skkn nâng cao kĩ năng viết đoạn văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 - Pdf 37

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi hiểu rõ hơn ai hết vị trí,
vai trò của việc xây dựng đoạn văn trong quá trình tạo lập văn bản nói chung và
xây dựng đoạn văn trong văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 nói riêng khi dạy thể
loại Biểu cảm . Từ thực tế giảng dạy của mình, tôi đã cố gắng tìm tòi các biện
pháp mới để nâng cao chất lượng giảng dạy và sáng kiến: Nâng cao kĩ năng
viết đoạn văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 đã đạt được hiệu quả thực tế tốt.
1. Phạm vi và đối tượng áp dụng sáng kiến


1.1. Phạm vi
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là kiểu bài văn biểu cảm, thuộc phân môn
Tập làm văn – Ngữ văn Lớp 7 - Trung học cơ sở.
1.2. Đối tượng:
Đối tượng áp dụng trước hết là giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngữ văn trong
nhà trường. Nếu thành công có thể áp dụng đối với giáo viên dạy Văn ở các
trường Trung học cơ sở trong huyện. Đồng thời đề tài có thể áp dụng đối với tất
cả đối tượng học sinh Trung học cơ sở.
2. Mục tiêu sáng kiến
Đề tài này sẽ giúp cho giáo viên hệ thống hóa các kiến thức về đoạn văn
biểu cảm, hướng dẫn các em học sinh biết cách xây dựng đoạn văn với bố cục
dù ngắn hay dài đều phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức,
hướng dẫn cho các em rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục ba phần:
Mở bài, Thân bài, Kết bài.
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó. Ý chính đó, có thể đứng ở
đầu đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp hoặc
ý chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành. Qua
đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình thức nói
hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã tiếp thu
được qua các môn Văn – Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để có thể
nói và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau mà cuộc sống đặt ra cho các em.


NỘI DUNG
1. Một sô khái niệm
1.1. Kĩ năng là gì?
Gần đây chúng ta nghe nói rất nhiều về thuật ngữ "kỹ năng" như là kỹ năng
sống, kỹ năng mềm, kỹ năng chuyên môn, trung tâm huấn luyện kỹ năng. Vậy
Kỹ năng là gì? Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Theo Từ điển
Tiếng Việt: Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.


Đối với môn Ngữ Văn, rèn kĩ năng làm văn cho học sinh tức là hướng dẫn
học sinh biết vận dụng những kiến thức đã học để dựng đoạn văn trong quá
trình tạo lập văn bản.
1.2. Khái niệm đoạn văn và đặc điểm đoạn văn
Như chúng ta đã biết, bài viết được cấu thành bởi các đoạn văn( văn bản)
theo những phương thức và bằng những phương tiện khác nhau. Dựng đoạn
được triển khai từ ý trong dàn bài. Có thể đoạn văn là một ý hoặc nhiều ý và
cũng có thể một ý có nhiều đoạn. Trong đoạn văn thường có bố cục ba phần:
mở đoạn, phát triển đoạn và kết đoạn. Ở góc độ đặc điểm cấu trúc thì các đoạn
văn có thể là đoạn diễn dịch, qui nạp, móc xích, song hành…
Qua đó, ta có thể hiểu được: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn
bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xưống dòng
và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu
tạo thành. Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là
các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần
(thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu
đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành
phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn (hay còn gọi là câu chốt). Các
câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn bằng các

Cảm xúc ban đầu của người viết.
Phát triển đoạn: Biểu lộ cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ thể, chi tiết, sâu sắc.
Kết thúc đoạn: Kết đọng cảm xúc, ý nghĩ của mình.
Đoạn văn biểu cảm chỉ thực sự có giá trị khi tình cảm và tư tưởng hoà quện
với nhau chặt chẽ. Cảm xúc phải chân thật, trong sáng, tư tưởng phải tiến bộ,
đúng đắn. Câu văn, lời văn, giọng văn phải có giá trị biểu cảm.
Có hai cách (lối) biểu cảm.
Biểu cảm trực tiếp: Thông qua cách sử dụng các từ cảm : ôi, hỡi, tôi, ta…
Tác dụng bộc lộ, biểu hiện tình cảm, thái độ đối với sự việc có liên quan. Điều
này thấy rõ nhất trong thơ trữ tình, trong tuỳ bút, trong đối thoại nội tâm của
nhân vật.


