PHÒNG GIÁO DỤC QUỲ HỢP
TRƯỜNG THCS MINH HỢP
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC 2008-2009
KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐỒNG TÁC GIẢ:
NGUYỄN VĂN TÌNH
NGUYỄN THỊ THIÊN THU
LÊ THỊ HOÁ
Tel : 0383.888164
1
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Văn tự sự là một trong 6 kiểu văn bản được dạy, học ở bậc trung học cơ
sở, kiểu văn bản này mặc dù được kế thừa những tri thức và kĩ năng của
các thể loại trần thuật, tường thuật và kể chuyện trước đây trong chương
trình cải cách giáo dục nhưng nội hàm và ngoại diện của khái niệm tự sự
đã có nhiều thay đổi.Kiểu văn bản này được dạy học ở cấp THCS với số
tiết tương đối lớn( 51tiết/189 tiết- kể cả bài viết số 1- văn tự sự và miêu tả ,
chiếm 27 % tổng số tiết tập làm văn ở THCS).Những tri thức lí thuyết về
văn tự sự đã được dần dần giải quyết ở các lớp như: khái niệm, đặc trưng,
mối quan hệ giữa tự sự với các phương thức biểu đạt khác nhưng yêu cầu
ở mỗi lớp một khác.Vì vậy người thầy giáo phải làm thế nào để học sinh
nắm được một cách có hệ thống và phát triển kiểu loại văn bản này từ chỗ
nhận biết được sự việc và nhân vật trong văn tự sự, chủ đề, cách làm dàn
bài, lời văn, lời kể, ngôi kể,cách dựng các đoạn văn, thứ tự kể, cách kể,
nhiều người quan tâm, nhất là phần tập làm văn ở chương trình THCS
Trong đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu một thể loại quan trọng nhất của
tập làm văn THCS, đó là văn tự sự. Đặc biệt là rèn luyện một số kĩ năng
viết đoạn văn tự sự cơ bản trong chương trình Ngữ văn THCS. Từ đó
chúng tôi xây dựng một hệ thống bài tập và đưa ra những phương pháp,
biện pháp và cách thức tổ chức nhằm rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự
cho học sinh THCS . Mong muốn của chúng tôi là có thể góp phần vào
việc đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập làm văn theo quan điểm
tích cực, tích hợp.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt mục tiêu đề ra ở trên, chúng tôi sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp khảo sát.
Qua các phương pháp trên chúng tôi đã tập trung vào hai căn cứ cơ bản:
a. Căn cứ vào cơ sở lý luận :
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục THCS của bộ giáo dục và đào tạo đã
chỉ rõ: “Bậc THCS phải giúp học sinh có kỹ năng bước đầu, biết vận
dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm thu được của bản thân biết
quan sát, thu thập, xử lý và thông báo thông tin qua nội dung đã học
có thể vận dụng một cách sáng tạo kiến thức đã học đề giải quyết những
vấn đề trong học tập hoặc thường gặp trong cuộc sống bản thân, cộng
đồng”.
(Mục c- mục tiêu cụ thể). Bên cạnh đó mục tiêu môn Ngữ văn cũng
khẳng định: dạy học môn Ngữ văn phải “Làm cho học sinh có kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết khá thành thạo các kiểu văn bản” đã học( tự sự,
miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, điều hành).
b. Căn cứ vào thực tiễn :
THCS lấy 6 kiểu văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết
minh và điều hành làm trục đồng quy và được giảng dạy các kiểu bài
theo hàng ngang hai vòng. Vì vậy kiểu bài tự sự được giảng dạy ở cả
hai vòng với số lượng khá lớn (51 tiết/189 tiết chiếm 27 % các tiết tập
làm văn) với các nội dung cơ bản sau:
- Lớp 6:
+ Tìm hiểu chung về văn tự sự.
+ Sự việc và nhân vật trong văn tự sự.
+ Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự.
+ Tìm hiểu cách làm bài văn tự sự.
+ Bài viết về văn tự sự.
+ Lời văn, đoạn văn tự sự
+ Trả bài.
+ Luyện nói kể chuyện.
