SKKN nghiên cứu và xây dựng các bước để rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn được tốt hơn - Pdf 29


PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đều biết: Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là
vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết trong việc tạo lập văn bản. Từ đó, giúp học
sinh hình thành ý thức và nhân cách cũng như trình độ học vấn cho các em ngay khi
đang học bậc học THCS và trưởng thành sau này. Qua việc rèn luyện kĩ năng viết
đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quí trọng gia
đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tình cảm
cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét
cái xấu, cái ác và cũng từ đó rèn cho các em tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước
đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật. Trước hết là
trong văn học có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công
cụ để tư duy và giao tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải hướng dẫn cho
các em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu trong đoạn
văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các phương tiện liên kết
trong đoạn văn. Tuỳ theo từng phương thức diễn đạt khác nhau mà viết theo lối qui
nạp, diễn dịch, song hành hay móc xích.
Để viết được đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng như vậy để tạo
thành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành (khi đã dùng
các phương tiện liên kết trong văn bản).
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều những phương tiện hiện đại,
thông tin đại chúng cập nhật liên tục khiến cho học sinh lao vào con đường say mê
“nghiện” sách vở bị lãng quên, ham bạo lực điện tử, sách kiếm hiệp. Vì vậy, các em
không còn ham đọc sách, ham nghiên cứu. Cho nên, việc viết một đoạn văn lại càng
là vấn đề đáng quan tâm khi chúng ta rèn luyện cho các em.Hơn thế nữa, tập làm
văn là môn học thực hành tổng hợp ở trình độ cao của môn Văn – Tiếng Việt, môn
Tập làm văn được xem như vị trí cốt lõi trong mối tương quan chặt chẽ với Văn và
Tiếng Việt. Như vậy, chúng ta dạy Tập làm văn cho học sinh là dạy cho các em nắm
vững văn bản, biết xây dựng các đoạn văn thông thường. Rèn luyện cho học sinh là

Lần thay sách giáo khoa này, phân môn Tập làm văn được tích hợp cùng phân
môn Văn và Tiếng Việt trong chương trình Ngữ Văn mới. Các kiểu văn bản của Tập
làm văn chính là trục để xây dựng nội dung, chương trình Ngữ Văn THCS từ năm
học 2002 – 2003.
III/ MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục đích .
Phân môn Tập làm văn giúp cho học sinh nắm được các thể loại trong chương
trình tập làm văn ở THCS như Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận, Thuyết minh,
Điều hành. Từ đó, giúp học sinh biết vận dụng các thể loại văn bản để phục vụ cho
học tập, trong đời sống. Đặc biệt đề tài này sẽ giúp cho các em biết cách xây dựng
đoạn văn biểu cảm nói riêng và đoạn văn thuộc các thể loại nói trên, với bố cục đoạn
văn dù ngắn hay dài đều phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức,
hướng dẫn cho các em rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục ba phần: Mở bài,
Thân bài, Kết luận.
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó. Ý chính đó, có thể đứng ở đầu
đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp hoặc ý
chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành.
Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình thức
nói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã tiếp thu
được qua các môn Văn – Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để có thể nói
và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau mà cuộc sống
đặt ra cho các em.
Viết đoạn văn (trong phân môn Tập làm văn còn trực tiếp rèn luyện cho học
sinh một số đức tính như lòng nhân ái, tính trung thực, sự kiên trì…Bởi vì môn này
góp phần phát triển trí tưởng tượng óc sáng tạo, biết phân biệt: đúng, sai, tốt, xấu,
phải, trái… Từ đó, nuôi dưỡng tâm hồn học sinh hướng tới cái chân, thiện, mĩ .
2. Nhiệm vụ
Người giáo viên phải nắm lấy ưu thế của học sinh như những tri thức, vốn sống,
tư tưởng, tình cảm để phát huy những khả năng cao hơn. Đồng thời, qua đó uốn nắn,
điều chỉnh, hạn chế những lệch lạc trong nhận thức, vốn sống, tư tưởng, tình cảm

