SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
A- MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng, Ngữ văn là môn học trang bị
cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng các vấn đề văn học (bao gồm: tác phẩm, tác giả,
các quá trình văn học… ), có nghĩa là góp phần tạo cho học sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của
tác phẩm văn học trong việc tiếp nhận cũng như khả năng biết đánh giá đúng đắn, khoa học các
hiện tượng.
Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng sản
sinh văn bản mới (nói và viết).
Làm văn là phân môn hướng tới nhiệm vụ thứ hai này. Nó giúp học sinh hình thành những kĩ
năng cần thiết để làm được bài văn, trong đó dạng bài sáng tác văn học được chú trọng đầu tiên
(miêu tả, tường thuật, kể chuyện…). Trong nhà trường phổ thông, nhìn chung không đặt ra yêu
cầu sáng tác văn học. Tuy nhiên để phù hợp với lứa tuổi, học sinh THCS được làm quen với kiểu
sáng tác, tạo tiền đề cho các em có thể vận dụng tốt trong quá trình học sau này.
Những bài văn hay loại này là những bài văn viết đúng quy cách, chân thật, có những khám
phá hồn nhiên về thiên nhiên và đời sống gia đình, xã hội …
Trong chương trình Ngữ văn THCS.Tuy đã được học văn tự sự từ lớp 6 (ở THCS) nhưng vì
nhiều lí do, học sinh làm loại văn này vẫn chưa tốt. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy học sinh còn
mắc nhiều lỗi mà nếu giáo viên có thể giúp các em khắc phục được thì kết quả sẽ tốt hơn. Những
hạn chế trong bài làm văn tự sự của học sinh một phần là do bản thân các em, một phần do giáo
viên chưa có biện pháp giúp đỡ phù hợp.
Là giáo viên được trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9, tôi luôn trăn trở trước thực trạng
chất lượng bài viết văn tự sự của học sinh. Vì vậy tôi chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết bài
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
1
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
văn tự sự cho học sinh lớp 9”, với mục đích phân tích thực trạng chất lượng bài viết của học
sinh hiện nay, đối chiếu với phương pháp giảng dạy của giáo viên, đề ra kinh nghiệm, phương
pháp giảng dạy, cách thức rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh, góp phần nâng cao
hơn nữa chất lượng dạy học văn, giải quyết tình hình kém chất lượng trong dạy học văn hiện
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN :
Từ năm 1998, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai dự án phát triển giáo dục THCS nhằm
đổi mới một cách toàn diện bậc học này. Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH khóa 10 ngày
9/12/2000 của Quốc hội, tháng 9 năm 2002, cả nước bắt đầu dạy học theo chương trình và SGK
THCS mới bắt đầu từ lớp 6. Môn Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí hết sức quan
trọng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông cũng là môn học có nhiều thay đổi
nhất trong việc đổi mới chương trình, SGK, phương pháp đến đánh giá kết quả học tập. Nhiều
vấn đề được đặt ra khi phải tiếp cận một chương trình mới, trong đó vấn đề đổi mới phương pháp
nâng cao chất lượng học tập của học sinh là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Chương trình SGK
Ngữ văn lớp 9 được tổ chức thực hiện từ năm 2005 -2006 đến nay đã được gần 6 năm học. Nội
dung đổi mới chương trình, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, chất lượng học tập của học sinh
đã được phản ánh sôi nổi trên báo chí, trong hội thảo khoa học và các phương tiện thông tin đại
chúng, song bài toán chất lượng là điều làm cho các nhà quản lý giáo dục, quản lý chuyên môn
phải tính toán.
Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học chương trình Ngữ văn 9 là phải kết hợp nhiều
phương pháp trong dạy học, là phải “tích hợp nhiều phương pháp trong bài học, tiết học và trong
cả quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên cơ sở xác định phương pháp chính gắn với đặc trưng
của môn học. Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động, sáng
tạo ở cả người dạy lẫn người học, chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạo thuận lợi để học sinh
lĩnh hội và phát triển các thao tác tư duy khoa học. Tăng cường và sử dụng hợp lý các phương
tiện trong dạy học, “nâng cao chất lượng hoạt động thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển
năng lực cho mỗi cá nhân” (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy SGK lớp 9 -Vụ giáo dục trung học
trang 6,7). Lớp 9 là lớp cuối của vòng II, đồng thời cũng là lớp cuối cùng của cấp THCS nên có
một vị trí hết sức quan trọng : vừa phải tổng kết được những kiến thức, kĩ năng được học tập, rèn
luyện trong bốn năm học, vừa phải chuẩn bị cho các kì thi, tạo tâm thế, tiềm lực cho học sinh học
lên THPT hoặc đi vào cuộc sống.