Biểu cảm gián tiếp: Thông qua cách miêu tả cử chỉ, động tác, thái độ của
nhân vật và tình cảm của người viết.
Mặc dù vậy, biểu cảm trực tiếp, biểu cảm gián tiếp không đối lập nhau,
không tách rời nhau mà cần được bổ sung cho nhau để giúp cho biểu cảm sâu
sắc tinh tế hơn.
2. Đặc điểm tâm sinh lí cơ bản của học sinh Trung học cơ sở.
Học sinh THCS có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên nên còn có tên gọi khác
là tuổi thiếu niên. Về cơ thể, học sinh THCS không có gì khác so với cuối năm
tiểu học. Các em chỉ lớn vọt lên ở các năm tiếp theo. Đây là thời gian xảy ra rất
nhiều biến đổi khác nhau ở cơ thể trẻ. Sự hình thành nhân cách được hoàn
thiện.Về thể chất, các em tăng nhanh về chiều cao và trọng lượng cơ thể, các
dấu hiệu sinh dục phụ xuất hiện. Tuy nhiên, người lớn phải ý thức rằng, những
phát triển trong cơ thể lúc này diễn ra chưa đồng bộ với diện mạo to cao bên
ngoài.Như vậy, các em vẫn chưa là người lớn thực thụ về tất cả các chức năng
trong cơ thể.
Mặt khác, sự thay đổi trong lĩnh vực động cơ nhân cách cũng diễn ra cùng
với động cơ học tập, như cầu giao tiếp bạn bè, việc lĩnh hội các chuẩn mực và

phân tích đề, dàn ý và dựng đoạn, liên kết đoạn từ thấp đến cao, từ một tiêu đề,
một ý, một đoạn văn đến nhiều đoạn, cuối cùng là một văn bản hoàn chỉnh. Khi
viết còn chưa hiểu kĩ đề bài nên hay bị sai lệch. Việc phân phối thời gian, số
lượng câu cho các đoạn, các ý lớn, ý nhỏ chưa rõ ràng, cụ thể. Cho nên, có
nhiều trường hợp viết thừa hoặc thiếu chưa xác định cụ thể đề tài, chủ đề của
đoạn văn. Quá trình lập luận, trình bày chưa chặt chẽ, lô gíc và sinh động. Chưa
biết vận dụng nhiều phương pháp liên kết trong một đoạn văn hoặc nhiều đoạn
văn. Vì thế các đoạn văn thường hay đơn thuần, nhàm chán.
Qua Đề kiểm tra chất lượng học kì I - Môn Ngữ Văn - Năm học 20112012(Đề của Phòng Giáo dục và đào tạo)
Câu 4:
Từ hai bài thơ “tĩnh dạ tứ” và “Hồi hương ngẫu thư”hãy phát biểu cảm nghĩ
về quê hương.
Khảo sát thực tế bài làm của học sinh khối 7 tôi thấy rằng :
Trên 10% số học sinh chưa biết viết đoạn văn biểu cảm.