+ Ngôi kể và lời kể trong văn tự sự.
+ Thứ tự kể trong văn tự sự.
4
+ Luyện tập xây dựng bài văn tự sự kể chuyện đời thường
+ Kể chuyện tưởng tượng
+ Luyện tập kể chuyện tưởng tượng.
+ Thi kể chuyện.
-
- Lớp 7 :
Bài viết kể chuyện và miêu tả
- Lớp 8 :
+Tóm tắt văn bản tự sự.
+ Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự.
+ Miêu tả, biểu cảm trong văn tự sự.
+ Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
+ Làm dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
bài đoạn kết bài và cách đưa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận
vào trong từng đoạn văn. Do đó các em đã phần nào phân biệt được
đoạn văn tự sự có các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận khác với đoạn
văn miêu tả biểu cảm hay nghị luận.
Một số học sinh đã biết cách liên kết các đoạn văn một cách chặt chẽ,
sáng tạo. Nghĩa là thầy giáo đã phần nào phát huy được tính tích cự, chủ
động của học sinh, một trong những yêu cầu cơ bản của dạy học hiện
đại.
2. Một số việc chưa làm được khi rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự
sự cho học sinh THCS
Đối với kiểu bài tự sự các em đã được làm quen từ bậc tiểu học nên
khi học kiểu bài này giáo viên, học sinh thường chủ quan chưa chú ý
đúng mức việc rèn luyện kĩ năng viết từng đoạn văn cho học sinh. Vì
vậy học sinh chưa biết hoá thân vào nhân vật, thể hiện tính cách nhân
vật và hiểu rõ đặc trưng của văn bản tự sự. Hơn thế dạy tập làm văn chủ
yếu là thiên về thực hành ứng dụng. Song trên thực tế các tiết rèn luyện
kĩ năng viết đoạn văn tự sự còn quá ít, giáo viên chỉ vận dụng trong các
tiết lập dàn bài, trả bài, cách đưa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị
luận, đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm Vì vậy rất ít giáo viên
quan tâm đúng mức tới vấn đề này cho nên trong nhận thức của các em
vẫn còn nhập nhằng, lẫn lộn giữa các kiểu bài tự sự với miêu tả, biểu
cảm Đặc biệt các em chưa biết cách tổ chức đoạn văn tự sự có cuộc
thoại, hay độc thoại, độc thoại nội tâm và đưa các yếu tố miêu tả, biểu
cảm các yếu tố nghị luận vào trong đoạn văn tự sự, mà các em chỉ viết
được những đoạn văn tự nhiên.
Bên cạnh đó nội dung cần ghi nhớ về các đoạn văn trong bài văn tự sự
còn quá ít do đó nhiều giáo viên còn chủ quan, hời hợt chưa biết cách
khắc sâu cách viết từng đoạn văn cụ thể cho học sinh. Trong khi chương
trình lại rất chú trọng yêu cầu thực hành. Tuy nhiên trên thực tế thì các
giờ dạy tập làm văn nói chung và dạy văn tự sự nói riêng vẫn chưa đạt
- Các dấu hiệu ranh giới về cuộc thoại.
Đoạn thoại: Là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết
với nhau về ngữ nghĩa (một chủ đề duy nhất) hoặc về ngữ dụng( tính
duy nhất về đích).
Cấu trúc tổng quát của một đoạn thoại có thể là:
- Đoạn mở thoại.
- Thân cuộc thoại.
- Đoạn thoại kết thúc.
Điều đó có nghĩa là, mặc dù có nhiều cặp trao đáp nhưng chỉ hướng đến
duy nhất một nội dung thì phần văn bản mà chúng ta xem xét vẫn chỉ là
một đoạn văn.
Ví dụ1:
“ Chẳng bao lâu, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa bé không chân,
không tay, tròn như một quả dừa. Bà buồn lắm, toan vứt đi thì đứa con
bảo:
- Mẹ ơi, con là người đấy. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp.
Nghĩ lại, thấy thương con, bà đành để con lại nuôi và đặt tên cho nó
là Sọ Dừa”
- Ví dụ2:
Vị quan nọ bảo:
7
- Được tôi sẽ đưa anh vào gặp vua với điều kiện, anh phải chia đôi
một nửa phần thưởng của nhà vua. nếu không thì thôi.