Tập làm văn tự sự trong chương trình lớp 9 là sự kế thừa và nâng cao kĩ năng làm văn thể
loại này mà học sinh đã được học, được rèn luyện từ các lớp dưới. Cùng với miêu tả, biểu cảm,
làm văn tự sự thuộc dạng sáng tác văn học. Đặc trưng cơ bản của kiểu bài là kích thích trí tưởng
thụ động buộc giáo viên giảng nhiều, làm việc nhiều, làm thay cho trò, làm tê liệt sự hào hứng
học văn bản của học sinh, do đó không kích thích được niềm say mê, chưa khơi gợi ý tưởng sáng
tác văn chương của các em. Giáo viên cũng chưa giúp học sinh hiểu rõ và nắm vững các yếu tố
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
4
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
nghệ thuật cơ bản khi xây dựng nên tác phẩm tự sự như tình huống, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh
có ý nghĩa biểu tượng… để các em học tập, vận dụng.
+ Giờ Tiếng Việt đòi hỏi giáo viên dạy cho học sinh dùng tiếng Việt một cách chính xác để
giao tiếp, có cách diễn đạt tốt trong khi tạo lập văn bản, nhưng giáo viên chưa vận dụng tối đa
các tình huống giao tiếp, cho học sinh thực hành ít nên nhiều em viết sai chính tả, nghèo vốn từ,
dùng từ chưa chính xác, đặt câu chưa đúng ngữ nghĩa, ngữ pháp. Đây là những yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến chất lượng bài văn.
+ Giờ Tập làm văn học sinh chưa được học đến nơi đến chốn. Giáo viên chưa có cách giúp
học sinh có được những kiến thức và kĩ năng theo chuẩn bằng những ví dụ mẫu linh hoạt sáng
tạo, gắn với thực tế đời sống hàng ngày, có tác dụng khắc sâu kiến thức (ngoài SGK). Giáo viên
chưa chú ý đúng mức đến việc phát huy tinh thần tích cực chủ động của học sinh khi học lý
thuyết làm văn tự sự theo yêu cầu kết hợp sử dụng các yếu tố biểu cảm, miêu tả nội tâm, nghị
luận,… trước khi tạo lập văn bản hoặc bài thực hành luyện tập, luyện nói. Khi xây dựng dàn ý
cho bài làm văn tự sự, giáo viên dễ thiên về cảm nhận chủ quan khi đưa ra những gợi ý, uốn nắn
học sinh, khiến các em trở nên rụt rè, thiếu tự tin, vì vậy mà khả năng tư duy, sáng tạo của học
sinh không được phát huy, cảm xúc bị gò bó.
- Việc xác định các phương pháp dạy tập làm văn cũng chưa thật sự phù hợp, tối ưu. Có giáo
viên chọn phương pháp bình giảng trong tiết cung cấp kiến thức về kiểu bài, chưa chú trọng các
phương pháp thực hành trong giờ luyện tập, ra bài tập về nhà…
- Giáo viên chưa nghiên cứu kĩ chuẩn kiến thức - kĩ năng, xác định đầy đủ mục đích yêu cầu
cần đạt, kĩ năng cần rèn luyện trong từng bài. Việc bố trí thời lượng cho tiết dạy chưa hợp lý,
chưa dành nhiều thời gian cho thực hành, giáo viên khó có thể rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
- Việc chấm bài của giáo viên cũng còn nhiều thiếu sót. Đôi khi giáo viên chỉ cho học sinh
biết điểm, có bài chấm không có lời phê nào hoặc phê bài còn qua loa, chưa cẩn thận, chưa cụ thể.
Trong bài viết của các em có nhiều câu què, câu cụt, câu tối nghĩa. Tình trạng mắc lỗi chính tả,
dùng từ sai cũng rất phổ biến. Có bài viết từ đầu đến cuối các em không sử dụng dấu câu nào
hoặc sử dụng không đúng.