Số học sinh có khả năng dựng đoạn và xử lí yêu cầu của đề bài trên 50%.
Số liệu cụ thể như sau
Phân loại
Lớp
7A (40hs)
7B (40hs)
7C (37hs)
7D (43hs)

Giỏi
SL
%
1
2.5

Trung bình
SL
%
16
40
9
22.5
6
16.2
10
23.3
41

25.6

yếu, kém
SL
%
8
20
5
12.5
4
10.8
1
2.3
18

11.3


người thầy giáo trong chương trình thay sách giáo khoa hiện nay. Điều quan
trọng nhất khi viết đoạn văn biểu cảm là học sinh nắm vững các thao tác, cách
thức trình bày đoạn văn biểu cảm, để từ các kĩ năng Tập làm văn phát triển
thành kĩ xảo, thói quen làm văn.
Để thực hành những điều nói trên đây, chúng ta hãy thử kiểm chứng bằng một
ví dụ cụ thể sau:
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao”:
“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông soa sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?
Đêm đêm tưởng giải ngân hà,
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”
Trên đây là một bài văn biểu cảm về một bài ca dao. Vì vậy, đề văn biểu
cảm bao giờ cũng nêu ra được đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm cho
bài viết. Xác định rõ các bước làm văn biểu cảm: Tìm hiểu đề, tím ý, lập dàn ý,
viết các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài.
Để tiến hành rèn luyện các kĩ năng Tập làm văn, trước hết học sinh phải xác
định ý cho đoạn văn.


5.1. Xác định ý cho bài văn biểu cảm.
Giáo viên định hướng cho học sinh xác định các vấn đề sau:
+ Đối tượng biểu cảm trong đề bài trên ?
+ Mục đích biểu cảm ?
+ Cảm xúc, tình cảm trong các trường hợp .

tập viết các câu chủ đề. Đây là khâu quan trọng trong việc tạo lập đoạn văn. Vì
có viết được câu chủ đề thì mới có thể triển khai ý của đoạn văn và lựa chọn
nội dung trình bày của đoạn văn.
Trước hết, chúng ta xác định câu chủ đề mang tính khái quát cho toàn bài văn:
Bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao” diễn tả bao nỗi buồn thương nhớ, cô đơn
và lòng chung thuỷ của người lữ khách đối với quê nhà.
Ta xác định câu chủ đề cho từng đoạn văn như sau:
Câu chủ đề 1: Tâm trạng của người lữ khách luôn lẻ loi, trống vắng, chờ trông
cứ vương vấn mãi không thôi.
Câu chủ đề 2: Nỗi nhớ quê nhà của nhân vật trữ tình diễn ra triền miên.
Câu chủ đề 3: Lời thơ thấm thía bao nỗi buồn thương, nhớ – tấm lòng thuỷ
chung đối với quê nhà.
Câu chủ đề 4: Tấm lòng thuỷ chung toả sáng trong bài ca và tâm hồn con
người.
Từ đó, giáo viên định hướng cho các em viết các đoạn văn bằng việc lựa
chọn các phép liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ liên kết v.v..
5.3. Liên kết đoạn văn và cách dùng từ, ngữ khi xây dựng đoạn văn.
Cũng như các kiểu văn bản khác, bài văn biểu cảm là một thể thống nhất về
hình thức, hoàn chỉnh về nội dung. Trong đó, đoạn văn có một vai trò hết sức
quan trọng trong việc cấu thành một văn bản biểu cảm hoàn chỉnh. Vì vậy, các
câu, các đoạn trong văn bản phải liên kết với nhau một cách chặt chẽ.
Rèn kĩ năng viết đoạn văn và việc sử dụng các cách liên kết là một thao tác
không thể thiếu được. Các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài có thể được viết
theo các cách như sau.
5.4. Cách viết đoạn văn biểu cảm.