bản ở bậc THCS, đủ để giao tiếp bằng văn bản và tiếp tục học lên ở những bậc trên.
1.Phương pháp lí thuyết .
Bước đầu dạy cho học sinh những khái niệm về từng thể loại văn, làm quen với
những đề văn mẫu, những bài văn mẫu và tìm hiểu cụ thể từng bài qua các tiết học:
Lí thuyết về đoạn văn. Qua đó, giúp học sinh học, tìm hiểu cách xây dựng đoạn văn,
bố cục đoạn văn, các câu chốt (câu chủ đề) trong đoạn văn, viết theo các cách diễn
dịch, qui nạp, song hành, móc xích …Từ đó, cho học sinh tập viết đoạn văn, có vận
dụng lí thuyết về thể loại văn ấy. Tuy nhiên, phương pháp lí thuyết không quá nặng.
2.Phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu.
Học sinh là chủ thể trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của các em trong quá trình tiếp nhận. Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu
cho học sinh tự thân vận động là chính, giáo viên im lặng đến mức tối đa để khuyến
khích học sinh sáng tạo trong giờ Tập làm văn. Vậy, trong tiết học Tập làm văn mà
đặc biệt là tiết rèn luyện viết đoạn văn, hướng dẫn các kĩ năng nghiên cứu, tìm hiểu
để vận dụng các kiến thức đã học để dựng đoạn theo đặc điểm thể loại để tạo lập văn
bản.
3. Phương pháp kiểm tra, khảo sát .
Với phương pháp này, đòi hỏi học sinh phải thực hành liên tục, chắc chắn các
thao tác từ lí thuyết về thể loại sau đó đến nghiên cứu, tìm hiểu. Từ đó, ta mới đi vào
kiểm tra, khảo sát để thấy được sự vận dụng tổng hợp, để sáng tạo văn bản qua
nhiều bước trong quá trình rèn luyện các kĩ năng. Đó là điều kiện để đánh giá học
sinh thông qua bài kiểm tra, bài viết ở lớp (hoặc ở nhà) đòi hỏi phải đánh giá đúng
năng lực của học sinh và đòi hỏi một sự nhạy cảm của thầy trước yêu cầu thực hành
của học sinh.
4. Phương pháp cố vấn, chuyên gia .
Đây là những phương pháp khó đối với học sinh. Học sinh thường không chú ý
đến những cái khó khăn này và cũng không cần hỏi ai những vấn đề cần tháo gỡ,
cần đến chuyên gia cố vấn.
Mặc dù, mức độ lí thuyết mang tính trừu tượng, việc kiểm tra, đánh giá, cố vấn,
chuyên gia, giáo viên giúp học sinh vận dụng kiến thức vào viết văn rõ ràng hơn.

