PHẦN THỨ NHẤT : ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đã từ lâu, Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là vấn đề
hết sức quan trọng và cần thiết trong việc tạo lập văn bản. Từ đó, giúp học
sinh hình thành ý thức và nhân cách cũng như trình độ học vấn cho các em
ngay khi đang học bậc học THCS và trưởng thành sau này. Qua việc rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý thức tự tu dưỡng, biết yêu
thương, quí trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,
biết hướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ
phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và cũng từ đó rèn cho các
em tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị
chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật. Trước hết là trong văn học có năng lực thực
hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải hướng
dẫn cho các em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt
câu trong đoạn văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các
phương tiện liên kết trong đoạn văn. Tuỳ theo từng phương thức diễn đạt khác
nhau mà viết theo lối qui nạp, diễn dịch, song hành hay móc xích.
Để viết được đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng như vậy
để tạo thành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành
(khi đã dùng các phương tiện liên kết trong văn bản).
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất
nhiều những phương tiện hiện đại, thông tin đại
chúng cập nhật liên tục khiến cho học sinh lao vào
con đường say mê “nghiện” sách vở bị lãng quên,
ham bạo lực điện tử, sách kiếm hiệp. Vì vậy, các
em không còn ham đọc sách, ham nghiên cứu. Cho
nên, việc viết một đoạn văn lại càng là vấn đề đáng quan tâm khi chúng ta rèn
luyện cho các em. Hơn thế nữa, tập làm văn là môn học thực hành tổng hợp ở
trình độ cao của môn Văn – Tiếng Việt, môn Tập làm văn được xem như vị trí
Đến cải cách giáo dục (1980 – 2001), Tập làm văn là một phần của môn
TiếngViệt, quan niệm dạy môn này và Tiếng Việt có tính chất như là công cụ
để học tốt các môn học khác. Làm văn là quá trình giúp học sinh xây dựng
văn bản.
Giai đoạn hiện nay: phân môn Tập làm văn có tính độc lập nhưng có mối
quan hệ trực tiếp đến phần Văn và phần Tiếng Việt.
Lần thay sách giáo khoa này, phân môn Tập làm văn được tích hợp cùng
phân môn Văn và Tiếng Việt trong chương trình Ngữ Văn mới. Các kiểu văn
bản của Tập làm văn chính là trục để xây dựng nội dung, chương trình Ngữ
Văn THCS từ năm học 2002 – 2003.
III/ MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục đích .
Tập làm văn với mục đích giúp cho học sinh nắm được các thể loại trong
chương trình tập làm văn ở THCS như Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận,
Thuyết minh, Điều hành. Từ đó, học sinh biết vận dụng các thể loại văn bản
để phục vụ cho học tập, trong đời sống. Đặc biệt đề tài này sẽ giúp cho các em
biết cách xây dựng đoạn văn thuộc các thể loại nói trên, với bố cục đoạn văn
dù ngắn hay dài đều phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức,
hướng dẫn cho các em rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục ba phần:
Mở bài, Thân bài, Kết luận.
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó. Ý chính đó, có thể đứng
ở đầu đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui
nạp hoặc ý chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách
song hành.
Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các
hình thức nói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến
thức đã tiếp thu được qua các môn Văn – Tiếng Việt và những kiến thức văn
hoá xã hội để có thể nói và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu
văn bản khác nhau mà cuộc sống đặt ra cho các em.
Viết đoạn văn (trong phân môn Tập làm văn còn trực tiếp rèn luyện cho
Đối tượng phần lớn là học sinh khối THCS.
V/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trước hết, chúng ta phải có cái nhìn khái quát toàn bộ chương trình ở cấp
THCS như sau:
Chương trình Tập làm văn THCS đồng tâm với chương trình Tập làm
văn của Tiểu học nhưng ở yêu cầu cao hơn, tiếp tục và hoàn chỉnh chương
trình ở THCS, mở rộng các thể văn mới hơn, yêu cầu cao hơn đối với học
sinh. Chương trình Tập làm văn có mối quan hệ khá rõ ràng: Giữa Văn –
Tiếng Việt – Tập làm văn. Để trở thành thao tác tốt viết đoạn văn, giáo viên
hướng dẫn học sinh như cách dùng từ đặt câu và cao hơn là dựng đoạn. Vì
vậy, có thể nói học sinh được học và thực hành 15 loại văn bản ở bậc THCS,
đủ để giao tiếp bằng văn bản và tiếp tục học lên ở những bậc trên.