Người nông dân đồng ý, viên quan nọ liền dẫn ông ta vào cung vua.
Vua cầm lấy viên ngọc và bảo:
- Thế anh muốn ta thưởng cho anh cái gì bây giờ?
Ngừơi nông đân bèn thưa:
- Xin bệ hạ hãy thưởng cho thần năm mươi roi Chỉ có điều là hạ
thần đã đồng ý chia cho viên quan đã đưa thần vào đây một nửa
phần thưởng của bệ hạ. Vậy xin bệ hạ hãy thưởng cho mỗi người hai
ứng với nội dung:
8
Tâm trạng của bà mẹ sau khi sinh con và thái độ của Sọ Dừa khi nói
với mẹ.
Phần văn bản(2) gồm hai đoạn văn tự sự, tương ứng với hai nội dung:
+ Mong muốn được dâng ngọc quý cho vua của người nông dân và
điều kiện của viên quan.
+ Thái độ của nhà vua và câu trả lời thông minh của người nông dân.
Việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự cho học sinh THCS có ý
nghĩa rất quan trọng. Trước hết, phải bắt đầu từ việc viết đoạn văn, tức
là từ việc rèn luyện các kỹ năng bộ phận để tiến tới hoàn chỉnh bài văn.
Đây là đơn vị không lớn lắm về dung lượng nhưng lại có khả năng rèn
luyện được các năng lực khác như : năng lực dùng từ, năng lực viết câu,
năng lực sử dụng lời kể, năng lực chọn ngôi kể trong văn tự sự. Đứng
ở khía cạnh đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc tích cực, tích
hợp, việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự còn có khả năng tích
hợp được những tri thức của phần đọc- hiểu tác phẩm văn học và phần
tiếng Việt có hiệu quả nhất. Học sinh sẽ có khả năng tốt hơn khi phân
tích một văn bản tự sự, đặc biệt là khi vận dụng những tri thức về đoạn
văn để hiểu rõ hơn về dụng ý của nhà văn khi xây dựng nhân vật, hoặc
khi miêu tả một sự việc nào đó trong diễn biến câu chuyện. Những tri
thức về từ, câu, về hội thoại sẽ được cụ thể hoá trong khi học sinh viết
đoạn văn tự sự. Mặt khác, đổi mới phương pháp dạy học dẫn đến cần
phải có sự đổi mới trong kiểm tra, đánh giá. Thay vì dành quá nhiều
thời gian để viết một bài văn, học sinh chỉ cần tập trung rèn luyện viết
một phần trong bài văn, tương ứng với một hoặc hai, ba đoạn văn. Các
kỹ năng bộ phận của Tập làm văn sẽ được rèn luyện kỹ hơn, sâu hơn.
IV. Tổ chức cho HS viết đoạn văn tự sự :
Đoạn văn tự sự chỉ là một bộ phận của bài văn tự sự, rèn luyện kĩ
năng viết đoạn văn tự sự cho HS cần phải lưu ý:
từ đâu tới?
( Ngựa tranh- theo Liêu Trai chí dị)
* Mở bài gián tiếp.
+ Mở bài bằng cách nêu tình huống hoặc sự cố nào đó hay kết cục
câu chuyện, số phận nhân vật rồi ngược lên kể lại từ đầu, nêu chủ đề
câu chuyện.
Cách mở bài như thế này có yêu cầu cao hơn, đòi hỏi phải có sự tư duy,
sự lựa chọn khá kĩ của học sinh.
Ví dụ:
Mẹ tôi, giọng khản đặc, từ trong màn nói vọng ra:
- Thôi, hai đứa liệu mà chia đồ chơi ra đi.
( Khánh Hoài, Cuộc chia tay của những con búp bê).
+ Mở bài bằng tả cảnh:
Rét dữ dội, tuyết rơi. Trời đã tối hẳn. Đêm nay là đêm giao thừa.
Giữa trời đông giá rét, một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò
dẫm trong đêm tối.
(An-đec- xen, Cô bé bán diêm).