văn (hay còn gọi là câu chốt). Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm
rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song hành…
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các phương tiện liên kết
để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Có nhiều phương tiện liên kết trong đoạn
văn: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các cụm từ thể hiện
ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát…,và dùng câu nối trong đoạn văn.
Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách hợp lí, tạo tính chỉnh
thể cho văn bản.
Như vậy, các phương tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nhưng đồng thời chúng
cũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn. Mặt khác, lại có những
phương tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau, nên cần lựa chọn các phương
tiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của người viết, với sự việc được phản
ánh và tình huống giao tiếp cụ thể.
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học sinh để
phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc rèn luyện kĩ
năng viết đoạn văn được tốt và làm nền tảng cho chương trình THPT. Mặc dù vậy,
học sinh ở các trường THCS, phần lớn có khuynh hướng không thích học văn mà
đặc biệt là phân môn tập làm văn. Và vì thế nó đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiếp
thu, vận dụng sáng tạo các kĩ năng viết đoạn văn của các em.
II/ THỰC TRẠNG VIẾT ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM CỦA HỌC SINH THCS
Cũng bộ môn Ngữ văn, nhưng theo khảo sát, phần lớn các em học phân môn
Tập làm văn còn yếu mà đặc biệt là cách dựng đoạn văn khiến cho giáo viên và học
sinh còn rất lúng túng. Thường thì thời lượng quá ngắn mà kiến thức nhiều, nên học
sinh không thể tìm hiểu kĩ các đoạn văn mẫu. Phần lớn học sinh hiểu sơ sài về mặt
Lí thuyết, vì thế xác định đề bài, chủ đề và bố cục đoạn văn càng bối rối: việc rèn kĩ
năng viết được tiến hành trong các tiết phân tích đề, dàn ý và dựng đoạn, liên kết
đoạn từ thấp đến cao, từ một tiêu đề, một ý, một đoạn văn đến nhiều đoạn, cuối cùng
là một văn bản hoàn chỉnh. Khi viết còn chưa hiểu kĩ đề bài nên hay bị sai lệch. Việc
phân phối thời gian, số lượng câu cho các đoạn, các ý lớn, ý nhỏ chưa rõ ràng, cụ
thể. Cho nên, có nhiều trường hợp viết thừa hoặc thiếu chưa xác định cụ thể đề tài,

7A = 31 0 0 3 9.7 8 26 20 64.3
7B = 30 0 0 2 6.6 6 20 22 73.4
7C = 33 0 0 2 6 9 27 22 67
Cộng: 94 0 0 7 7.4 23 24 64 68.6
Bài làm của học sinh là kết quả của quá trình tiếp thu lí thuyết và rèn luyện các
kĩ năng viết văn của học sinh và là sự vận dụng tổng hợp các năng lực tư duy, trình
độ, vốn sống, vốn ngôn ngữ và cả những cảm xúc và rung động thẩm mĩ. Cho nên,
việc rèn luyện các kĩ năng cho học sinh là cả quá trình lâu dài, việc tiến bộ của các
em cũng chậm (không như các môn khoa học tự nhiên). Vì vậy, giáo viên không nên
nóng vội mà phải rèn luyện cho học sinh tính kiên trì và giáo viên cũng cần kiên trì
khi dạy cho học sinh. Những tình trạng viết đoạn văn ở THCS như trên là do nhiều
nguyên nhân.
Điều ta cần nói trước là nguyên nhân khách quan: nó phụ thuộc vào tư tưởng
lập nghiệp của học sinh sau này như thi vào các trường Cao đẳng, Đại học Ngữ văn
ít hơn các môn khác. Và điều quan trọng nhất là cơ chế thị trường thực dụng, con
người khô khan, kênh thông tin văn hoá nghệ thuật đa dạng, nhiều loại hình cuốn hút
học sinh. Hơn thế nữa phụ huynh lại định hướng cho con em mình theo khuynh
hướng trên.
Và ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nguyên nhân chủ quan là môn Tập làm văn
khó học, trừu tượng, học sinh không thích học, khó trở thành giỏi văn. Hơn thế nữa
nội dung, chương trình trong SGK còn quá tải, trình độ giáo viên chưa đáp ứng, chất
liệu của môn Ngữ văn bị giảm suốt vì đưa nhiều thể loại văn bản Nhật dụng, văn bản
Chính luận, văn bản Nghị luận vào, coi nhẹ giảng bình, giáo viên giao nhiều bài tập,
khó được điểm cao.
Trên đây là tình trạng viết văn, dựng đoạn văn của học sinh THCS và nó cũng
có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động. Cho nên chúng ta càng quan
tâm nhiều hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làm văn, đặc biệt là dạy một tiết dựng
đoạn văn trong văn bản.
B/ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM
I/ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM

