SKKN NGỮ văn 7 rèn LUYỆN kĩ NĂNG VIẾT đoạn văn NGHỊ LUẬN - Pdf 50

A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ Lí do chọn đề tài:
Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống
xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan
niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống. Có thể nói không có văn nghị luận thì khó
mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc trong đời sống. Có năng lực nghị
luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội.
Với đối tượng là học sinh lớp 7, trước khi học văn nghị luận, các em đã được học
các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm. Trong các kiểu văn bản này, các em đã
được rèn luyện về khả năng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, nhận xét,
đánh giá, bộc lộ cảm xúc … về sự vật, sự việc, con người. Đó là những nền móng
quan trọng để các em học tốt phần văn nghị luận. Tuy nhiên, để học tốt loại hình
văn bản này không phải là điều đơn giản, bởi với đối tượng là học sinh lớp 7, các
em còn quen với kiểu tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận; ít có bản lĩnh, ít
có chủ kiến đối với các vấn đề trong cuộc sống.
Bởi vậy, để giúp các em học tốt được văn nghị luận, bước đầu giáo viên cần nhẹ
nhàng, thận trọng hướng dẫn các em những thao tác đơn giản để các em tiếp cận
vấn đề một cách tự nhiên, hứng khởi và hiệu quả. Tránh sự truyền thụ kiến thức
một cách vội vàng, nhồi nhét khiến các em cảm thấy khó khăn rồi dẫn đến chán
nản.
Với học sinh lớp 7, việc tạo lập được một văn bản nghị luận không phải là điều
đơn giản. Nên trước tiên, giáo viên cần hướng dẫn các em kĩ năng viết thành thạo
các đoạn văn bằng những cách lập luận đơn giản nhất, mà phép lập luận chứng
minh là một trong những phép lập luận dễ thực hiện, bởi nó gần gũi với thực tế
cuộc sống mà các em đã trải nghiệm.

1


II/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
Mặc dù đã được thầy cô rèn luyện rất nhiều về bố cục, dàn bài của một bài văn

%
15
24.6

Trung bình
SL
%
33
54,1

Yếu, kém
SL
%
12
19,7

- Kết quả bài làm của học sinh không cao là do những lỗi sau:
+ Phần Mở bài học sinh chưa dẫn dắt được vấn đề, chưa nêu khái quát được
vấn đề chính cần chứng minh và chưa định hướng được phương thức nghị luận,
phạm vi nghị luận của bài.
+ Chưa biết dùng từ ngữ để chuyển từ Mở bài sang Thân bài, từ Thân bài sang
Kết bài; chưa có sự liên kết giữa các đoạn văn trong phần Thân bài. Các đoạn trong
phần Thân bài còn sắp xếp lộn xộn. Chưa biết cách xác định nội dung (luận điểm)
trong một đoạn, hoặc xác định được nhưng triển khai chưa rõ ràng.
+ Phần Kết bài chưa có sự khái quát, khẳng định và nhấn mạnh tư tưởng của
bài; có nhiều bài thiếu sự hô ứng giữa Mở bài và Kết bài.
- Nguyên nhân của các lỗi trên:
+ Do mới lần đầu tiếp xúc với kiểu văn này nên các em còn bỡ ngỡ, thiếu kinh
nghiệm trong cách làm bài.
+ Các em đang còn quen với lối tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận

vì trên thực tế, có nhiều em khi không có tài liệu sẽ không có khả năng tự viết,
thậm chí viết được nhưng diễn đạt rất lủng củng; bên cạch đó các em cũng sẽ
không rèn luyện được khả năng học thuộc mà điều này thì lại rất cần trong học môn
Ngữ văn.
4


- Một điều nữa cần phải làm tốt khi luyện tập, đó là giáo viên phải quán xuyến
được lớp cả khi làm bài, khi trình bày và khi nhận xét bài của bạn. Bởi điều này sẽ
giúp các em nắm chắc vấn đề một cách tự nhiên nhưng rất sâu sắc.

