìm hiểu đề, khi hướng dẫn học sinh làm
bài tập làm văn ở các tiết dạy trên lớp mà cần làm việc này một cách
nghiêm túc. Thậm chí ta có thể đưa ra thật nhiều đề để học sinh nhận diện,
có như vậy ta mới rèn luyện cho học sinh nhận diện đúng đề. Bởi có xác đònh
đúng yêu cầu của đề thì học sinh mới có một dàn ý tốt và tránh được lỗi thiếu
ý và dài dòng lan man .
b/ Kinh nghiệm giúp học sinh lập luận tốt :
Đối với học sinh có năng khiếu về văn chương thì giáo viên nên hướng dẫn
kó vì trong một bài văn yếu tố lập luận được thể hiện tính chặt chẽ hợp lí của
nó. Bởi lập luận là cách lựa chọn, sắp xếp, trình bày lí lẽ, dẫn chứng thành cơ
sở vững chắc cho luận điểm . Làm được điều này quả là không dễ, trước hết
giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách diễn đạt, nắm được các kiểu lập luận
cơ bản thông qua việc phân tích mẫu ở những tiết hướng dẫn cách làm văn
nói chung và các tiết hướng dẫn lập luận trong văn kể chuyện và miêu tả nói
riêng (tránh tình trạng giảng chung chung ). Tập trung là có các cách lập
luận cơ bản sau :
chò không nhắm mắt khoanh tay mà tích cực tìm cách được chồng ra khỏi cơn
hoạn nạn. Hình ảnh chò Dậu hiện lên vững chãi như một chỗ dựa chắc chắn
của gia đình .
+ Lập luận so sánh : Là phân tích bằng cách đối chiếu, đặt sóng đôi hai
đối tượng, hai vấn đề trên cơ sở sự giống nhau giữa chúng ( thường là đối
chiếu một sự vật không biết hoặc biết ít với một sự việc quen thuộc để làm
cho ý nghóa của chúng rõ ràng hơn, sinh động hơn ). Có ba loại lập luận so
sánh .
So sánh tương tự ( loại suy ) : Là suy lí từ chỗ hai đối tượng giống nhau
ở một số dấu hiệu ( một số mặt, tính chất hoặc quan hệ ) từ đó rút ra kết luận
rằng hai đối tượng này cũng giống nhau ở các dấu hiệu khác .
Ví dụ : “ Dân ta có lòng nồng nàn yêu nước . Đó là truyền thống q
báu của dân tộc ta . Từ xưa đến nay , mỗi khi Tổ quốc bò xâm lăng thì tinh
thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ , to lớn, nó
lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ
cướp nước”
So sánh tương đồng : Là đặt vấn đề này lên vấn đề khác có chung
một số nét đồng nhất để làm nổi bật vấn đề phân tích .
Ví dụ : Đảng ta vó đại thật : Một ví dụ “ Lòch sử ta có ghi tên vò anh
hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng gốc tre đánh đuổi giặc ngoại xâm .
Trong những ngày đầu kháng chiến, Đảng ta đã lãnh đạo hàng nghìn hàng
vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng dùng gậy tầm vông đánh thực dân
Pháp”
So sánh tương phản : Là đặt cái sáng bên ngoài cái tối, cái trắng bên
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
9
cạnh cái đen, cái tốt bên cái xấu để làm nổi bật cái cần được giải thích .
Ví dụ : Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi
cũng mất , chẳng những gia quyến của ta bò tan mà vợ con các ngươi cũng bò
khốn ….”
từ . Trong quá trình đọc sách gặp những trường hợp dùng từ hay , cần ghi vào
sổ tay văn học của cá nhân để tích luỹ, và nếu được thì khuyến khích mỗi
em mua một quyển từ điển Tiếng Việt để phục vụ cho việc học tập của mình
- Cuối cùng người giáo viên cần phải dùng từ chính xác để làm khuôn
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
10
mẫu cho các em noi theo. Điều này được thể hiện ngay trong lời giảng, lời
ghi của giáo viên ở từng tiết học và ngay cả lời nói thường ngày khi quan hệ
giao tiếp với các em .
d/ Kinh nghiệm giúp học sinh viết văn có chất văn chương .
Một nhà phê bình văn học có uy tín nói rằng : “ Giải một bài toán tìm
được đáp số là xong, nhưng làm một bài văn , tìm được đáp số công việc xem
như mới được một nửa”. Bài văn hay là bài văn diễn đạt tốt “ đáp số” . Thực
ra đối với việc tập làm văn, nếu không diễn đạt tốt “ đáp số” (nhận thức và
cảm thụ chính xác chân lí văn học ) thì kết quả vẫn chỉ là một cái gì còn ẩn
kín trong đầu của người viết mà thôi. Đọc một bài thơ, một đoạn văn , một
cuốn sách ai cũng thấy hay. Nhưng hay ở chỗ nào ? Vì sao như thế lại hay ?
Nói cho rõ ra đã khó, đặt bút xuống viết , diễn tả cho biết những cảm nghó
của mình để người đọc cảm thấy là hay lại cngf khó hơn, các em trong quá
trình làm văn chắc sẽ gặp phải tình huống : ý đã có rồi, đã có dàn ý nhưng
sao diễn đạt không được . Nhiều khi viết xong đọc lại thấy ý, câu văn rời rạc,
lời lẽ nhạt nhẽo vô cùng. Thế là các em thiếu tự tin không dám viết mà đối
phó bằng cách chép lại bài văn mẫu một cách vô ý thức. Lâu dần, sự rung
cảm bò thui chột, văn chương của các em trở nên xáo rỗng, vô hồn. Vậy làm
thế nào để các em có thể viết một bài văn vừa có ý, vừa có hồn, vừa mang
đậm dấu ấn cá nhân ? Sau đây là mấy kinh nghiệm cụ thể :
- Cần làm cho các em có rung cảm thật sự trước đối tượng làm văn. Muốn
làm được điều này không phải một sớm một chiều là có kết quả mà phải trải
qua một quá trình thật công phu và tỉ mỉ với nhiều tác động khác nhau : Năng
khiếu, gia đình, hoàn cảnh … trong đó vai tò của người giáo viên dạy văn là
kích thích học sinh tự tìm tòi học hỏi, tự viết văn .