Kết thúc đoạn : Kết đọng cảm xúc, ý nghĩ của mình.
2.4. Đoạn văn biểu cảm chỉ thực sự có giá trị khi tình cảm và tư tưởng hoà quện
với nhau chặt chẽ. Cảm xúc phải chân thật, trong sáng, tư tưởng phải tiến bộ, đúng
đắn. Câu văn, lời văn, giọng văn phải có giá trị biểu cảm.
2.5. Trong văn biểu cảm, tình cảm con người đã qua suy nghĩ, khác với trạng
thái, cảm xúc ( biểu hiện ra nét mặt cử chỉ).
2.6. Có hai cách (lối) biểu cảm.
Biểu cảm trực tiếp: Thông qua cách sử dụng các từ cảm : ôi, hỡi, tôi, ta… Tác
dụng bộc lộ, biểu hiện tình cảm, thái độ đối với sự việc có liên quan. Điều này thấy
rõ nhất trong thơ trữ tình, trong tuỳ bút, trong đối thoại nội tâm của nhân vật.
Biểu cảm gián tiếp: Thông qua cách miêu tả cử chỉ, động tác, thái độ của nhân
vật và tình cảm của người viết.
Mặc dù vậy, biểu cảm trực tiếp, biểu cảm gián tiếp không đối lập nhau, không
tách rời nhau mà cần được bổ sung cho nhau để giúp cho biểu cảm sâu sắc tinh tế
hơn.
II/ YÊU CẦU CỦA ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM
Cũng như các bài văn khác, đoạn văn trong văn biểu cảm cũng có những yêu
cầu cụ thể nhằm giúp học sinh nắm một cách khái quát về mặt hình thức cũng như
nội dung đoạn văn biểu cảm. Từ đó, các em mới có thể viết đoạn (xây dựng đoạn)
đúng với yêu cầu. Đoạn văn biểu cảm với việc nâng cao năng lực cảm thụ văn học
của học sinh là những yêu cầu, nội dung liên quan mật thiết với nhau.
Về mặt hình thức của đoạn văn :
Yêu cầu trước hết là học sinh phải nắm được dấu hiệu, qui ước khi viết đoạn
văn biểu cảm:
Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng
đến chỗ chấm xuống hàng .
Trước khi viết đoạn văn biểu cảm, giáo viên hướng dẫn cho các em tìm hiểu đề,
xác định ý và từ việc xác định được ý chính của bài mà đi đến xây dựng câu chủ đề.
Việc viết câu chủ đề đúng với ý chính đã tìm được ở trên sẽ giúp học sinh định
hướng cách lựa chọn nội dung trình bày theo cấu trúc diễn dịch, qui nạp hay các

(Khánh Vân– Lớp 6 Văn– Trường THCS Trần Phú– Hải Phòng–
Năm học 1993 – 1994)
Về mặt nội dung:
“Đoạn văn biểu cảm thể hiện được các năng lực: Tri giác ngôn ngữ nghệ
thuật, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích, chứng minh, năng lực cảm xúc
thẩm mĩ…”
(Trích: Giảng dạy Tập làm văn ở trường THCS – TS. Lê Xuân Soan – Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh).
Trên đây là những yêu cầu cơ bản nhất để có thể giáo viên vận dụng văn trong
nhà trường vào nghiên cứu soạn giảng Tập làm văn, đặc biệt là vận dụng vào các tiết
thực hành Tập làm văn và làm văn trong trường THCS.
III/ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM
Rèn các kĩ năng làm văn nói chung và viết đoạn văn biểu cảm nói riêng không
chỉ xuất phát từ mục đích, yêu cầu của môn học (mang tính thực hành tổng hợp cao)
trong nhà trường THCS mà còn là trách nhiệm, nhiệm vụ của người thầy giáo trong
chương trình thay sách giáo khoa hiện nay. Điều quan trọng nhất khi viết đoạn văn
biểu cảm là học sinh nắm vững các thao tác, cách thức trình bày đoạn văn biểu cảm,
để từ các kĩ năng Tập làm văn phát triển thành kĩ xảo, thói quen làm văn.
Để thực hành những điều nói trên đây, chúng ta hãy thử kiểm chứng bằng một
ví dụ cụ thể sau:
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao”:
“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông soa sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?
Đêm đêm tưởng giải ngân hà,
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