+ Mở bài bằng một tâm trạng, một ý nghĩ.
Buổi sáng hôm ấy, đã quá trễ giờ đến lớp, tôi rất sợ bị quở mắng,
càng sợ vì thầy Ha-men đã dặn trước rằng thầy sẽ hỏi bài chúng tôi về
các phân từ mà tôi chẳng thuộc lấy một chữ. Tôi thoáng nghĩ hay là
trốn học và rong chơi ngoài đồng nội.
(An-phông-xơ-Đô-đê, Buổi học cuối cùng).
+ Mở bài bằng hồi tưởng:
10
Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không
có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn
man của buổi tựu trường.
(Thanh Tịnh, Tôi đi học).
Đối với việc hướng dẫn học sinh viết các đoạn thân bài cần xác
vật, cần tránh sa vào văn miêu tả.
VD: Cô không đẹp, chỉ xinh thôi. Và tính cô cũng như tuổi cô còn trẻ
con lắm. Thấy khách hàng nói một câu bông đùa cô đã tưởng người ta
chọc ghẹo mình, díu đôi lông mày lại và ngoe nguẩy cái mình. Khách
trông thấy chỉ cười.
( Thạch Lam- Hàng nước cô Dần)
11
Hoặc yêu cầu cao hơn đối với lớp 8: Dựa vào đoạn thơ sau, viết một
đoạn văn tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm:
Tiếng gà trưa
Tay bà khom soi trứng
Dành từng quả chắt chiu
Cho con gà mái ấp
Cứ hàng năm hàng năm
Khi gió mùa đông tới
Bà lo đàn gà toi
Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới.
(Xuân Quỳnh, Tiếng gà trưa)
HS viết đoạn văn dựa theo mạch thơ, nhưng cần phải chú ý chi tiết tả
người bà, dù ít thì mới làm nổi bật nhân vật xuất hiện trong mạch truyện
kể.
+ Đoạn văn miêu tả tính cách: cần chú ý đến nội tâm của nhân vật, đặt
trong mối quan hệ với các nhân vật khác qua cái nhìn và nhận xét của
người kể chuyện.
VD: Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp vào đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ
tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man
khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và nhữg hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn
nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường.
việc, diễn biến câu chuyện, lựa chọn những sự việc, những chi tiết tiêu
biểu nhất, sau đó mới kể lại sự việc theo các yêu cầu : nhân vật trong câu
chuyện, địa điểm, thời gian, quá trình, nguyên nhân, kết quả.
Muốn viết đoạn mở bài, thân bài, kết bài không thể không hình dung các
sự việc các nhân vật, mối quan hệ giữa các nhân vật và ý nghĩa của câu
chuyện. Có như thế đoạn văn được xây dựng mới có tính thống nhất trong
toàn bài văn.
Khi viết đoạn văn tự sự giáo viên nên định hướng cho HS những tri thức lý
thuyết về đoạn văn tự sự trên hai phương diện : nội dung và nhiệm vụ của
đoạn văn.
Tuỳ theo sự xuất hiện của đoạn văn mà có đoạn giới thiệu về nhân vật, vừa
kể việc, có đoạn văn biểu hiện tâm trạng của nhân vật hoặc của người kể
chuyện. Ngoài ra còn có những đoạn văn tả cảnh, tả người hoặc ghi lại
những cuộc thoại những độc thoại nội tâm của nhân vật
Cùng với nhiệm vụ cụ thể tuỳ theo vị trí xuất hiện, các đoạn văn dù ở vị trí
nào, thể hiện nội dung gì cũng đều tập trung làm nổi bật chủ đề, nội dung
của văn bản.
Rèn luyện cho HS kĩ năng viết đoạn văn tự sự cần hướng dẫn cho HS nhất
quán ngôi kể, các kiểu câu phù hợp với nội dung trong từng đoạn. Ngoài
ra, cần phải chú ý sử dụng phương tiện liên kết câu để đoạn văn được mạch
lạc chặt chẽ.