* Những hạn chế chủ yếu khi học sinh viết bài văn tự sự ở lớp 9:
- Chưa nắm vững đặc trưng cơ bản của thể loại tự sự, cách viết bài văn tự sự đã học ở các lớp
dưới, chưa xây dựng được câu chuyện có bố cục hoàn chỉnh, có cốt truyện hợp lí, có ý nghĩa theo
yêu cầu đề bài, cách kể chưa tự nhiên, chân thực, sinh động (kết hợp các yếu tố miêu tả và biểu
cảm)
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
6
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
- Chưa nắm được yêu cầu nâng cao năng lực, trình độ viết bài văn tự sự ở lớp 9. Đó là yêu cầu
kết hợp yếu tố miêu tả nội tâm trong việc khắc họa đặc điểm, tính cách nhân vật; kết hợp yếu tố
nghị luận để làm nổi bật ý nghĩa sự việc, tô đậm tính chất triết lí của câu chuyện; sử dụng hiệu
quả các yếu tố đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm …
Do đó khi tạo lập văn bản tự sự các em thường mắc các khuyết điểm sau:
+ Tìm không ra sự việc để kể nên giới thiệu lòng vòng câu chuyện hoặc đi vào miêu tả
nhân vật quá nhiều.
+ Không biết lựa chọn chi tiết tiêu biểu, quan trọng để kể nên viết lan man, dài dòng, lời
thoại quá vụng về, thô thiển, thiếu tính thẩm mỹ, chọn lọc.
+ Kể diễn biến sự việc chưa sinh động, chân thực, hấp dẫn người đọc do chưa vận dụng phù
hợp, tự nhiên các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận.Thường thì các em hay hạn chế ở việc thể
hiện nội tâm nhân vật do không hiểu rõ quy luật tâm lí, bộc lộ cảm xúc thiếu tự nhiên, thậm chí
dẫn đến những sự việc hoặc kết thúc vô lí. Kết hợp yếu tố nghị luận chưa khéo léo, tế nhị, làm
giảm đi giá trị của câu chuyện.
+ Thực hiện nhiệm vụ từng phần trong bố cục ba phần của bài làm văn chưa đầy đủ. Ví dụ
khi viết phần mở bài, yêu cầu học sinh phải giới thiệu chung về câu chuyện, nhân vật được kể,
hoàn cảnh xảy ra câu chuyện, nhưng nhiều em lại đi thẳng vào diễn biến cốt truyện như các nhà
văn thực thụ, được “phá cách”, và đôi khi cũng không cần nêu lên suy nghĩ, ấn tượng gì của mình
trong phần kết bài ( chỉ kết thúc câu chuyện). Như thế sẽ làm cho ý nghĩa bài văn bị dàn trải, lại
bị tốt cho việc thực hành tổng hợp này.
b. Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9:
b.1. Đối với bản thân giáo viên:
- Dạy học Ngữ văn cũng như nhiều môn học khác, giáo viên cần thực hiện đổi mới phương
pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa các hoạt động nhận thức của học sinh. Tăng cường tổ
chức các hoạt động cho các em, chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp học và tự học một
cách chủ động, tăng cường hoạt động cá nhân với nhóm, làm cho các em tự đánh giá được năng
lực và kết quả làm văn của mình.
- Nắm chắc các phương pháp giảng dạy nhằm tích cực hóa các hoạt động của người học. Ngoài
các phương pháp phổ biến như nêu vấn đề, vấn đáp, hoạt động hợp tác, giáo viên có thể sử dụng
lời nói nghệ thuật, thông báo, giải thích, trò chơi, trực quan… Các bước lên lớp cần linh động,
chú ý đến hoạt động giao tiếp. Đây là một biện pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực sáng
tạo của học sinh trong việc tạo lập văn bản, phát huy vai trò chủ thể của học sinh một cách thực
sự. - Phân bố cân đối thời gian giữa dạy lý thuyết và thực hành, quan tâm nhiều đến các thao tác
rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Học sinh là chủ thể làm chủ mọi thao tác dưới sự hướng
dẫn của giáo viên, tránh áp đặt làm giảm khả năng suy nghĩ, sáng tạo của các em.