1. Phương pháp lí thuyết .
Bước đầu dạy cho học sinh những khái niệm về từng thể loại văn, làm
quen với những đề văn mẫu, những bài văn mẫu và tìm hiểu cụ thể từng bài
qua các tiết học: Lí thuyết về đoạn văn. Qua đó, giúp học sinh học, tìm hiểu
cách xây dựng đoạn văn, bố cục đoạn văn, các câu chốt (câu chủ đề) trong
đoạn văn, viết theo các cách diễn dịch, qui nạp, song hành, móc xích …Từ đó,
cho học sinh tập viết đoạn văn, có vận dụng lí thuyết về thể loại văn ấy. Tuy
nhiên, phương pháp lí thuyết không quá nặng.
2. Phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu.
Học sinh là chủ thể trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của các em trong quá trình tiếp nhận. Trong quá trình nghiên
cứu, tìm hiểu cho học sinh tự thân vận động là chính, giáo viên im lặng đến
mức tối đa để khuyến khích học sinh sáng tạo trong giờ Tập làm văn. Vậy,
trong tiết học Tập làm văn mà đặc biệt là tiết rèn luyện viết đoạn văn, hướng
dẫn các kĩ năng nghiên cứu, tìm hiểu để vận dụng các kiến thức đã học để
dựng đoạn theo đặc điểm thể loại để tạo lập văn bản.
3. Phương pháp kiểm tra, khảo sát .
Với phương pháp này, đòi hỏi học sinh phải thực hành liên tục, chắc chắn
Để rèn luyện được kĩ năng viết đoạn văn, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ
yêu cầu diễn đạt thành lời, thành đoạn, phải sử dụng các phương tiện ngôn
ngữ sao cho phù hợp với ý của đoạn để hiệu qủa biểu đạt cao hơn, đoạn văn
có sức cuốn hút hơn với người đọc. Kĩ năng dựng đoạn văn gắn với kĩ năng
luyện nói trên lớp. Có triển khai ý thành đoạn cũng mới tiến hành được. Đây
là những thao tác, những kĩ năng có khi thực hiện và rèn luyện đồng thời cùng
một lúc.
Qua đó, ta có thể hiểu được: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn
bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xưống dòng
và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều
câu tạo thành. Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ
đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần
(thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu
đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai
thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn (hay còn gọi là câu chốt).
Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn
bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song hành…
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các phương tiện
liên kết để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Có nhiều phương tiện liên kết
trong đoạn văn: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ,
các cụm từ thể hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát…,và dùng
câu nối trong đoạn văn. Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch
một cách hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản.
Như vậy, các phương tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nhưng đồng thời
chúng cũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn. Mặt khác,
lại có những phương tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau, nên cần lựa
chọn các phương tiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của người viết,
với sự việc được phản ánh và tình huống giao tiếp cụ thể.
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học
sinh để phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong
lí luận văn học) và phương thức tự sự (trong tập làm văn).
1.Theo quan điểm lí luận văn học.
“ Tác phẩm phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống
trong không gian, thời gian qua các sự kiện, sự cố xảy ra trong cuộc đời con
người. Trong tác phẩm tự sự nhà văn thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình
thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con người tới mức
giữa chúng hầu như không có sự phân biệt nào cả.
Nhà văn tả lại, kể lại những gì xảy ra bên ngoài mình khiến cho người
đọc có cảm giác hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới
tạo hình xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ
thuộc vào tình cảm ý muốn của nhà văn”.
2.Theo quan niệm trong Tập làm văn.
Trong Tập làm văn, khái niệm “Tự sự” được hiểu theo nghĩa rộng. Đó là
phương thức biểu đạt bằng cách kể ra các sự kiện theo mối quan hệ nào đó
như quan hệ nhân quả, quan hệ liên tưởng.