định được các ý chính:
+ Nỗi cô đơn, buồn vắng, chờ mong.
+ Cảnh vật với nỗi nhớ cố hương.
+ Sự gắn bó thuỷ chung của người lữ khách đối với gia đình và quê hương.
+ Nỗi lòng của nhân vật trữ tình trong bài ca dao và cảm xúc, tình cảm của
tâm hồn con người.
Như vậy, chúng ta đã xác định các ý trong bài văn biểu cảm và mỗi ý trên đây
có thể được xây dựng bằng một hoặc hai đoạn văn.
2 . Xác định câu chủ đề.
Từ những ý đã được xác định trên đây, giáo viên hướng dẫn cho học sinh tập
viết các câu chủ đề. Đây là khâu quan trọng trong việc tạo lập đoạn văn. Vì có viết
được câu chủ đề thì mới có thể triển khai ý của đoạn văn và lựa chọn nội dung trình
bày của đoạn văn.
Trước hết, chúng ta xác định câu chủ đề mang tính khái quát cho toàn bài văn:

Bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao” diễn tả bao nỗi buồn thương nhớ, cô đơn
và lòng chung thuỷ của người lữ khách đối với quê nhà.
Ta xác định câu chủ đề cho từng đoạn văn như sau:
Câu chủ đề 1 : Tâm trạng của người lữ khách luôn lẻ loi, trống vắng, chờ trông
cứ vương vấn mãi không thôi.
Câu chủ đề 2 : Nỗi nhớ quê nhà của nhân vật trữ tình diễn ra triền miên.
Câu chủ đề 3 : Lời thơ thấm thía bao nỗi buồn thương, nhớ – tấm lòng thuỷ
chung đối với quê nhà.
Câu chủ đề 4 : Tấm lòng thuỷ chung toả sáng trong bài ca và tâm hồn con người.
Từ đó, giáo viên định hướng cho các em viết các đoạn văn bằng việc lựa chọn
các phép liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ liên kết v.v
3. Liên kết đoạn văn và cách dùng từ, ngữ khi xây dựng đoạn văn.
Cũng như các kiểu văn bản khác, bài văn biểu cảm là một thể thống nhất về
hình thức, hoàn chỉnh về nội dung. Trong đó, đoạn văn có một vai trò hết sức quan
trọng trong việc cấu thành một văn bản biểu cảm hoàn chỉnh. Vì vậy, các câu, các

Tính định hướng.
Từ đó, ta có thể trình bày một đoạn văn mẫu (đoạn mở bài) để học sinh học tập,
bắt chước(bắt chước nhưng không ghi chép nguyên mẫu), rồi vận dụng cách bài ấy
cho bài của mình.
Chẳng hạn, khi viết đoạn văn mở bài cho đề bài trên ta có thể viết như sau:
Từ lúc lọt lòng, khi còn nằm trên nôi, ta đã được nghe những lời ru ngọt ngào,
xúc động của bà, của mẹ: à ơi, “ Anh đi anh nhớ quê nhà ”. Lời ru ấy cứ giăng mắc
mãi lòng ta. Bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao ” còn là một kỉ niệm không phai
mờ trong tâm trí tôi từ thuở bé thơ. Lớn lên, tôi vẫn thường ru em như thế:
“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?
Đêm đêm tưởng giải ngân hà,
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”
Đoạn văn trên được viết theo lối biểu cảm trực tiếp: biểu lộ cảm xúc, tình cảm
của người viết thông qua việc sử dụng các từ ngữ: ta đã được nghe… không phai mờ
trong tâm trí tôi từ thuở bé thơ…
4.2. Cách viết đoạn thân bài
Quá trình viết đoạn văn thân bài, giáo viên lưu ý học sinh: Giọng văn, hơi văn
biểu cảm không gò bó, khô khan, đảm bảo được các yêu cầu diễn đạt, dùng từ, đặt
câu, lựa chọn các đặc điểm, nội dung trình bày của đoạn văn. Nghĩa là tuỳ thuộc vào
mạch cảm xúc của người viết mà có cách lựa chọn cho thích hợp.
Từ đề bài trên đây, ta có thể viết các đoạn văn thân bài như sau( lưu ý mỗi đoạn
văn được viết ra phải xuất phát từ các ý đã tìm được ở phần trên).
Đoạn văn 1 : Thao thức, lẻ loi, chỉ biết ra đứng bờ ao, nơi vắng vẻ ở cuối sân,

Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm rồi”.
Đến đoạn văn này câu chủ đề lại đặt ở đầu đoạn để nêu lên “nỗi nhớ” mang tính
khái quát nhất, hàm xúc nhất cho toàn đoạn văn.
Đoạn văn thứ ba :
Hai câu cuối là hình ảnh tương phản rất đặc sắc: “đá mòn” với “dạ chẳng
mòn” :
“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”
Lời thơ thấm thía bao nỗi buồn thương nhớ và cô đơn - đó là tấm lòng
thương nhớ, thuỷ chung đối với quê nhà.
Như vậy, mô hình cơ bản của đoạn văn biểu cảm là diễn dịch và qui nạp. Nó
phù hợp với mạch cảm xúc, tình cảm của người viết. Luyện viết đoạn văn biểu cảm
ở yêu cầu không khó khăn lắm là như cách trình bày trên. Tuy nhiên, để viết được
đoạn văn theo các cách trên, thì người viết phải bám sát các ý của bài, rồi luyện viết
với từng ý chính đã được xác định và các câu chủ đề đã được xác lập ban đầu.
4.3.Cách viết đoạn văn kết bài.
Đoạn văn kết bài nêu lên cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ. Vì vậy, để
có được một bài văn hoàn chỉnh không thể không viết đoạn kết bài.
Từ câu chủ đề đã xác định được như ở trên, ta có thể viết đoạn văn kết bài như
sau:
Ca dao là một tấm lòng. “Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ” là tấm lòng của
nhân dân, của những ai xa gần, của ông tôi, bà tôi, mẹ tôi, chị em tôi… Tấm lòng
son sắt thuỷ chung đối với gia đình, quê hương luôn toả sáng trong bài ca dao và tâm
hồn con người.
Tóm lại , rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong bài văn biểu cảm là thực hiện
các thao tác tìm hiểu đề, tìm ý, xây dựng câu chủ đề- để từ đó định hướng cho việc
xây đựng từng đoạn văn. Cứ tập đi tập lại như thế ta sẽ thành thạo. Không phải chỉ
thành thạo dựng đoạn độc lập mà thành thạo và nhạy cảm trong dựng đoạn của bài
văn biểu cảm. Từ việc “Tập làm” đến việc “làm văn” là một quá trình đi từ việc rèn
luyện kĩ năng cần thiết đến kĩ xảo (thói quen, thành thạo)– Không khó nhưng cũng