V. Một số lưu ý khi hướng dẫn học sinh THCS viết đoạn văn tự sự.
Khái niệm đoạn văn và những vấn đề liên quan đến đoạn văn đến lớp 9 học
sinh mới tiếp thu một cách đầy đủ và có hệ thống. Nhưng ngay từ lớp 6
học sinh đã phải viết đoạn văn tự sự và miêu tả Vì vậy trước khi hướng
dẫn học sinh viết đoạn văn tự sự, giáo viên cần cung cấp một số vấn đề liên
13
quan đến khái niệm đoạn văn và những yêu cầu cụ thể khi viết đoạn văn.
Đặc biệt tạo cho học sinh kĩ năng xác định câu chủ đề trong đoạn văn và
viết những đoạn văn có câu chủ đề.
4. Miêu tả sự vật 1
Biểu cảm về sự vật 1
Miêu tả sự vật 2
Biểu cảm về sự vật 2
Nhận xét đánh giá
1. Sự kiện 1
biểu cảm sự kiện 1
Sự kiện 2
Biểu cảm sự kiện 2
2. Miêu tả sự vật 1
Biểu cảm sự vật 1
Miêu tả sự vật 2
Biểu cảm về sự vật 2
VI. Tổ chức cho học sinh viết đoạn văn tự sự bằng hoạt động tích cực
và tương tác.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của
người học theo quan hệ tương tác giữa HS với HS, giữa giáo viên với HS
có khả năng tối ưu nhất trong việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự
cho HS
THCS. Với hoạt động này HS hoàn toàn chủ động sáng tạo trong việc tạo
ra thành quả học tập của chính bản thân mình, tránh được tình trạng học
tập thụ động một chiều.
Trong hoạt động tương tác, thảo luận theo nhóm là hình thức hoạt động có
ý nghĩa quan trọng. Dạy học hợp tác theo nhóm “ Là một thuật ngữ để chỉ
các dạy học trong đó HS được tổ chức thành các nhóm một cách phù hợp,
được giao nhịêm vụ và được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn làm việc
hợp tác với nhau giữa các thành viên để cùng đạt được kết quả chung là
hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm”.
Tương tác chính là một hoạt động giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh
với học sinh. Hình thức hoạt động tương tác tạo điều kiện để từng cá nhân
trai xa nhà.
Đối với lớp 9: Viết đoạn văn kể về kỉ niệm sắc với người bà của Bằng Việt
trong những ngày ấu thơ.
- HĐ: Cho cả lớp thảo luận nhóm về các đề trên và rèn luyện cho HS viết
đoạn văn tự sự. Khi tổ chức cho HS chuẩn bị, cần hướng dẫn cho HS nhất
quán ngôi kể, các kiểu câu phù hợp với nội dung trong từng đoạn. Ngoài
ra, cần phải chú ý sử dụng phương tiện liên kết câu để đoạn văn được mạch
lạc chặt chẽ.
Muốn sử dụng hình thức thảo luận nhóm để luyện tập cho HS viết đoạn
văn tự sự ngay ở lớp đạt kết quả cao nhất. Có thể hình dung được các bước
tổ chức cho HS viết đoạn văn tự sự bằng hình thức thảo luận nhóm.
Đối với lớp 6, là những đoạn văn tự sự có kết cấu đơn giản như các truyện
truyền thuyết, cổ tích trong chương trình đã học, hoặc những câu chuyện
sưu tầm thêm
VD: Một đêm em nằm mơ được gặp mẹ Thánh Gióng và được nghe bà kể
về con trai mình.
GV cho HS chuẩn bị viết đoạn mở bài, thân bài và kết bài theo nhóm, sau
đó cho các nhóm trình bày, nhận xét bài của nhau và liên kết thành bài.
Hoặc cho các nội dung chính của phần thân bài.
+ Thánh Gióng là cậu bé khác thường.
+ Thánh Gióng được mọi người góp sức để chuẩn bị ra trận.
+ Thánh Gióng đánh giặc Ân.
+ Thánh Gióng bay về trời.