Sách giáo khoa Tập làm văn trước đây (1986 – 1995) không dùng khái
niệm tự sự mà dùng các khái niệm kể chuyện, trần thuật, tường thuật. Trong
sách giáo khoa Ngữ văn-6 Tập I- trang 28 – nhà xuất bản giáo dục 2002, nêu
định nghĩa về văn tự sự như sau:
“ Tự sự” (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi sự việc, sự việc
này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý
nghĩa. Tự sự giúp ngươi kể giải thích sự việc, tìm hiểu con ngươi, nêu vấn đề
và bày tỏ thái độ khen, chê.
Theo quan niệm này thì kể chuyện về sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử,
tường thuật một hội nghị, một vụ hoả hoạn… đều thuộc phương thức tự sự.
Nói cách khác khái niệm tự sự bao gồm cả nội dung trần thuật, kể chuyện đã
học trong chương trình Tập làm văn trước đây.
Văn tự sự chia làm hai dạng: kể chuyện đời thường và kể chuyện tưởng
tượng.
+ Kể chuyện đời thường (kể chuyện đời sống) là kể người thực, việc thực
bé đang ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh. Mặt chú bé như
toả sáng ra một thứ ánh sáng rất lạ. Toát lên từ cặp mắt, tư thế ngồi của chú
không chỉ sự suy tư mà còn rất mơ mộng nữa. Mẹ hồi hộp thì thầm vào tai
tôi:
- “ Con có nhận ra tôi không ?”
Ví dụ 2: Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
“ Nhưng, ô kìa ! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phủ phàng kéo
dài suốt cả một đêm, tưởng chừng như không bao giờ dứt, vẫn còn một chiếc
lá thường xuân bám trên bức tường ghạch. Đó là chiếc lá cuối cùng ở trên
cây. Ở gần cuống lá còn giữ mầu xanh sẫm, nhưng với với rìa lá hình răng
cưa đã nhuộm mầu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành, cách
mặt đất lưng chừng 20 bộ” .
+ Tự sự kết hợp với nghị luận:
Ở chương trình Ngữ văn THCS đã cung cấp 6 kiểu văn bản dựa trên 6
phương thức biểu đạt chính. Nếu như các phương thức miêu tả, biểu cảm, tự
sự… chủ yếu dùng hình tượng, hình ảnh, cảm xúc để tái hiện hiện thực thì
nghị luận dùng lí lẽ lô gíc phán đoán nhằm làm sáng toả một ý kiến một quan
điểm, tư tưởng nào đó. Các phương thức trên là cơ sở của tư duy hình tượng,
còn nghị luận là cơ sở của tư duy lô gíc. Chính vì thế mà trong văn bản tự sự,
để người đọc, người nghe phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người viết,
người kể có khi nghị luận bằng cách nêu lên các ý kiến nhận xét cùng những
lí lẽ và dẫn chứng. Nội dung đó thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận
làm cho câu chuyện thêm phần triết lí.
Ví dụ 3: “ Chao ôi ! đối với những người ở xung quanh ta, nếu ta không
cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc bần tiện, xấu xa bỉ ổi…
toàn là những thứ để ta tàn nhẫn không bao giờ ta thương… Vợ tôi không ác
nhưng thị khổ quá rồi. một người đau chân có lúc nào quen được cái chân đau
của mình để nghĩ đến một gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta
chẳng nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tôt của người ta bị những nỗi lo
lắng buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ
dựa vào cơ sở ngữ nghĩa.
Hiện nay, có một cách hiểu thoả đáng hơn cả là coi đoạn văn vừa là sự
phân đoạn về nội dung, vừa là sự phân đoạn hình thức. Đoạn văn là đơn vị cơ
sở của văn bản. Về mặt nội dung đoạn văn phải đảm nhận một chức năng nào
đấy về mặt nghĩa, có thể hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh. Tính hoàn chỉnh
này thể hiện ở chỗ sau mỗi đoạn văn phải có dấu chấm xuống dòng,chữ đầu
bao giờ cũng phhải viết hoa và lùi vào phía trong. Dựa vào sự phân tích như
trên có thể quan niệm “ Đoạn văn là cơ sở cấu thành văn bản trực tiếp đứng
trên câu diễn đạt môt nộ dung nhất định, được mở đầu bằng chỗ lùi vào đầu
dòng, viết hoa và kết thúc bằng dấu chấm ngắt đoạn).
