ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN XUYẾN
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN
CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN XUYẾN
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN
CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Chuyên ngành: LL VÀ PP DẠY HỌC VĂN- TIẾNG VIỆT
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Thủy
tôi luôn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo.
Hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám
hiệu, khoa sau đại học, khoa Ngữ văn; các thầy giáo, cô giáo đã tận tâm giảng
dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu. Đặc
biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thu Thủy đã hết lòng
giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng chí lãnh đạo
Trường Trung học phổ thông Lý Nhân huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, các đồng
nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
trong việc trao đổi, chuẩn bị tư liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Thái nguyên, tháng 4 năm 2016
Tác giả luâ ̣n văn
Trần Văn Xuyến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC............................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... iv
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
2.1. Một số yêu cầu rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh
lớp 10 ......................................................................................................... 34
2.1.1. Yêu cầu về mục tiêu dạy học ................................................................... 34
2.1.2. Yêu cầu về nội dung rèn luyện ................................................................ 35
2.1.3. Yêu cầu đối với hoạt động rèn luyện ....................................................... 39
2.1.4. Yêu cầu về kiểm tra, đánh giá ................................................................. 40
2.2. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho HS lớp
10 theo định hướng phát triển năng lực ..................................................... 41
2.2.1. Bài tập nhận diện ..................................................................................... 41
2.2.2. Bài tập phát hiện lỗi và nêu cách sửa cho đoạn văn ................................ 46
2.2.3. Bài tập tạo lập .......................................................................................... 53
2.3. Phương hướng vận dụng bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn ........... 58
2.3.1. Các hình thức rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn văn nghị luận .............. 59
2.3.2. Cách thức rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận ở lớp 10 THPT ... 60
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ........................................................... 67
3.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................ 67
3.2. Phương pháp thực nghiệm ......................................................................... 67
3.3. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm ............................................................. 67
3.3.1. Đối tượng thực nghiệm ............................................................................ 67
3.3.2. Địa bàn thực nghiệm................................................................................ 68
3.4. Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm ........................................... 68
3.4.1. Nội dung thực nghiệm ............................................................................. 68
3.4.2. Cách thức tiến hành thực nghiệm ............................................................ 69
3.5. Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................ 81
3.5.1. Phân tích kết quả thực nghiệm ................................................................ 81
3.5.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................................. 82
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 84
HS
Học sinh
4
LLPT
Lập luận phân tích
5
PPDH
Phương pháp dạy học
6
SBT
Sách bài tập
7
SGK
Sách giáo khoa
8
cầu rất trọng yếu của việc học văn trong nhà trường. Bởi văn nghị luận có thể
thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó là vũ khí khoa học và vũ
khí tư tưởng sắc bén, giúp cho con người nhận thức đúng đắn các lĩnh vực của
đời sống xã hội và hướng dẫn, thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người. Văn
nghị luận giúp HS biết vận dụng tổng hợp các tri thức đã học được từ tự nhiên
đến xã hội, rèn luyện khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, khả năng tư duy lôgic
khoa học, có năng lực đánh giá…. góp phần tích cực vào việc phát triển hoàn
thiện nhân cách con người. Tuy nhiên, hiện nay, nội dung và phương pháp dạy
học VNL vẫn nặng về lý thuyết, thiên về truyền thụ kiến thức chưa chú trọng
nhiều đến việc rèn kĩ năng, phát triển năng lực viết đoạn văn cho HS.
1.3. Việc dạy học VNL ở lớp 10 THPT hiện nay còn gặp nhiều khó khăn.
Thời lượng thực hành trên lớp hạn chế, người học chưa tích cực, người dạy
không đầu tư nhiều. Do đó, kĩ năng viết VNL của HS rất hạn chế. Làm thế nào
để nâng cao được kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho HS? để từ đó phát triển ở
các em những năng lực, phẩm chất là điều mà mỗi GV trăn trở và suy nghĩ.