- GV tổ chức cho HS chuẩn bị các đoạn văn theo các bước để thảo luận
như đã nói trên. Các nhóm tiến hành viết đoạn văn tự sự các thành viên
trong nhóm đều làm việc độc lập, sau đó trình bày trước nhóm, nhóm thảo
luận, sửa chữa bổ sung, cử đại diện nhóm lên trình bày Các nhóm thảo
luận nhận xét bài của nhau. Cuối cùng giáo viên nhận xét đánh giá kết quả
chung và đi đến một kết luận quy trình viết đoạn văn tự sự trong bài văn tự
sự( ưu tiên cho kĩ năng sáng tạo) để khuyến khích HS.
Hoặc viết đoạn văn kết bài cho những đề sau:
Đối với lớp 6 : Viết phần kết mới cho truyện ô Ông lão đánh cá và con cá
vàng ằ.
Đối với lớp 8 : Viết kết bài cho bài văn: Kể lại một câu chuyện đáng nhớ
về con vật nuôi mà em yêu thích.
Đối với lớp 9: Viết kết bài cho bài văn: Dựa vào nội dung phần đầu tác
phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (từ đầu đến “Bấy giờ chàng mới
tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc đã trót qua rồi”, hãy đóng vai
Trương Sinh kể lại câu chuyện và bày tỏ niềm ân hận.
- Nếu thời gian cho phép luyện tập nhiều hơn thì tuỳ vào mức độ của khối
lớp mà yêu cầu Đối với lớp 9 thì đoạn văn yêu cầu cao hơn, Ví dụ:Thuật
lại đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều” bằng văn xuôi.
Đối với dạng bài tập này học sinh có thể thuật như sau:
Sau khi Kiều quyết định bán mình chuộc cha, có một mụ mối đã đánh hơi
thấy món hời, liền sốt sắng dẫn một gã đàn ông đến nhà họ Vương. Gã
đàn ông ấy khoảng trạc trong ngoài bốn mươi, ăn mặc chải chuốt đỏm
dáng đến mức kệch kỡm, trơ trẽn. Gã tự giới thiệu là “Mã Giám Sinh” quê
ở huyện Lâm Thanh. Nhìn cảnh thầy tớ lao xao, Kiều đã thấy mủi lòng.
17
Khi gia đình chưa kịp chào mời, gã đã nhảy phốc lên ghế ngồi vẻ vênh
váo. Mụ mối bắt đầu vào cuộc.
- Thưa tiên sinh, nhà tôi đang gặp khó khăn. Cô nhà đây muốn gửi gắm
cuộc đời cho tiên sinh. Mong ông chiếu cố.
Mã nhìn ngó, xem xét có vẻ gật gù. Hắn lớn tiếng:
-Nghe bảo cô này giỏi thơ phú, đàn sáo. Hãy cho ta thưởng thức?
Mụ mối giục nàng tỏ rõ tài nghệ của mình. Rõ ràng tài năng mười phân
vẹn mười. Họ Mã gật đầu:
- Cô ả này ta trả bốn trăm lạng vàng.
Mụ mối giãy nảy :
- Xin tiên sinh xem lại. Ngài cho từng ấy, tôi làm sao trang trải.
“Ba giọt mực vẫn khăng khăng:
Thà làm một vết đen còn hơn khô héo trong đáy bình. Chúng tôi biết không
phải giọt mực nào cũng may mắn khi ra đời. Nhưng đã là mực, phải được
ghi một vết ở đâu đó. Là chữ, là hình vẽ, là một dấu chấm xấu xí cũng
được, chúng tôi muốn ra khỏi bình, chúng tôi không muốn chết non và chết
vô ích. (Lê Tất Điều).
Như chúng ta đã biết, trong thực tế, các văn bản nghệ thuật không đơn
thuần là loại miêu tả, tự sự, biểu cảm hay nghị luận mà nó hoà trộn vào
nhau, làm cho đoạn văn tự sự giàu hình ảnh, giàu cảm xúc và sâu sắc, tạo
nên một tác phẩm hoàn chỉnh như các màu sắc của nhà hoạ sĩ trong một
bức tranh muôn màu.
Có đề văn: kể về một kỉ niệm sâu sắc nhất về người bà kính yêu của mình.
Yêu cầu: Tự sự kết hợp với miêu tả, biểu cảm và nghị luận.