Vậy, vấn đề đặt ra là: nếu căn cứ vào quan niệm đoạn văn như trên,
trong những trường hợp có đối thoại giữa các nhân vật, tức là khi xây dựng
những đoạn văn tự sự, khái niệm này cần phải lí giải như thế nào ?
3. Đoạn văn tự sự.
Tự sự theo nghĩa rộng là phương thức biểu đạt bằng cách kể ra các sự
kiện theo mối quan hệ nào đấy như: quan hệ nhân quả, quan hệ liên tưởng.
Cốt truyện của tác phẩm tự sự được thể hiện qua môt chuỗi tình tiết, thông
thường mỗi tình tiết được kể bằng một đoạn văn. Bởi vậy, đoạn văn tự sự có
thể giới thiệu nhân vật (lai lịch, tên họ, quan hệ, tính tình, tài năng…) hoặc kể
về các việc làm, hành đọng, lời nói, kết quả và sự đổi thay do các hành động
ấy đem lại. Ở đoạn có lời đối đáp giữa các nhân vật thường tương ứng với
một đoạn thoại, tức là đoạn đối thoại ấy nhằm hướng đến một nội dung nào đó
trong toàn bộ nội dung của văn bản. đoạn thoại có thể gồm nhiều cặp thoạ
cùng hướng đến một nội dung nào đó trong toàn bộ cuộc thoại.
Vậy, thế nào là đoạn văn tự sự ? Đoạn văn tự sự có đặc điểm gì ? Để
hiểu được vấn đề này ta xết các ví dụ sau:
Ví dụ 1 : “ Chẳng bao lâu, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa bé
không chân, không tay, tròn như một quả dừa. Bà buồn lắm toan vứt đi thì
đứa con bảo:
-Mẹ ơi, con là người đấy. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp. Nghĩ lại
nhau về ngữ nghĩa (một chủ đề duy nhất) hoặc về ngữ dụng (tính duy nhất về
đích).
Cấu trúc tổng quát của một đoạn thoại có thể là:
+ Đoạn thoại mở thoại.
+ Thân cuộc thoại.
+ Đoạn thoạ kết thúc.
Từ cách phân tích và những khái niệm trên, có thể đi đén khẳng định: tự
sự là phương thức trình bầy một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự
việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.
Bài văn tự sự gồm nhiều đoạn văn. Đoạn văn tự sự có thể giới thiệu về
nhân vật (lai lịch, tên họ, quan hệ, tính tình, tài năng…) hoặc kể về các việc
làm, hành động, lời nói, kết quả và sự đổi thay do các hành đồng ấy đem lại.Ở
những đoạn có lời đối đáp giữa các nhân vật thường tương ứng với một đoạn
thoại, tức là đoạn đối thoại ấy nhằm hướng đến một nội dung nào đó trong
toàn bộ cuộc thoại.
Như vậy, phần văn bản ở ví dụ 1 trích dẫn ở trên là một đoạn văn tự sự
tương ứng với nội dung: tâm trạng của bà mẹ sau khi sinh con và thái độ của
Sọ Dừa khi nói với mẹ.
Phần văn bản ở ví dụ 2 gồm 2 đoạn văn tự sự tương ứng với hai nội dung
sau: mong muốn được dâng ngọc quí cho vua của người nông dân và điều
kiện của viên quan ; thái độ của vua và câu trả lời thông minh của người nông
dân.