Trước hết, giáo viên hướng dẫn học sinh nắm một cách khái quát yêu cầu
của các đoạn văn mở bài, đoạn văn thân bài, đoạn văn kết bài.
Đoạn văn mở bài: Khái quát được cảm xúc, tình cảm của người viết khi đọc bài

xúc động của bà, của mẹ: à ơi, “ Anh đi anh nhớ quê nhà”. Lời ru ấy cứ giăng
mắc mãi lòng ta. Bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao” còn là một kỉ niệm
không phai mờ trong tâm trí tôi từ thuở bé thơ. Lớn lên, tôi vẫn thường ru em
như thế:
“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?
Đêm đêm tưởng giải ngân hà,
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”
Đoạn văn trên được viết theo lối biểu cảm trực tiếp: biểu lộ cảm xúc, tình
cảm của người viết thông qua việc sử dụng các từ ngữ: ta đã được nghe…
không phai mờ trong tâm trí tôi từ thuở bé thơ…
5.4.2. Cách viết đoạn thân bài
Quá trình viết đoạn văn thân bài, giáo viên lưu ý học sinh: Giọng văn, hơi
văn biểu cảm không gò bó, khô khan, đảm bảo được các yêu cầu diễn đạt, dùng
từ, đặt câu, lựa chọn các đặc điểm, nội dung trình bày của đoạn văn. Nghĩa là
tuỳ thuộc vào mạch cảm xúc của người viết mà có cách lựa chọn cho thích hợp.
Từ đề bài trên đây, ta có thể viết các đoạn văn thân bài như sau( lưu ý mỗi đoạn
văn được viết ra phải xuất phát từ các ý đã tìm được ở phần trên).
Đoạn văn 1: Thao thức, lẻ loi, chỉ biết ra đứng bờ ao, nơi vắng vẻ ở cuối sân,
ngõ sau hay bờ ao. Cứ trông gần, trông xa, nhưng nào thấy, vì “cá lặn, sao
mờ” tự bao giờ. Các điệp từ ( trông, cá, sao) gợi lên trong lòng lữ khách sự
buồn vắng, chơi vơi…
“ Đêm qua ra đứng bờ ao




Đến đoạn văn này câu chủ đề lại đặt ở đầu đoạn để nêu lên “nỗi nhớ” mang
tính khái quát nhất, hàm xúc nhất cho toàn đoạn văn.
Đoạn văn thứ ba:
Hai câu cuối là hình ảnh tương phản rất đặc sắc: “đá mòn” với “dạ chẳng mòn”:
“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”
Lời thơ thấm thía bao nỗi buồn thương nhớ và cô đơn - đó là tấm lòng
thương nhớ, thuỷ chung đối với quê nhà.
Như vậy, mô hình cơ bản của đoạn văn biểu cảm là diễn dịch và qui nạp.
Nó phù hợp với mạch cảm xúc, tình cảm của người viết. Luyện viết đoạn văn
biểu cảm ở yêu cầu không khó khăn lắm là như cách trình bày trên. Tuy nhiên,
để viết được đoạn văn theo các cách trên, thì người viết phải bám sát các ý của
bài, rồi luyện viết với từng ý chính đã được xác định và các câu chủ đề đã được
xác lập ban đầu.
5.4.3.Cách viết đoạn văn kết bài.
Đoạn văn kết bài nêu lên cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ. Vì
vậy, để có được một bài văn hoàn chỉnh không thể không viết đoạn kết bài.
Từ câu chủ đề đã xác định được như ở trên, ta có thể viết đoạn văn kết bài như sau:
Ca dao là một tấm lòng. “Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ” là tấm lòng
của nhân dân, của những ai xa gần, của ông tôi, bà tôi, mẹ tôi, chị em tôi…
Tấm lòng son sắt thuỷ chung đối với gia đình, quê hương luôn toả sáng trong
bài ca dao và tâm hồn con người.
Tóm lại, rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong bài văn biểu cảm là thực
hiện các thao tác tìm hiểu đề, tìm ý, xây dựng câu chủ đề- để từ đó định hướng
cho việc xây đựng từng đoạn văn. Cứ tập đi tập lại như thế ta sẽ thành thạo.
Không phải chỉ thành thạo dựng đoạn độc lập mà thành thạo và nhạy cảm trong
dựng đoạn của bài văn biểu cảm. Từ việc “Tập làm” đến việc “làm văn” là
một quá trình đi từ việc rèn luyện kĩ năng cần thiết đến kĩ xảo (thói quen, thành