PHẦN II: Các biện pháp thực hiện:

5


I- Củng cố kiến thức về đoạn văn nói chung, đoạn văn nghị luận, đặc điểm
của văn nghị luận, phương pháp lập luận chứng minh
1/ Đoạn văn:
Đoạn văn là một đơn vị cấu thành văn bản. Văn bản là một chỉnh thể thống nhất,
thường bao gồm nhiều đoạn văn. Các đoạn văn trong văn bản vừa cần được tách ra
một cách rõ rệt, vừa cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Bên trong mỗi đoạn văn
cũng cần có sự liên kết của các câu. Hơn nữa, các câu trong đoạn văn cần có quan
hệ với nhau, tạo nên những kiểu kết cấu của đoạn văn. Mỗi đoạn văn thường có
nhiều câu, diễn đạt một ý chọn vẹn. Về hình thức, đoạn văn được mở đầu từ chỗ
viết hoa lùi vào và hết đoạn là dấu hết câu và xuống dòng.
Khi cung cấp lí thuyết về đoạn văn, giáo viên cần cho học sinh biết đây là đoạn
văn thông thường mà các em cần đạt tới khi viết; còn trên thực tế, để thể hiện
những ý đồ nghệ thuật thì có nhiều đoạn văn trong các tác phẩm văn học có cấu tạo
hết sức đặc biệt.

luận điểm phụ như: "Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ", "Hút thuốc gây thiệt hại về
kinh tế", "Nghiện thuốc lá có thể dẫn tới các tệ nạn xã hội "…Tuy nhiên, cách phân
chia như trên chỉ được sử dụng theo ý nghĩa tương đối.
- Luận điểm có hình thức phán đoán: Đó là câu khẳng định tính chất, thuộc tích,
như:
+ Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước
+ Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội.
+ Sách là người bạn lớn của con người.
+ Học cơ bản mới có thể trở thành tài.
b- Luận cứ: là những lí lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm. Lí lẽ là những đạo
lí, lẽ phải đã được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình. Dẫn chứng là sự việc, số
liệu, bằng chứng để xác nhận cho luận điểm. Dẫn chứng phải xác thực, đáng tin

7


cậy, không thể bác bỏ. Lí lẽ và dẫn chứng đáng tin cậy làm cho luận cứ được vững
chắc.
c- Lập luận: là cách nêu luận điểm và vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận
điểm được nổi bật và có sức thuyết phục. Luận điểm được xem như là kết luận của
lập luận. Lập luận bao gồm các cách suy lí, quy nạp, diễn dịch, phân tích, so sánh,
tổng hợp, sao cho luận điểm đưa ra là hợp lí, không thể bác bỏ. Lập luận thể hiện
trong cách viết đoạn văn và trong việc tổ chức bài văn. Mở bài cũng có lập luận,
Thân bài cũng có lập luận và Kết bài cũng có lập luận. Trong luận cứ cũng có lập
luận. Có thể nói lập luận có ở khắp trong bài văn nghị luận. Có lập luận mới đưa ra
được luận điểm như là kết luận của nó.
4- Phương pháp lập luận chứng minh: là cách sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để chứng
tỏ một nhận định, luận điểm nào đó là đúng đắn. Ví dụ: Văn bản "Đừng sợ vấp
ngã" trong Phần I, bài "Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng minh" - trang 41,
sách giáo khoa Ngữ văn 7; tác giả đã lấy những dẫn chứng về những nhân vật nổi

nay luôn luôn sống theo đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".
Với đề bài này và với cách Mở bài bằng cách đối lập vấn đề, học sinh cũng có
thể diễn đạt theo nhiều kiểu:
(1): Trong cuộc sống, có những kẻ vì lợi ích bản thân mà chà đạp lên cả những
người đã có ơn với mình. Hay vì mải mê với những bộn bề của cuộc sống mới mà
quên đi những ân tình trong quá khứ. Để nhắc nhở họ, cha ông đã đã có câu "Ăn
quả nhớ kẻ trồng cây" .
(2): Sống trên đời có không ít kẻ bội bạc, vô ơn, "Ăn cháo đá bát", "Qua cầu rút
ván". Để nhắc nhở họ sống theo đạo lí tình nghĩa, thuỷ chung, ông cha đã đúc kết
thành câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" .