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
8
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
- Như đã nói, Tập làm văn là môn học mang tính chất thực hành – tổng hợp, đòi hỏi học sinh
phải vận dụng cả kiến thức, kĩ năng về Văn học, Tiếng Việt. Do vậy, dạy học tập làm văn không
thể tách rời hai phân môn này. Căn cứ vào chương trình, chuẩn kiến thức – kĩ năng, giáo viên
phải chú ý vận dụng tích hợp các phân môn một cách thường xuyên, nhuần nhuyễn và linh hoạt.
Trong đó, Tập làm văn vẫn đóng vai trò chủ đạo.
* Dạy học phân môn Tập làm văn:
Để rèn luyện tốt kĩ năng làm bài văn tự sự cho học sinh, việc hướng dẫn tìm hiểu lý thuyết là
rất quan trọng. Trước hết giáo viên cần cho học sinh nắm lại những kiến thức đã học về kiểu bài,
sau đó mới hình thành kĩ năng về Văn học, Tiếng Việt, làm văn theo yêu cầu của toàn cấp THCS.
GV cần cho học sinh ôn lại thế nào là văn tự sự, các yếu tố quan trọng, cơ bản trong văn tự sự
như tình huống, cốt truyện, nhân vật, nhấn mạnh vai trò của người kể chuyện và ngôn ngữ kể.
động, hấp dẫn và giàu chất thơ.
Bài tập 2 (SGK/trang 92): Có thể hướng dẫn học sinh viết đoạn văn kể về việc chị em Thúy
Kiều đi chơi trong buổi chiều ngày Thanh minh dựa vào đoạn trích Cảnh ngày xuân: (Lưu ý xác
định các từ ngữ có tác dụng gợi tả hình ảnh thiên nhiên, không khí lễ hội, trạng thái tâm lí con
người…)
VD: “Một buổi chiều xuân trong tiết Thanh minh, những cánh chim én rộn ràng bay liệng như
thoi đưa giữa bầu trời trong sáng, thảm cỏ non như trải rộng tới chân trời, trên cành lê điểm
một vài bông hoa trắng. Chị em Thúy Kiều hòa vào dòng người nhộn nhịp đi chơi xuân. Tiết
Thanh minh mọi người sắm sửa lễ vật đi tảo mộ và vui hội đạp thanh. Quang cảnh thật rộn
ràng, tấp nập. Khi mặt trời ngả bóng về tây, không khí lặng dần, chị em Kiều ra về trong tâm
trạng bâng khuâng”.
Ngoài bài tập SGK, giáo viên có thể ra thêm bài tập về nhà cho học sinh: Viết đoạn văn ngắn
kể về một sự việc mà em quan sát, chứng kiến.
- Bài “Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự ” (Bài 8 – tiết 40):
Nhân vật là yếu tố quan trọng nhất của tác phẩm tự sự. Để xây dựng nhân vật nhà văn thường
miêu tả ngoại hình và miêu tả nội tâm. Miêu tả nội tâm nhằm khắc họa “chân dung tinh thần” của
nhân vật, là tái hiện lại những trăn trở, dằn vặt, những rung động tinh vi trong tình cảm, tư tưởng
của nhân vật (những yếu tố này nhiều khi không thể tái hiện được bằng miêu tả ngoại hình). Vì
thế miêu tả nội tâm có vai trò và tác dụng to lớn trong việc khắc họa đặc điểm, tính cách nhân vật.
Liên hệ, hướng dẫn học sinh phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích và Lão Hạc (SGK)
để biết được các cách thức khác nhau để miêu tả nội tâm nhân vật: diễn tả trực tiếp những ý nghĩ,
cảm xúc, tình cảm của nhân vật; cũng có thể miêu tả nội tâm gián tiếp thông qua miêu tả cảnh vật,
nét mặt, cử chỉ, trang phục…của nhân vật. Từ đó rèn luyện kĩ năng sử dụng các yếu tố miêu tả
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
10
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
nội tâm trong văn bản tự sự. Có thể tổ chức theo nhóm, gợi ý để học sinh thực hành tại lớp các bài
tập 1,3 trong phần Luyện tập (SGK).