(Lớp 7B)


Đề bài2: Cảm nhận của em về bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Chí Minh.
(Lớp 7C)
* QUY TRÌNH DẠY - HỌC
Ở LỚP 7B - THỰC HIỆN CÁC BƯỚC SAU:
Hoạt động 1: Khởi động bằng việc kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà của các em và
GV chọn một bài văn biểu cảm cho HS đọc trước lớp rồi xác định các phần
trong bài làm của người viết - Trình bày các ý chính trong mỗi phần: Mở bài,
Thân bài, kết bài.
Hoạt động 2: GV tổ chức cho HS ôn tập các đơn vị kiến thức đã học về văn
Biểu cảm. Cụ thể:
I. Khái niệm văn Biểu cảm.
II. Đặc điểm của văn Biểu cảm.
III. Các yêu cầu khi làm bài văn Biểu cảm.
Hoạt động 3: GV tổ chức cho người học viết các đoạn văn biểu cảm theo yêu
cầu của người dạy. Đối tượng biểu cảm là một số tác phẩm thơ, hoặc đoạn thơ.
Hoạt động 4: GV cho lớp tiến hành thảo luận và nhận xét, đánh giá các đoạn
văn của HS.
Hoạt động 5: GV củng cố kiến thức và tiến hành khảo sát bằng đề bài sau:
Cảm nhận của em về bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Chí minh.
Hoạt động 6: GV thu bài và dặn dò HS.
Ở LỚP 7C - THỰC HIỆN CÁC BƯỚC SAU:
Hoạt động 1: GV tổ chức cho HS nắm lại các đơn vị kiến thức sau:
I. Khái niệm văn Biểu cảm.
II. Đặc điểm của văn Biểu cảm.
III. Các yêu cầu khi làm bài văn Biểu cảm.
Hoạt động 2: Tổ chức rèn luyện các kĩ năng viết đoạn văn biểu cảm:



SL

%

SL

5
13

12.5 10
30.2 17

%

SL

%

SL

%

25
45.9

19
6

47.5

– rèn kĩ năng làm văn cho học sinh đều thể hiện tính nghiêm túc của người dạy
và những nét tình cảm nghề nghiệp, tình yêu con trẻ, những dấu ấn cảm xúc cá
nhân trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, soạn giảng.
* MỘT VÀI ĐOẠN VĂN TIÊU BIỂU:
1.

“Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non ?
Trăng bao nhiêu tuổi trăng tròn
Núi bao nhiêu tuổi núi còn trơ trơ ?"
( Ca dao)

Bài ca dao “ Trăng bao nhiêu tuổi trăng già”, được viết bằng thơ lục bát và
câu hỏi tu từ. Trăng và núi là hai ẩn dụ. Sự đối đáp ở đây không phải là câu
đố về thiên nhiên ( núi, trăng) như có người đã nhầm tưởng. Mà sự giao, ướm
hỏi ( ướm duyên) rất tình tứ, tế nhị của trai gái làng quê ngày xưa. Mộtk cách
tỏ tình rất duyên dáng và biểu cảm.
2.
“Trưa về đến sau đồi
Gọi con như mọi bận
Mà không nghe trả lời
Thì mẹ ơi đừng giận


Nhìn vở bài toán đố
Con làm còn dở dang
Bỏ quên bên cửa sổ
Đừng bảo con không ngoan
Sân nhà đầy lá rụng
Mẹ đừng trách con lười