Ví dụ:
Nhà tôi nghèo lắm. Bà nội tôi tuy tuổi đã cao nhưng còn khoẻ mạnh nên
bà luôn đỡ đần mẹ tôi trong công việc nội trợ. Bà thường bảo:
- Đối với con người hạt gạo là quý nhất.
Mỗi lần đong gạo từ thùng ra cái rá, bà thường làm rất cẩn thận, không
bao giờ để vương vãi một hạt gạo ra ngoài. Một lần bà bị mệt, tôi phải
thay bà lo chuyện cơm nước. Khi bê cái rá gạo ra cửa, chẳng may bị
trượt chân, tôi vẫn cố gượng được, chỉ vài ba hạt gạo văng ra ngoài.
Tôi thản nhiên đi xuống bếp nấu cơm. Xong việc, tôi chạy vội lên nhà
định khoe với bà về sự giỏi giang của mình thì Tôi bỗng đứng sững
Bà tôi đang chống gậy dò đi từng bước để nhặt các hạt gạo vương vãi
trên nền nhà. Tôi chạy lại đỡ bà, nói:
- Bà ơi có mấy hạt gạo thì bõ bèn gì mà bà phải khổ sở thế?
Bà tôi thì thào:
- Cháu ơi thóc gạo là đức phật đấy Không có nó thì cũng chẳng có
ai hương khói nơi cửa phật đâu.
Lúc ấy tôi chưa hiểu câu nối của bà, nhưng bây giờ tôi đã hiểu. Suốt
huyện
2008-
2009
10 0 1 1 7 1 bẩng
A.đậu19 em
cả huyện
b. Kết quả thi khảo sát chất lượng học kì I năm học 2008-2009 (cho riêng
lớp 9).
9A – lớp được áp dụng và 9 D lớp không được áp dụng.
Lớp
Tổng
số
Gỏi Khá TB Yếu, kém
Ghi
chú
T.số % T.số % T.số % T.số %
9 A 37 4 10,8 10 27,0 19 51,4 4 10,8
9 D 33 0 0 3 9,1 20 60,6 10 30,3
C. Kết luận:
1. Như vậy viết đoạn văn tự sự là một trong những kĩ năng cơ bản, quan
trọng trong rèn luyện kĩ năng cho học sinh THCS viết văn tự sự. Kĩ năng
20
này có mối quan hệ chặt chẽ với các kĩ năng khác: tìm hiểu đề, lập dàn ý, sử
dụng ngôi kể, lời kể Đối với lớp 9 khi đưa các yếu tố miêu tả, biểu cảm
cần chú ý ranh giới giữa tự sự và nghị luận.
2. Thầy giáo cần trang bị cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn mở bài, các
đoạn thân bài, đoạn kết bài và kĩ năng liên kết các đoạn văn kĩ năng sử dụng
từ ngữ phù hợp đối với từng đối tượng học sinh khác nhau, với mức độ các
lớp khác nhau. Muốn viết được những đoạn văn khác nhau trong bài văn tự
sự, cần phải có những kĩ năng cơ bản cần thiết nói trên.
mỗi giờ dạy người thầy giáo phải hướng dẫn thật chu đáo cho học sinh chuẩn bị
bài thật kỹ lưỡng. Chúng tôi những người thầy giáo trực tiếp giảng dạy bộ môn
ngữ văn với tinh thần trách nhiệm và lũng say mờ nghề nghiệp đó nỗ lực tỡm tũi
trong quỏ trỡnh dạy học .Những điều chỳng tụi trỡnh bày vẫn cũn nhiều cõn nhắc,
lựa chọn, bổ sung nhưng
chúng tôi vẫn mạnh dạn đúc rút lại trong sáng kiến kinh nghiệm này mong góp
một cách dạy rốn kĩ năng viết văn tự sự cho học sinh THCS đạt hiệu quả cao. Rất
mong được sự góp ý chõn thành của quý thầy ,cụ và đồng nghiệp xa gần.
Minh Hợp ngày 16 tháng 4 năm 2009
ĐỒNG TÁC GIẢ:
Nguyễn Văn Tình
Nguyễn Thị Thiên Thu
Lê Thị Hoá
22