Bài tập 1: Thuật lại đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều bằng văn xuôi, chú ý miêu tả nội tâm
của nàng Kiều.
xầm, bàn tán… Chợt có một người không chịu mở cặp cho cô xem. Đó là Hạnh, cô bạn ở cạnh
nhà tôi.Cô bé rất say mê đọc truyện và thích những đồ vật lung linh, đẹp mắt. Mặt Hạnh tái mét.
Cô giáo giật lấy chiếc cặp mở toang ra. Và tôi thấy có cây bút của mình ở trong đấy.Cả lớp làm
ầm lên, cô hỏi Hạnh: “Tại sao em lại lấy cắp của bạn?”Hạnh giàn giụa nước mắt , giọng đứt
quãng: “Da ï! Thưa… em không lấy cắp… Em nhặt được ạ !”… Cô giáo bảo: “Nếu nhặt được
của rơi thì em phải trả lại cho người đánh mất chứ. Em làm cô thất vọng quá”. Tôi tức giận ném
cho Hạnh cái nhìn khinh bỉ: “Bạn đừng nói dối ! Đồ ăn cắp”. Và từ đó tôi bắt đầu xa lánh
Hạnh.
… Rồi một hôm đang giờ học, Hạnh mang lên cho cô giáo một hộp bút chì màu bảo là nhặt
được. Tuần sau, Hạnh lại mang lên một cuốn tập mới, rồi một số tiền nhặt được… Có lúc tôi cảm
thấy dường như mình có lỗi với Hạnh.
Một hôm, mẹ Hạnh hớt hải chạy sang xin mẹ tôi một củ gừng. Hạnh bị cảm lạnh. Tôi cũng theo
mẹ chạy sang. Mẹ Hạnh kể dạo này hễ đi học về là Hạnh tranh thủ đi hốt trấu hoặc ra ruộng bắt
cua về bán, dành dụm tiền để ủng hộ cho các bạn nghèo, học giỏi. Hạnh vừa nhờ mẹ mua một
chiếc khăn tay mới để tặng bạn… Tôi dần dần vỡ lẽ. Thì ra bấy lâu nay Hạnh không hề nhặt
được của rơi. Hạnh âm thầm kiếm tiền mua đồ mang đến lớp bảo là nhặt được. Hạnh muốn
chuộc lại lỗi lầm của mình. Còn cây bút của tôi có thể đúng là Hạnh đã nhặt được. Tôi buồn
quá, bật khóc… Cho đến bây giờ mỗi lần nhớ đến tuổi thơ tôi lại nhớ đến Hạnh, nhớ con ăn
cắp… như nhớ một bài học tuổi thơ, một kỉ niệm khó phai mờ.
- Bài Nghị luận trong văn bản tự sự ( Bài 10 – tiết 50) và “Luyện tập viết đoạn văn tự sự có
sử dụng yếu tố nghị luận (Bài 12 – tiết 60):
Có thể nói tự sự chính là bức tranh gần gũi nhất với cuộc sống. Mà cuộc sống thì hết sức đa
dạng, phong phú, với đầy đủ tất cả các tình huống, cảnh ngộ, tất cả các kiểu nhân vật, các mẫu
người ta vẫn thường gặp hằng ngày. Để tập trung khắc họa kiểu nhân vật hay triết lý, hay suy
nghĩ, trăn trở, về lí tưởng, về cuộc đời, về yêu ghét, vui buồn… như nhân vật ông giáo trong
truyện ngắn Lão Hạc, hoặc để khắc họa kiểu nhân vật ăn nói khúc chiết, gãy gọn “khôn ngoan”
như Hoạn Thư trong Truyện Kiều,… Nam Cao cũng như Nguyễn Du không thể không dùng các
yếu tố nghị luận để tô đậm tính cách nhân vật mà mình muốn khắc họa. Hoặc để thể hiện một
quan điểm, lập trường, cách nhìn nhận, đánh giá, một ý nghĩa triết lý nào đó trong câu chuyện,
người ta có thể sử dụng kết hợp yếu tố nghị luận. Trong một văn bản tự sự thì nghị luận chỉ là
khi nhận xét chung tình hình của lớp trong tuần, bạn đã thông qua kết quả đánh giá 5 người bạn
tốt nhất do các tổ bình bầu. Uyên vừa dứt lời, cả lớp vỗ tay đồng thanh nhất trí. Nhưng riêng
lòng tôi cứ day dứt về trường hợp của Nam. Nam không được ban cán bộ lớp xét duyệt vì lí do
bạn đi học muộn một buổi. Sau khi cân nhắc, suy nghĩ, tôi quyết định phát biểu ý kiến của mình