+ Đừng bao giờ để học sinh có suy nghó là mình không có khiếu văn
chương . Quan niệm này có hai chỗ sai lầm :
* Một là học sinh không đánh giá đúng mình nên thiếu tự tin chưa cầm đến
sách, chưa quen bài giảng mà đã nghó mình không có năng khiếu về môn này
thì sẽ không bao giờ học được cả. Cụ thể là học sinh không dám tự viết mà
cứ tìm cách vay mượn bài làm của người khác .
* Hai là học sinh đánh mất khả năng phấn đấu . Muốn giúp các em dẹp bỏ
suy nghó này , giáo viên cần phải biết cách đánh giá dúng về các em , trân
trọng về khả năng của các em dù là nhỏ. Làm được như vậy sẽ tạo được
niềm tin, kích thích khả năng sáng tạo của học sinh. Các em mới mạnh dạn
viết ra điều mình nghó, bài làm của các em mới có hồn, có dấu âùn cá nhân
được. Sau đây là một số đoạn văn tiêu biểu :
- Cây nhãn đã gắn bó với tôi suốt những năm tháng tuổi thơ. Mỗi lần tôi
đến trường, Cây nhãn xoè bóng rợp đường tôi đi . Mùa xuân , hoa nhãn nở
khắp trời tung cái màu vàng ươm mỡ màng phủ kín cả làng quê. Và cứ ngày
nào cũng vậy, trên đường đi học về, tôi lại đứng lặng dưới rặng nhãn mắt
nhắm lại, hít những hơi thật sâu để hương thơm của nhãn tràn cả vào lòng
ngực. Một mùi thơm dòu mát khó tả . Tôi gọi đó là mùi của quê hương .
- Đôi mắt của mẹ thật đẹp ! Một đôi mắt trong trẻo, thắm đượm sự bao
dung , âu yếm. Đôi mắt đỏ hoe lo lắng những lần tôi ốm nặn. Đôi mắt sáng
bừng hạnh phúc khi thấy chúng tôi vui, thiết tha an ủi, động viên mỗi lần con
va vấp … Khi còn nhỏ, tôi chẳng bao giờ dám nhìn thẳng vào đôi mắt ấy mỗi
lần mẹ mắng. Nhưng rồi, tôi lớn lên, can đảm hơn, tôi đã rụt rè ngước nhìn
lên , và thấy có ánh gì rất lạ trong đôi mắt ấy … Không phải là sự giận dữ ,
mà là ngọn lửa của lòng yêu thương , những ánh lấp lánh của niềm hy vọng …
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
12
Sau đây tôi xin lấy một ví dụ cụ thể về “ Xây dựng một bài văn tự sự - kể
chuyện đời thường cho học sinh lớp 6 .
Nêu tình cảm ý nghóa của em đối với ông .
Lập dàn bài xong giáo viên hướng dẫn cách làm , viết từng đoạn một ,
bước cuối cùng là đọc lại và sửa chữa .
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
13
thật cụ thể: hướng dẫn học sinh chuẩn bò bài chu đáo , thường xuyên . Động
viên các em luôn chủ động , tích cực tìm hiểu khám phá , chiếm lónh nội dung
bài học trước khi đến lớp ; tích cực lắng nghe và thắc mắc về những nội dung
mà mình chưa hiểu rõ .
-Thường xuyên kiểm tra những công việc đã giao cho học sinh, tuyên
dương , ghi điểm xứng đáng cho những em có ý thức thực hiện tốt và tìm hiểu
nguyên nhân đối với những em không hoàn thành công việc được giao .Từ đó
tìm cách khắc phục kòp thời , trên cơ sở động viên, khuyến khích là chính để
các em không có cảm giác sợ hãi mà trái lại , dần có được sự tự tin, có hứng
thú đối với bài học .
- Giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp, gây hứng thú cho học
sinh. Đặc biệt tích cực sử dụng hiệu quả phương pháp trực quan. Phân phối
thời gian hợp lý cho tiết học. Giáo viên nên chủ động dành nhiều thời gian
cho phần luyện tập , ưu tiên giải các bài tập khó ngay tại lớp . Giáo viên nên
yêu cầu học sinh làm các bài tập còn lại ở nhà , và hoàn tất các bài tập trên
lớp vào vở bài tập. Giáo viên nên giành thời gian hợp lý để chữa những bài
tập về nhà được cho là khó .
III. KẾT LUẬN
Đối với người giáo viên dạy môn Ngữ văn thì phân môn Tập làm văn
vốn được coi là phân môn " khô - khó – khổ ", mà tiết rèn viết văn là một
trong những tiết khó dạy của môn văn. Nhưng khó, không có nghóa là không
thể dạy hay và dạy hiệu quả. Vấn đề đặt ra là người giáo viên có chủ động
đối mặt và tìm cách khắc phục những khó khăn ấy hay không?
Xuất phát từ thực tế giảng dạy, qua quá trình đúc rút kinh nghiệm của
bản thân và đồng nghiệp, tôi đã mạnh dạn đề xuất những suy nghó, quan
điểm của mình góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
15
Nguyễn Thị Hạnh – THCS Trần Phú
16
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP. PLEIKU TÊN ĐỀ TÀI RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 6 TRONG
DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN
Mã SKKN : …………………………….