Xuất phát từ những lí do trên nên chúng tôi đã chọn đề tài "Rèn luyện kĩ
năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 10 theo định hướng phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
năng lực" với một mong muốn tìm ra một hướng đi, một giải pháp dù là rất
nhỏ để việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học làm văn nói riêng đạt hiệu
quả cao hơn, đáp ứng mục tiêu giáo dục và nhu cầu xã hội.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu về văn nghị luận
Văn nghị luận là một thể loại văn chính có từ lâu trong chương trình Ngữ
thống nhất của toàn bài:
5. Mỗi đoạn có thể bố cục hợp lý và thu hút sự chú ý của người đọc nhất
Kết luận là phần tổng kết các ý chính trong bài (tránh lặp lại hoàn toàn các
từ ngữ đã dùng, hay đưa ra gợi ý, phán đoán trong phần này). Đoạn kết sẽ giúp
cho bài văn có ý toàn vẹn. Để viết một đoạn kết luận hay, cần:
1. Xem lại câu chủ đề và đảm bảo kết luận phải liên quan đến câu chủ đề.
2. Viết câu đầu của kết luận với một câu nối ý giữa đoạn thân bài cuối
cùng và kết luận.
3. Bắt đầu từ đoạn này, có thể mở rộng ý nhưng chú ý rằng cấu trúc đoạn
kết luận trái ngược với đoạn mở bài.
4. Sử dụng các ý của các thân đoạn để kết luận, có thể lặp lại một số từ
khóa, nhưng không được chép lại nguyên văn câu mở đoạn.
5. Kết luận có thể bao gồm cả dự đoán dựa theo các ý sẵn có hoặc đưa ra
phương án giải quyết vấn đề đã nêu.
Trong đoạn kết luận, cần tránh:
1. Tổng kết nếu không cần thiết: nếu bài văn của bạn ngắn gọn, người đọc
sẽ nhớ được các ý chính, do đó không cần đến kết luận. Còn đối với các bài văn
dài, sẽ khó nhớ được các ý nên cần có nhiều kết luận.
2. Đưa ra các ý tưởng mới: nếu có một ý tưởng mới mẻ nảy sinh trong quá
trình bạn viết đoạn kết, người đọc sẽ có thể trông chờ xem tác giả giải thích và
chứng minh như thế nào. Nếu ý tưởng đủ quan trọng để cho vào đoạn kết, bạn
hãy xem xét để đưa ý đó vào một thân đoạn bên trên.”[39] Cố Minh Viễn trong
cuốn So sánh giáo dục Ngữ văn (语文比较教育) đã nêu trong mục “Quy chuẩn
năng lực viết văn”: Khi viết phải bộc lộ quan điểm rõ ràng, nội dung phong
phú, tình cảm chân thật, trong sáng; mạch suy nghĩ rõ ràng, liền mạch, có thể
lựa chọn tài liệu, xoay quanh vấn đề trọng tâm, sắp xếp kết cấu hợp lý. Trong
quá trình biểu đạt cần phát triển tư duy hình tượng và tư duy lô-gích, phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
luyện phương pháp và kĩ năng làm văn nghị luận, trong đó đi sâu nghiên cứu
phương pháp và kĩ năng làm văn nghị luận văn học. Giáo trình Phương pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
dạy học Văn (tập 2) của các tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh đã bàn về
phương pháp dạy học các phân môn của Ngữ văn theo hướng tích cực hóa hoạt
động dạy và học. Ở phân môn Làm văn các tác giả đưa ra phương pháp dạy lí
thuyết và phương pháp dạy thực hành. Cuốn Tiếng Việt thực hành của các tác
giả: Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng đã bàn đến các giai đoạn của quá
trình tạo lập văn bản như giai đoạn định hướng, lập đề cương, viết đoạn văn và
văn bản…
2.2. Tình hình nghiên cứu việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận
cho HS lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực
Như vậy, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về việc rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận. Tiêu biểu là cuốn 150 bài tập rèn luyện
kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh của Nguyễn Quang Ninh. Tài liệu là những
định hướng cho HS trong quá trình viết đoạn văn nghị luận. Tuy nhiên những
định hướng cụ thể cho việc phát triển năng lực trong rèn luyện kĩ năng viết
đoạn văn nghị luận thì còn rất ít.