(Lớp 7A)
Đề bài2: Cảm nhận của em về bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Chí Minh.
(Lớp 7C)
* QUI TRÌNH DẠY - HỌC
Ở LỚP 7A - CHÚNG TÔI THỰC HIỆN CÁC BƯỚC SAU:
Hoạt động 1 : Khởi động bằng việc kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà của các em và
GV chọn một bài văn biểu cảm cho HS đọc trước lớp rồi xác định các phần trong bài
làm của người viết - Trình bày các ý chính trong mỗi phần: Mở bài, Thân bài, kết
bài.
Hoạt động 2 : GV tổ chức cho HS ôn tập các đơn vị kiến thức đã học về văn
Biểu cảm. Cụ thể:
I/ Khái niệm văn Biểu cảm.
II/ Đặc điểm của văn Biểu cảm.
III/ Các yêu cầu khi làm bài văn Biểu cảm.
Hoạt động 3 : GV tổ chức cho người học viết các đoạn văn biểu cảm theo yêu
cầu của người dạy. Đối tượng biểu cảm là một số tác phẩm thơ, hoặc đoạn thơ.
Hoạt động 4 : GV cho lớp tiến hành thảo luận và nhận xét, đánh giá các đoạn
văn của HS.
Hoạt động 5 : GV củng cố kiến thức và tiến hành khảo sát bằng đề bài sau:
Cảm nhận của em về bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Chí minh.
Hoạt động 6: GV thu bài và dặn dò HS.
Ở LỚP 7C - CHÚNG TÔI THỰC HIỆN CÁC BƯỚC SAU:
Hoạt động 1: GV tổ chức cho HS nắm lại các đơn vị kiến thức sau:
I/ Khái niệm văn Biểu cảm.
II/ Đặc điểm của văn Biểu cảm.
III/ Các yêu cầu khi làm bài văn Biểu cảm.
Hoạt động 2: Tổ chức rèn luyện các kĩ năng viết đoạn văn biểu cảm:
1. Xác định ý cho bài văn Biểu cảm.
2. Xác câu chủ đề cho mỗi đoạn văn.
3. Liên kết đoạn văn và cách dùng từ ngữ khi xây dựng đoạn văn.

yếu HS sẽ thích học phân môn TLV. Hiệu quả dạy học sẽ cao hơn.
Qua đây chúng ta thấy: Thời lượng giành cho luyện tập viết đoạn văn trong tiết
dạy chính khoá là quá ít. Vì vậy, HS chưa được rèn luyện nhiều để viết đoạn, tạo lập
văn bản.
Điều cốt lõi là làm sao đó trên mỗi trang giáo án, mỗi tiết dạy học thực hành –
rèn kĩ năng làm văn cho học sinh đều thể hiện tính nghiêm túc của người dạy và
những nét tình cảm nghề nghiệp, tình yêu con trẻ, những dấu ấn cảm xúc cá nhân
trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, soạn giảng.
* MỘT VÀI ĐOẠN VĂN TIÊU BIỂU:
1.
“Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non ?
Trăng bao nhiêu tuổi trăng tròn
Núi bao nhiêu tuổi núi còn trơ trơ ?"
( Ca dao)
Bài ca dao “ Trăng bao nhiêu tuổi trăng già”, được viết bằng thơ lục bát và
câu hỏi tu từ . Trăng và núi là hai ẩn dụ. Sự đối đáp ở đây không phải là câu đố về
thiên nhiên ( núi, trăng) như có người đã nhầm tưởng. Mà sự giao, ướm hỏi ( ướm
duyên) rất tình tứ, tế nhị của trai gái làng quê ngày xưa. Mộtk cách tỏ tình rất
duyên dáng và biểu cảm.
2.
“Trưa về đến sau đồi
Gọi con như mọi bận
Mà không nghe trả lời
Thì mẹ ơi đừng giận
Nhìn vở bài toán đố
Con làm còn dở dang
Bỏ quên bên cửa sổ
Đừng bảo con không ngoan
Sân nhà đầy lá rụng

đất tạo nên những chùm hoa lung linh. Giữa cảnh khuya lộng lẫy yêu kiều ấy có một
người chưa ngủ, đó là Bác kính yêu. Bác chưa ngủ không phải để ngắm cảnh đẹp
mà vì lòng còn nặng nỗi lo toan việc nước…”.
5.
"Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Ngọn lửa “ chờn vờn sương sớm” là ngọn lửa thực trong lòng bếp, bập bùng
nhen lên mỗi sớm mai. Nhưng ngọn lửa “ ấp iu nồng đượm” là ngọn lửa của tình bà
chăm sóc cưu mang theo trình tự thơ, ngọn lửa chập chờn, bập bùng, hình tượng
thơ cứ tỏ dần, tỏ dần: Bên bếp lửa là dáng hình của bà qua nắng mưa, năm
tháng.
( Bài làm của học sinh)
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status