III/ YÊU CẦU CỦA ĐOẠN VĂN TỰ SỰ
Khái niệm đoạn văn và những vấn đề liên quan đến đoạn văn, các lớp
trên học sinh mới tiếp thu một cách hoàn chỉnh và có hệ thống. Nhưng từ lớp
6, học sinh đã phải viết các đoạn văn tự sự, miêu tả. Vì vây, trước khi hướng
dẫn học sinh viết đoạn văn tự sự, giáo viên cần cung cấp một số vấn đề liên
quan đến khái niệm đoạn văn và những yêu cầu cụ thể khi viết đoạn văn, đặc
biệt tạo cho học sinh kĩ năng xác định câu chủ đề trong đoạn văn và viết
những đoạn văn có câu chủ đề.
hoặc giải thích cho ý chính, làm cho ý chính nổi lên. Để viết được các đoạn
văn có nội dung phù hợp với chủ đề của đoạn văn, trước hết xác định chủ đề
lớn của bài văn là gi ? Sau đó mới xác định câu chủ đề cho từng ý, tức là từng
đoạn văn. Các câu chủ đề của đoạn văn thường nằm ở đàu đoạn (đoạn văn
trình bày theo cách diễn dịch) hoặc ở cuối đoạn (đoạn văn qui nạp).
3. Sử dụng phép liên kết và cách dùng từ trong đoạn văn .
Mỗi đoạn văn bao giờ cũng phải trình bay tương đối hoàn chỉnh một ý.
Các câu trong đoạn văn phải có quan hệ về ý nghĩa và phải liên kết chặt chẽ
với nhau bằng các phương tiện liên kết.
Phương tiện liên kết những từ, những tổ hợp từ dùng để liên kết câu.
Phép liên kết là cách sử dụng các phương tiện liên kết để liên kết câu. Có
các phép liên kết sau: phép nối, phép lặp, phép thế, phép liên tưởng, phép
nghịch đối…
Ví dụ: - Đoạn văn sử dụng phép nối.
“ Cô không đẹp, chỉ xinh thôi. Và tính cô cũng như tuổi cô còn trẻ con
lắm, thấy khách hàng nói một câu bông đùa, cô đã chửi người ta chòng ghẹo
mình, díu đôi đôi lông mày lại và ngoe nguẩy cái mình. Khách trông thấy
cũng cười. Nhưng cô cũng không giận ai lâu, chỉ một lát cô lại vui tỉnh
ngay”.
(Thạch Lam – Hàng nước cô Dầu)
- Đoạn văn sử dụng phép lặp.
“ Mặt trời lặn dần sau đỉnh núi. Đã đến lúc khỉ và cáo phải về nhà. Khỉ
bảo cáo: “ Mai mời cậu đến nhà tớ chơi nhé, được không ? Cáo băn khoăn:
“ Chỗ bạn ở có bao nhiêu là nhà, làm sao tớ tìm được” khỉ hào hứng “ Ồ thế
này nhé, tớ sẽ vẽ lên trên cánh cổng nhà tớ. Bạn sẽ tìm thấy ngay thôi mà”.
- Đoạn sử dụng phép thế .
“ Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương.
Người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng hết mực,
Muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng”.
4. Cách viết đoạn văn tự sự .
* Cũng có những truyện lại được bắt đầu bằng vài câu tả cảnh, tả thời
khắc lúc đó để tạo bối cảnh cho chuyện.
Ví dụ: “ Ngoài cửa sổ bấy giờ những bông hoa bằng lăng đã thưa thớt,
cái giống hoa ngay từ khi mới nở, màu săc đã nhợt nhạt;Hẳn có lẽ vì đã sắp
hết mùa, hoa đã vãn trên cành, cho nên mấy bông hoa còn sót lại trở nên đậm
sắc hơn”
* Cách mở đàu nói đến kết quả sự việc rồi mới ngược lên kẻ lại từ đầu.
Ví dụ : “ Các bạn ! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy là mỗi lần tôi
băn khoăn và ngậm ngùi.Trong cuộc đời kháng chiến của tôi ; tôi đã chứng
kiến không biết bao nhiêu là cuộc chia tay, nhưng tôi chưa bao giờ lại xúc
đông như lần ấy…”
Như vậy, trong văn bản tự sự có nhiều cách mở đàu câu chuyện, điều
đáng quan tâm là phải mở đầu làm sao để thu hút sự quan tâm chú ý, tò mò,
hấp dẫn đối với người đọc. Hầu hết học sinh đều cảm thấy rất khó khăn khi
viết đoạn mở bài. Bởi vì mở bài có lưu loắt, trong sáng, hấp dẫn thì làm văn
mới có cảm xúc, mới hay và thu hút người đọc. Chính vì vậy, rèn luyện kĩ
năng viết đoạn mở bài cho học sinh là điều đáng quan tâm đối với mỗi giáo
viên dạy văn.