Bên cạnh đó, một số tác giả khác cũng quan tâm nghiên cứu hệ thống BT
RLKN viết văn nghị luận như: Trần Hữu Phong với công trình “Lập luận với
việc rèn luyện cho học sinh phổ thông trung học cách lập luận trong đoạn văn
nghị luận” và các tác giả khác cũng có đưa ra một số dạng bài tập trong công
trình của mình. Các bài tập này có tính chất định hướng cho việc phát triển hệ
thống BT RLKN làm văn nghị luận cho HS. Kết quả nghiên cứu trong các tài
4.2. Phạm vi nghiên cứu: kĩ năng viết đoạn văn nghị luận; hoạt động rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 10 ở trường phổ thông.
Trong đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu hệ thống bài tập rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 10 ở trường phổ thông.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau: phương pháp chuyên gia, phương pháp hồi cứu tư liệu,
phương pháp phân tích, phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp thống kê
- so sánh, phương pháp điều tra; phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp chuyên gia được tác giả sử dụng thường xuyên trong quá
trình triển khai đề tài. Tác giả đã xin ý kiến các chuyên gia về lí thuyết giao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
tiếp, lí thuyết tạo lập văn bản, kĩ năng, kĩ năng viết đoạn văn nghị luận, năng
lực …, làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu, triển khai đề tài.
- Phương pháp hồi cứu tư liệu được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên
cứu đề tài. Tác giả đã tìm tòi, tra cứu các tài liệu liên quan đến đề tài từ trước
đến nay nhằm giải quyết các nhiệm vụ của luận văn.
- Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng để giới thuyết lịch sử vấn đề
và xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài; phân tích các số liệu khảo sát xây dựng cơ sở
thực tiễn cho đề tài.
- Phương pháp thống kê - phân loại là phương pháp được tác giả dùng khi
nghiên cứu lí thuyết và khảo sát thực trạng: thống kê các tài liệu nghiên cứu về
văn nghị luận và phân loại các tài liệu theo vấn đề văn nghị luận, kĩ năng viết
đoạn văn cho bài văn nghị luận.
cho học sinh lớp 10.
8. Cấu trúc đề tài
Cấu trúc của đề tài gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận. Phần nội
dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho
học sinh lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Ngoài ra đề tài còn phần phụ lục và tài liệu tham khảo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1 Văn nghị luận và kĩ năng viết đoạn văn nghị luận
1.1.1.1 Văn nghị luận
Nghị luận là hoạt động dùng lời lẽ đúng đắn để trình bày quan điểm, ý
kiến của mình về một vấn đề nào đó. Văn nghị luận có vị trí rất quan trọng
trong đời sống. Cụ thể VNL là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong
đời sống xã hội, có vai trò rèn luyện tư duy và năng lực biểu đạt những vấn đề
có ý nghĩa quan trọng trong thực tế đời sống. Trong nhà trường việc học VNL
rất quan trọng. Văn nghị luận giúp cho HS tập vận dụng tổng hợp các tri thức
văn hóa, tri thức xã hội và đời sống vào việc làm văn.
nghĩa rằng: VNL” chủ yếu nhằm trình bày các ý kiến, các lí lẽ để giải thích,
chứng minh, biện luận, thuyết phục về một vấn đề gì đó. Nó nhằm tác động vào
trí tuệ, lí trí của người đọc nhiều hơn vào cảm xúc, tình cảm hay tưởng tượng.
Nó là sản phẩm của tư duy logic”. Một cách khác, ta có thể trình bày hàm nghĩa
của VNL như sau: Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân
tích lí lẽ. Nó là tên gọi chung một thể loại văn vận dụng các hình thức tu duy
logic như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày
lí lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với
khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ
trương, ý kiến, quan điểm của tác giả.