để tử từ đó giúp các em biết phân biệt cái sai, cái tốt, cái xấu... Và cũng từ đây
các em được nuôi dưỡng tâm hồn vươn tới cái tốt đẹp hơn.
Qua tiết học, ta nắm được ưu thế của học sinh và phát huy được những khả
năng làm văn của các em. Từ đó, học sinh có dịp để uốn nắn điều chỉnh, hạn
chế những lệch lạc trong nhận thức, đời sống tư tưởng tình cảm của của các em.
Cũng từ đó, hiệu quả giáo dục của Tập làm văn nói chung, viết đoạn văn nói
riêng được nâng cao và được học sinh yêu thích.
Qua việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, học sinh được uốn nắn, điều
chỉnh, hạn chế những thiếu sót trong quá trình làm văn ở những cấp học cao
hơn. Ngoài ra các em còn được bồi dưỡng về tâm hồn, trí tuệ, biết rung động
trước cái đẹp, biết hướng tới giá trị thẩm mĩ, có năng lực sử dụng ngôn ngữ,
bjiết tích luỹ vốn tri thức và vận dụng trong giao tiếp ở mọi hoàn cảnh khác
nhau. Dùng từ đặt câu, viết đoạn sẽ được các em vận dụng tốt trong mọi điều
kiện để hướng tới cái chân – thiện – mĩ, biết tự hào và sử dụng Tiếng Việt trong
sáng, hoàn mĩ hơn.


Cũng từ việc rèn kĩ năng viết đoạn giúp học sinh vận dụng để viết được
nhiều đoạn văn và viết tốt ở nhiều thể loại.
1.2. Tuy nhiên, việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn vẫn còn nhiều hạn chế. Vì
đây là một tiết khó của môn học, nếu đơn thuần giáo viên không hướng dẫn cụ
thể về cách tìm hiểu đề, tìm ý, mỗi ý tương ứng với bao nhiêu đoạn trong văn
bản. Hoặc học sinh chưa tìm được câu chủ đề để từ đó phát triển mở rộng thành
đoạn văn. Để tích hợp được với văn và Tiếng Việt, giáo viên chưa hướng dẫn
khái niệm đoạn văn, câu chủ đề, quan hệ giữa các câu và cách trình bày đoạn
văn. Qua đó, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo các yêu cầu về
cấu trúc và ngữ nghĩa.
Hạn chế nữa là trong chương trình SGK Ngữ Văn THCS học sinh không
được học các nội dung trình bày trong đoạn văn theo các đặc điểm, cấu trúc
diễn dich, qui nạp, song hành, móc xích. Do đó, khi xây dựng đoạn văn, học

tiếp thu được.
Về số lượng tiết học viết đoạn văn còn quá ít, nên tăng cường thêm số
lượng cũng như thời gian cần được phân bố cân đối hài hoà để tránh học sinh
ngại học căng thẳng mà ngược lại các em ham học hơn.
Trong sự phát triển đi lên của đất nước và của văn học nước nhà, văn học
nhân loại, trong đó có không ít các nhân tài đất nước là giáo viên, là học sinhchủnhân tương lai của đất nước. Vì vậy việc dạy chữ, dạy người là rất cần thiết.
Đặc biệt trong nhà trường THCS việc hình thành nhân cách, việc tiếp cận với
kiến thức nhân loại, phân biệt cái tốt, cái xấu, cái phải cái trái đối với học sinh
cũng là vấn đề then chốt. Hơn nữa, giúp các em ham học, thích học môn văn
(trong đó có môn Tập làm văn, thực hành các kĩ năng viết các đoạn văn) cũng
là vấn đề mà giấo viên cần nghiên cứu.
Vì vậy, chúng ta cần quan tâm hơn nữa để phát huy những tài năng sẵn có còn
tiềm ẩn trong mỗi cá nhân học sinh, giúp các em hoàn thiện nhân cách, phát
huy vốn tri thức của nhân loại làm giàu cho quê hương đất nước.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ Văn 7 – Tập I.
2. Giảng dạy Tập làm văn ở trường THCS – TS. Lê Xuân Soan - NXB Đại
học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Làm văn – PGS.TS. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) – NXB Đại học Sư
phạm.
4. Bồi dưỡng học sinh năng khiếu THCS - Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) –
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status