về trường hợp của Nam. Tôi nói:
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
13
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
- Thưa các bạn, lớp ta ai cũng biết Nam là một học sinh học giỏi, một cán bộ lớp luôn
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nam vốn ít nói, nhưng lại rất chan hòa với bạn, sẵn
sàng giúp đỡ các bạn một cách âm thầm như giảng lại bài cho bạn Thanh bị ốm, đưa Vân về
tận nhà khi xe bạn bị hỏng giữa trưa hè, chân thành, tế nhị góp ý khi bạn chưa nghiêm túc
trong giờ kiểm tra… Lí do Nam đi học muộn cũng bởi sáng hôm đó, trên đường đi học Nam
đã giúp em Mai lớp 6A bị ốm bất thường cấp cứu vào bệnh viện. Tôi nghĩ: người bạn tốt là
người không những biết chia sẻ khó khăn với bạn bè, sẵn sàng giúp đỡ người khác mà còn
dám thẳng thắn phê bình giúp bạn tiến bộ. Tôi khẳng định: Nam là người bạn rất tốt của
chúng ta !
Tôi vừa dứt lời, cả lớp hướng về phía Nam vỗ tay rào rào tán thưởng. Thậm chí có bạn còn đề
nghị Nam là đội viên xuất sắc trong đợt thi đua này. Vâng, phẩm chất người bạn tốt phải thể
hiện từ ý nghĩ, cử chỉ, đến việc làm cụ thể chứ đâu phải chỉ ở lời nói !
Bài tập 2: Viết đoạn văn kể về những việc làm hoặc những lời dạy bảo giản dị mà sâu sắc của
người bà kính yêu đã làm cho em cảm động.
Cần gợi ý cho học sinh xác định:
- Người bà đã để lại một việc làm, lời nói hay một suy nghĩ? Điều đó diễn ra trong hoàn
cảnh nào ?
- Nội dung cụ thể là gì ? Nội dung đó giản dị mà sâu sắc, cảm động như thế nào ?
- Suy nghĩ về bài học rút ra từ câu chuyện trên.
Học sinh dựa vào đoạn văn tham khảo SGK để làm. (Về nhà làm và trình bày ở phần KTBC
trong giờ học sau)
- Bài Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự (Bài 13 – tiết 64):
cho tôi, sợ cả chính việc mình vừa làm. Về đến nhà, tôi đóng sập cửa phòng lại. Tôi thở hổn hển,
chân tôi đứng không vững nữa, tôi bần thần ngồi xuống ghế như không tin chuyện vừa xảy ra.
Lúc bình tĩnh lại, tôi tự trách mình sao lại làm như vậy. “Tại sao tôi lại không chiến thắng được
tính tò mò của mình? Tại sao?…”. Tôi buồn bực quăng cả chồng sách trên bàn xuống đất. Sự
xấu hổ và hối hận làm tôi day dứt, không yên.”
(Kể lại một lần trót xem nhật kí của bạn)
- Bài Người kể chuyện trong văn bản tự sự (Bài 14 – tiết 70):
Ngữ văn 9 tiếp tục nâng cao một bước về người kể chuyện và ngôi kể trong văn tự sự. Người
kể là ai, xuất hiện ở ngôi nào, xưng là gì? Đó là người trong cuộc hay ngoài cuộc? Cũng là sự
việc và con người ấy, nhưng nếu thay đổi ngôi kể, thay đổi người kể thì nội dung hiệc thực được
phản ánh và ý nghĩa của câu chuyện có thể rất khác nhau. Cần giúp học sinh thấy được đặc điểm,
tác dụng của hai hình thức người kể chuyện trong văn bản tự sự:
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
15
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
+ Người kể chuyện theo ngôi thứ ba: là người giấu mình, nhưng cái nhìn của người kể
này lại có mặt ở tất cả mọi nơi trong văn bản, đã biết hết mọi sự việc, nhìn thấu được nhân vật
trong truyện.