4.2. Cách viết đoạn thân bài.
Phần thân bài của bài văn tự sự gồm nhiều đoạn văn. Mỗi đoạn văn là
một ý của bài. Các đoạn trong phần này có thể được trìng bày theo các trình
tự nhất định. Song vẫn có các cách viết khác.
+ Đoạn văn giới thiệu nhân vật.
Trong tác phẩm tự sự, nhân vật là đặc trưng thẩm mĩ cốt yếu đóng vai trò
trung tâm của tác phẩm. Không có nhân vật thì không có cốt truyện. Mọi diễn
biến mâu thuẫn và những vấn đề nảy sinh cần giải quyết đều phải biểu hiện
qua nhân vật và hành động của nhân vật. Mọi sự việc trong văn tự sự điều
xoay quanh nhân vật, do nhân vật làm và thể hiện tính cách nhân vật.
Ví dụ: “ Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” hai nhân vật này được khắc hoạ như sau:
Sơn Tinh ở vùng núi Tản Viên, có tài lạ. Vẫy tay về phía Đông, phía Đông
thành năm mũi xâm lược đất Bắch Việt ở phía Nam. Quân Tần Thuỷ Hoàng
đến đâu lấy thêm quân huyện mới đến đấy (…) quân xâm lược tàn bạo càng
hung hăng tiến sâu vào đất cua người Âu Việt – Lạc Việt”.
Trong hệ thống sự việc của đoạn văn tự sự : có sự việc khởi đầu, sự việc
cao trào, sự việc kết thúc. Khi xây dựng sự việc cần có sự việc mở đầu, nó là
nguyên nhâ trực tiếp làm bùng nổ các xung đột.
Ví dụ : sự việc mở đầu trong truyện “ Sơn Tinh – Thuỷ Tinh ” là vua Hùng
Vương thứ mười tám kén phò mã. Đó là nguyên nhân của các sự việc tiếp
theo: Sơn Tinh – Thuỷ Tinh đến cầu hôn. Vua thách sính lễ, Sơn Tinh lấy
được vợ.
Sự phát triển bao gồm các chuỗi sự kiện hoặc các biến cố nối tiếp nhau
làm cho xung đột phát triển đến cao trào, sự việc cao trào là xung đột gay gắt
căng thẳng và đi đến chỗ nhất thiết phải giải quyết.
Ví dụ: Thuỷ Tinh không lấy được vợ, nổi giận đem quân đuổi theo đánh
Sơn Tinh, hòng cướp lại Mị Nương, Sơn Tinh cũng không chịu thất bại và
đánh trả lại Thuỷ Tinh. Sự việc kết thúc là kết quả của xung đột được giải
quyết, ví dụ: Thuỷ Tinh thất bại.
Các sự việc được sắp xếp theo một trình tự hợp lí cái trước là nguyên
nhân của cái sau và là cái kết quả của cái trước. Đó là sự sắp xếp như thế
khiến cho các sự việc quan hệ với nhau gắn bó chặt chẽ. Như vậy, xây dựng
sự việc chính là quá trình tìm ý, chọn ý, sắp xếp các ý để viết đoạn văn tự sự.
* Đoạn văn sử dụng ngôi kể và thay đổi ngôi kể trong văn tự sự.
a/ Kể theo ngôi thứ nhất: khi kể theo ngôi thứ nhất, người kể chuyện
xưng: tôi, chúng tôi, em, chúng em. Cách kể này mang màu sắc cá nhân, kể
những gì mình biết, mình làm.
Có hai loại ngôi kể: ngôi kể thứ nhất của tác giả đứng ra kể chuyện mình
hoặc chuyện mình biết. Ví dụ: bút kí, hồi kí, và ngôi thứ nhất được kể bằng
lời của một nhân vật hư cấu. Ví dụ: “ Dế Mèn phiêu lưu kí” ( Tô Hoài)
b/ Kể theo ngôi thứ ba:
Kể theo ngôi thứ ba là ngôi kể rất cổ xưa, thường gặp trong thần thoại,
lụt dâng nước đánh Sơn Tinh…”
Ví dụ: Thánh Gióng đánh đuổi xong giặc Ân, một mình, một ngựa, cởi bỏ
giáp sắt và bay về trời” ( Thánh Gióng).