2/ Cách viết các đoạn văn trong phần Thân bài:

11


Đối với bài văn lập luận chứng minh, phần Thân bài có nhiệm vụ nêu ra những
lí lẽ và dẫn chứng để chứng tỏ luận điểm là đúng. Các đoạn văn trong phần Thân
bài cũng có nhiều cách lập luận, nhưng cơ bản phải đạt được các yêu cầu: trình bày
lí lẽ, dẫn chứng sao cho phù hợp để làm sáng tỏ một luận điểm trong bài và giữa
các đoạn phải đảm bảo được sự liên kết chặt chẽ.
Trong phần Thân bài của bài văn lập luận chứng minh, các đoạn văn thường
được sắp xếp theo theo trình tự: phân tích lĩ lẽ trước rồi mới đến nêu dẫn chứng để
chứng minh.
Mặc dù có nhiều cách suy luận khi viết đoạn văn lập luận chứng minh, nhưng
theo tôi, với học sinh lớp 7 chỉ cần tập cho các em viết đoạn văn theo ba kiểu suy
luận, đó là: : suy luận tương đồng, suy luận nhân quả, suy luận tổng phân hợp.
a/ Viết đoạn văn lập luận chứng theo phương pháp suy luận tương đồng:
Đây là kiểu suy luận mà người viết dùng những câu văn có chức vụ tương đương
nhau trong một đoạn văn, bởi vậy nó thường dùng khi viết đoạn phân tích lí lẽ ở

kẻ sống “Vong ân bội nghĩa”, “Ăn cháo đá bát” chỉ biết coi trọng lợi ích bản thân;
coi trọng đồng tiền, giàu sang, phú quý; chạy theo danh vọng mà quên rằng: ai là
người sinh ra họ, đã nuôi dưỡng và dạy dỗ họ nên người. Đối với cha mẹ, họ ỷ lại
vào công việc, mà không quan tâm chăm sóc . Đối với xã hội họ thờ ơ, vô cảm. Đối
với loại người đó, xã hội chúng ta cần lên án và phê phán. Qua đó, nâng tầm nhận
thức để mỗi chúng ta phải luôn luôn nhớ ơn những người đi trước, những người đã
sinh thành, dưỡng dục, đã hi sinh xương máu để có được đất nước hôm nay.

b/ Viết đoạn văn lập luận chứng theo theo phương pháp suy luận nhân quả:
13


Đây là kiểu lập luận mà người viết đưa ra các luận cứ làm cơ sở để rút ra kết luận
(luận điểm) hoặc ngược lại, đưa ra luận điểm rồi dùng các luận cứ để chứng minh.
Ví dụ: Viết một đoạn thân bài cho đề văn: Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ
xưa đến nay luôn luôn sống theo đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".
(1) Lập luận nhân quả theo kiểu đưa ra luận điểm sau đó dùng luận cứ để
chứng minh:
Thực hiện lời dạy của cha ông, những người Việt Nam hôm nay luôn sống xứng
đáng với đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Trong kháng chiến, chúng ta có
"Phong trào Trần Quốc Toản" giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ. Phong
trào này được nhanh chóng lan rộng ra trên khắp mọi nơi. Các bạn nhỏ sau giờ
học đều toả ra các xóm, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, các gia đình có
công với Cách mạng bằng những việc làm tuy nhỏ nhưng mang nặng nghĩa tình,
góp phần động viên, an ủi rất lớn đối với họ. Xã hội luôn nhớ đến công ơn mà
những người chồng, người cha, người con của họ đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.
Trong xã hội bây giờ, Đảng, Nhà nước đã có những chế độ, chính sách đối với
những gia đình thương binh, liệt sĩ. Đối với cha mẹ, cũng có những người con hết
mực thương yêu, kính trọng cha mẹ vì họ hiểu chính cha mẹ đã cho họ cuộc sống
tươi đẹp như hôm nay: "Công cha nặng lắm cha ơi!- Nghĩa mẹ bằng trời chín

dạy dỗ chúng ta khôn lớn thành người. Tiếng gọi "Mẹ, Ba" và những bước đi chập
chững đầu tiên của con trẻ chính là những nấc thang tột cùng hạnh phúc của mẹ
cha. Họ luôn ở bên cạnh để chúng ta có được cuộc sống bình yên, hạnh phúc như
ngày hôm nay. Rồi những người công nhân, kĩ sư, bác sĩ đã không tiếc công sức,
mồ hôi, trí tuệ lao động xây dựng cuộc sống. Họ là những người dám hi sinh tất cả
15