+ Người kể chuyện theo ngôi thứ nhất: người kể xưng “tôi” , giúp cho người kể dễ đi sâu
vào tâm tư tình cảm, miêu tả được những diễn biến tâm lí tinh vi, phức tạp trong nhân vật “tôi”,
nhưng khó tạo ra cái nhìn nhiều chiều, dễ gây nên sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật.
Vai trò của người kể chuyện là dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện, kết nối các sự việc, giúp
người đọc hiểu về nhân vật, đưa ra nhận xét, đánh giá về những điều được kể. Việc thay đổi ngôi
kể trong văn tự sự để thay đổi điểm nhìn khác nhau là rất có ý nghĩa.
- Thực hành Viết bài Tập làm văn số 2 (Văn tự sự – tiết 34,35):
Trước khi làm bài, giáo viên cần gợi nhắc cho học sinh nắm lại các bước làm một bài văn
nói chung và bài văn tự sự nói riêng đã được học, đó là:
- Tìm hiểu đề, tìm ý.
- Lập dàn ý.
- Viết bài.
vận dụng các yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận trong bài viết; và tùy thuộc vào hoàn cảnh câu
chuyện mà xây dựng những yếu tố tưởng tượng hợp lí.
VD:
Đề bài: Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò chuyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu
đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn kể lại cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó.
Tình huống mà đề bài giả định là gặp lại người chiến sĩ lái xe năm xưa trong bài thơ đã học.
Như thế để viết được bài văn này, học sinh cần nắm được nội dung hình tượng người chiến sĩ lái
xe trong bài thơ (những suy nghĩ, tình cảm, những đặc điểm, phẩm chất của anh bộ đội trong
chiến tranh…). Từ đó kể lại cuộc gặp gỡ. Có thể gợi ý cho học sinh xây dựng dàn bài như sau:
+ Mở bài: Giới thiệu tình huống cuộc gặp gỡ. (trong buổi họp mặt cựu chiến binh, chuyến về
thăm chiến trường xưa, trong mơ…).
+ Thân bài: Kể diễn biến cuộc gặp gỡ, trò chuyện.
* Hoàn cảnh câu chuyện: quang cảnh, thời gian cuộc gặp (trên Trường Sơn, giờ nghỉ ngơi
hay ở trọng điểm…).
* Nhân vật người chiến sĩ lái xe: giọng nói, nụ cười, khuôn mặt, trang phục…
* Nội dung cuộc trò chuyện: những khó khăn gian khổ trong chiến tranh, suy nghĩ, hành
động của người lính…(đối thoại)
* Những suy nghĩ, tình cảm của người viết về người chiến sĩ lái xe, về cuộc chiến tranh
và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quá khứ lịch sự của cha anh cũng như đối với hiện tại.( đan
xen miêu tả nội tâm và nghị luận, sử dụng hình thức độc thoại và độc thoại nội tâm).
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
17
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
+ Kết bài: Kết thúc cuộc gặp gỡ, ấn tượng sâu sắc (rút ra bài học về lẽ sống…)
- Thực hiện chấm bài và trả bài:
Muốn rèn luyện kĩ năng viết bài tập làm văn, giáo viên phải biết học sinh còn hạn chế ở mặt
nào. Bài viết của học sinh thể hiện rõ nhất các kĩ năng làm bài tập làm văn nói chung như bố cục,
diễn đạt, ngữ pháp, chính tả, kĩ năng làm bài tự sự nói riêng, kết hợp tự nhiên các yếu tố miêu tả,
biểu cảm, nghị luận… Trong quá trình chấm bài giáo viên đối chiếu bài viết của học sinh với tất
cả những yêu cầu ấy để cho học sinh lời nhận xét trên bài làm chính xác, giúp các em nhận thức
chiếu, so sánh, tìm nét giống và nét khác biệt của các kiểu bài tự sự ( gắn với thực tế đời sống hay
nhiều yếu tố tưởng tượng, hư cấu, thiên về cảm xúc hay triết lí…), để từ đó mở ra những ý tưởng
hay cho bài viết, rèn luyện cho học sinh thành thục các bước làm bài, luyện tập viết đoạn.