Kết thúc mở.
Là loại kết thúc mà khi các diễn biến còn chưa kết thúc để người đọc tự
suy luận về hướng phát triển của câu chuyện. Cách kết thúc như vậy lai chưa
phải kết thúc.
Ví dụ: Kết thúc của tác phẩm “ Tắt đèn ” – Ngô Tất Tố.
Hoặc : tác phẩm “ Lặng lẽ Sa Pa ” – Nguyễn Thành Long.
V/ MỘT SỐ ĐOẠN VĂN TỰ SỰ TIÊU BIỂU
Đoạn mở bài :
1 . Trời vừa sáng, tờ lịch bay bay như muốn nói: “ cô bé ơi hôm nay
thứ ba rồi đấy !”Em vùng dạy, tìm cặp sách, chiếc cặp to phồng những sách
vở em chuẩn bị từ trước khi đi ngủ, đang nằm ngay ngắn trên bàn trong tư
thế “ sẵn sàng”… Bác đồng hồ kêu reng… reng nhắc đã đến giờ. Nào chào
chị lịch chăm chỉ, chào bác đồng hồ vui tính; em đi học nhé.
( Bài làm của học sinh).
2 . Năm học này, lớp em có nhiều bạn học sinh đã nêu cao tấm gương bền
bỉ, khắc phục khó khăn trong học tập đạt nhiều thắng lợi có bạn yếu Văn đã
trở thành giỏi Văn. Có bạn yếu Toán đã trở thành học sinh giỏi Toán. Nhiều
tấm gương sáng đã làm em vô cùng cảm phục. Trong số đó gương bạn Thu
Lan đã in sâu vào tâm trí em nhất.
(Theo Tập làm văn lớp – 5- Sở giáo dục Cửu Long)
3 . Trời về mưa, cái nắng càng trở nên gay gắt. Những đợt gió mạnh ào
qua làm hơi nóng từ đường nhựa bốc lên hầm hập, cuốn bụi bay mù mịt. Tôi
gò lưng trên chiếc xe đạp mong cho mau chóng về tới nhà. Sau một buổi học
căng thẳng, giờ thì trong bụng đã đói meo. Lại thêm cả khát nữa. Con đường
như dài ra, mắt tôi chợt sáng lên khi nhìn thấy hiệu kem trước mắt. Phải rồi,
lúc này mà thưởng thức cảm giác mát lạnh của một que kem thì thú vị phải
biết. Một ngìn mẹ cho ăn sáng vẫn còn nguyên đây. Tôi vội vả ghé xe vào vệ
trong triều đã ngầm thiên vị cho Sơn Tinh. Ngay cả lúc ấy, dù thầm thán phục
cả hai chàng như nhau, nhưng tự trong thâm tâm, nàng vẫn thấy Sơn Tinh
gần gũi với mình hơn. Vả lại chỉ nghĩ tới việc lấy chông về miền nước thẳm
xa xôi cách trở, nàng đã sợ hãi rfồi. Nhưng mọi chuyên đã qua… Mị Nương
nghiêm nghị nhìn Thuỷ Tinh.
- Ta hiểu lòng chàng – nhưng sau khi mọi việc đã in bề sao chàng còn
gây chiến với phu quân ta mãi không thôi, để muôn dân điêu đứng ? Chàng
thật đáng trách.
3. Mùa thu năm ấy, một mùa thu không thể nào quên; Đó là những ngày
lụt lội. Tôi còn nhớ rất rõ. Nước ngập hơn nửa bánh xe. Mưa, gió, gào rít dữ
dộ. Cha tôi hôm ấy hơi mệt vì tối qua bị mắc mưa. Nếu nghỉ mất một buổi thì
hơi tiếc vì toàn là môn khó. nhưng nhìn cha với dáng vẻ mệt mỏi rồi nhìn ra
ngoài trời… mưa gió, tôi lại tự an ủi “ Thôi, mai mình mượn vở của bạn cũng
được, nhưng nếu mai cũng…”.