cuộc đời mình để cống hiến cho đất nước. Rồi những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì
nền độc lập tự do cho dân tộc, hay những anh lính ngoài biên cương và những
chiến sĩ công an đang ngày đêm vất vả vì cuộc sống bình yên cho mọi người. Bởi
vậy, chúng ta phải nhớ ơn họ vì đây là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
đã được truyền dạy từ bao thế hệ nay: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".
3/ Cách viết đoạn Kết bài:
Đối với bài bài văn lập luận chứng minh thì phần Kết bài phải nêu được kết luận
nhằm khẳng định tư tưởng, thái độ, quan điểm của bài (nêu được ý nghĩa của luận
điểm đã được chứng minh).
Phần Kết bài cần có sự liên kết với phần Thân bài bằng các từ ngữ liên kết, như:
Tóm lại …, Như vậy…; hoặc nhắc ý trong phần Mở bài.
Lưu ý: Phần Kết bài phải đảm bảo sự hô ứng với phần Thân bài, chẳng hạn: nếu
mở bài đi thẳng vào vấn đề thì kết bài cũng nêu ngay bài học, nếu mở bài bằng
cách đối lập vấn đề thì kết bài nêu ý phủ định điều đối lập và khẳng định ý nghĩa
của vấn đề.
Ví dụ: Viết phần Kết bài cho đề văn: Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ xưa
đến nay luôn luôn sống theo đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".
(1): Viết đoạn kết bài theo kiểu mở bài trực tiếp:
Câu tục ngữ trên mộc mạc, đơn giản nhưng đã dạy cho chúng ta những bài
học quý giá: không có thành quả nào tự nhiên mà có được mà tất cả đều được tạo
ra từ thành quả lao động, bằng mồ hôi, xương máu của những người đi trước.
Chúng ta- thế hệ mầm non của tương lai đất nước nguyện sẽ chăm chỉ học tập để

2
3,3

2/ Bài học kinh nghiệm:
Qua việc áp dụng những kinh nghiệm trong việc rèn luyện cho học sinh cách
viết đoạn văn lập luận chứng minh, với kết quả đạt được như trên, tôi đã rút ra cho
mình những bài học sau:
- Trước hết, giáo viên cần phải điều tra đối tượng để nắm được tình hình thực tế
của học sinh, đặc biệt là tìm ra những lỗi mà các em thường mắc phải khi là văn.
Từ đó, tìm ra nguyên nhân để có hướng khắc phục. Qúa trình phát hiện lỗi, tìm ra
nguyên nhân và sửa chữa cho học sinh cần có một qua trình lâu dài, tỉ mỉ.
- Khi truyền thụ kiến thức, đặc biệt là những thuật ngữ trong văn nghị luận, như:
luận đề, luận điểm, luận cứ…, giáo viên cần diễn đạt nó bằng những ngôn ngữ dễ
18


hiểu nhất, không cần thiết phải dùng ngôn ngữ trong sách giáo khoa. Và để học
sinh dễ hiểu những khái niệm này, giáo viên cần có những dẫn chứng thật cụ thể,
gần gũi với đời sống và phù hợp với tâm lí lứa tuổi của các em.
- Trong qúa trình luyện tập phải thực hiện từng bước, bởi với đối tượng là học
sinh lớp 7, nếu chúng ta nóng vội, nhồi nhét thì sẽ gây áp lực cho các em, dẫn đến
việc các em sẽ không còn hứng thú mà trở nên chán nản.
- Khi luyện tập cần phải chú ý đến tất cả các đối tượng học sinh, giáo viên cần có
các dạng đề theo các cấp độ khác nhau để vừa sức với từng đối tượng học sinh.
- Trong khi luyện tập cần khuyến khích những em bộc lộ được những quan điểm
cá nhân một cách sáng tạo, nhằm khuyên khích các em thể hiện bản lĩnh và chủ
kiến của mình- điều mà đối tượng là học sinh lớp 7 đang còn e ngại. Tránh việc áp
đặt, bởi nếu áp đặt, các em sẽ làm bài theo kiểu dập khuôn, không phát huy được
tính sáng tạo của mình.
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong việc rèn luyện học sinh viết đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status