* Dạy học phân môn Văn học:
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cảm thụ các văn bản tự sự được học trong chương trình
một cách đầy đủ, sâu sắc về tình huống, nhân vật, sự việc, ý nghĩa tư tưởng, tình cảm,… để mở
rộng quan sát, cảm nhận về đời sống xã hội, mở mang kiến thức. Đồng thời, giúp học sinh phát
hiện, tiếp thu những thành tựu đặc sắc về nghệ thuật của các văn bản, có ý thức học tập, vận dụng
phương pháp sáng tác của các tác giả vào bài làm văn tự sự.
* Dạy học phân môn Tiếng Việt:
Trong các giờ học tiếng Việt, giáo viên cần giúp học sinh hiểu và vận dụng kiến thức vào
những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể (Các phương châm hội thoại, Xưng hô trong hội thoại ); rèn
luyện để nắm vững nghĩa của từ và làm tăng vốn từ, dùng từ chính xác (Trau dồi vốn từ); ôn tập
củng cố các kiến thức về câu, cách sử dụng dấu câu, cách dựng đoạn và liên kết đoạn, rèn luyện
cách viết đúng chính tả… góp phần rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho học sinh khi làm văn nói
chung và viết bài văn tự sự nói riêng đạt hiệu quả tốt nhất.
b.2. Đối với học sinh:
- Để đạt kết quả tốt trong việc rèn luyện kĩ năng làm văn tự sự cho học sinh, giáo viên cần chú
ý hướng dẫn các em tự học ở nhà thật tốt (đọc kĩ các mẫu văn bản, soạn bài theo câu hỏi hướng
dẫn học bài, nghiên cứu để nắm vững bài học lí thuyết, làm bài tập về nhà…); thường xuyên đọc
sách báo, các tài liệu có liên quan nhất là những tác phẩm tự sự để có định hướng tốt về đề tài và
bồi dưỡng tình cảm , phát triển năng lực quan sát, trí tưởng tượng phong phú trước những sự việc,
hiện tượng trong đời sống; tích cực học tập, phát biểu ý kiến xây dựng bài.
- Học tập thật tốt phân môn Tiếng Việt để có đầy đủ kiến thức về ngữ pháp, sử dụng câu, dấu
câu, từ vựng, chính tả, rèn luyện kĩ năng viết đoạn, liên kết đoạn …, thường xuyên rèn luyện chữ
viết để chuẩn bị tốt cho việc viết bài tập làm văn.
- Nắm vững kiến thức về kiểu văn bản và yêu cầu khi tạo lập các kiểu văn bản, nhất là tự sự,
kết hợp tốt các phương thức biểu đạt; rèn luyện các kĩ năng vận dụng kiến thức văn học về nghệ
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
19
, 9
2
ở
trường trong năm học 2010-2011:
* Bài viết Tập làm văn số 2 (Tuần 7 – tiết 34,35):
Người thực hiện: Lê Thị Mỹ Lam Năm học 2010-2011
20
SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9
Năm học TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém
2010-2011 78 12 22 35 8 1
* Bài viết Tập làm văn số 3 (Tuần 14 – Tiết 68,69):
Năm học TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém
2010-2011 77 13 22 32 10 0
C. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm: Nâng cao chất lượng dạy và học nói chung, Tập làm văn tự sự
nói riêng đang là mối quan tâm của nhiều người. Làm sao để học sinh làm tốt bài văn tự sự vẫn là
một trong những vấn đề thời sự của khoa học cần phải thảo luận thêm.
Qua nghiên cứu giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9, tôi rút ra
được những bài học kinh nghiệm cơ bản như sau:
- Thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy là phát huy tính tích cực chủ động của học sinh
trong giờ học, làm cho giờ học dân chủ hơn, học sinh được thực hành giao tiếp nhiều hơn. Từ đó
góp phần nâng chất lượng học tập, chất lượng bài viết của học sinh, đó là thước đo hiệu quả của
giáo dục.
- Để rèn luyện tốt kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9, cả giáo viên và học sinh đều
phải có sự nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo. Giáo viên phải ý thức được vai trò, trách nhiệm
của mình, nghiên cứu kĩ bài dạy, tích cực đầu tư nhiều hơn trong việc đổi mới phương pháp, đổi
mới các hình thức tổ chức và sử dụng phương tiện dạy học, nhiệt tình khơi gợi hứng thú học tập
của học sinh. Học sinh phải tích cực, biết tự bồi dưỡng tình yêu cuộc sống, tình yêu văn chương
22