Tài liệu khác cho rằng: “Văn nghị luận là một thể loại văn học dùng lí luận
để làm sáng tỏ một vấn đề thuộc về chân lí nhằm làm cho người đọc và người
nghe hiểu và tin vào vấn đề có thái độ và hành động đứng trước vấn đề đó”.[33]
Như vậy, ta có thể thấy được khái niệm VNL được trình bày trong các tài
lệu là rất phong phú, đa dạng. Ở những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy điểm
chung là: Văn nghị luận chính là sản phẩm của sự tư duy logic. Là thể văn sử
dụng phương thức nghị luận, văn nghị luận chuyển tải tư tưởng, tình cảm, thái độ
của người viết về các vấn đề thuộc lĩnh vực văn học, đạo lí… và đời sống xã hội.
Về hình thức, VNL được cấu tạo là một văn bản với bố cục mạch lạc theo ba
phần: mở bài, thân bài, kết bài. Phần thân bài được triển khai thành các đoạn văn
bằng lập luận chặt chẽ, lôgic, giàu sức thuyết phục và bằng ngôn từ trong sáng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
Dựa vào nội dung đề tài nghị luận, VNL được chia thành hai dạng: NLVH
và NLXH. Đối tượng của bài NLVH chủ yếu là kiến thức văn học, các vấn đề
Đoạn văn thường có từ ngữ về câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ
được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần (thường chỉ là từ, đại từ
hoặc các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt. Câu chủ đề mang nội
dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu
hoặc cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng
tỏ chủ đề của đoạn (SGK Ngữ văn 8 tập 1 trang 36). Đoạn văn là một khái
niệm cho đến nay đã và đang tồn tại nhiều cách khác nhau. Những cách hiểu
này tập trung vào hai hướng chính:
Hướng thứ nhất, xem đoạn văn là sự phân đoạn hoàn toàn mang tính chất
hình thức.Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó
thể hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa
hai dấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng
các phép liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng
được viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn.
Hướng thứ hai là sự quan niệm đoạn văn là sự phân đoạn nội dung, phân
đoạn ý.Có thể thấy về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức
độ nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương
đối dễ dàng. Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan
chặt chẽ với nhau, trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn trong văn
bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định:
đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai
chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. Mỗi
đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của
đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định.
Hai cách hiểu trên, bên cạnh những mặt tích cực còn bộc lộ những điểm
chưa thỏa đáng. Chính vì vậy cách hiểu thỏa đáng hơn cả là cần kết hợp hai
Song dù diễn đạt theo cách nào thì năng lực vẫn có một số đặc điểm
chung, cơ bản như sau:
Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực
chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy
năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt
động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó. Bản chất của năng lực là
khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
thức, kĩ năng với thái độ, động cơ nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của
một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối
cảnh nhất định.
=> Từ những đặc điểm chung đó, ta có thể nhận ra rằng: Trong quá trình
dạy học, muốn hình thành, rèn luyện, đánh giá năng lực của HS thì tất yếu phải
đưa HS tham gia vào hoạt động làm ra sản phẩm. Tức là bên cạnh việc tiếp thu
kiến thức thì người học cần phải được thực hành, được rèn luyện nhiều để
thành thục các kĩ năng, từ đó phát triển năng lực của bản thân.
Năng lực bao gồm hai loại chính đó, là những năng lực chung và năng
lực chuyên biệt. Trong nhà trường, HS cần được hình thành và phát triển các
năng lực chung như:
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân, năng lực tư duy, năng lực
tự quản lý.
Nhóm năng lực về quan hệ xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
Nhóm năng lực công cụ: Năng lực sử dụng công nghệ thông tin - truyền
thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán.
hoặc văn học cần bắt đầu bằng việc đặt ra và trả lời các câu hỏi xung quanh
hiện tượng đó: Là gì? Nghĩa là như thế nào? Tài sao? Biểu hiện như thế nào?
Đúng hay sai? Đúng và sai chỗ nào? Vì sao đúng và vì sao sai? Có ý nghĩa gì?
… Càng biết đặt ra, cũng như trả lời được nhiều câu hỏi có ý nghĩa thì việc lí
giải hiện tượng ấy càng sâu sắc; cũng có nghĩa là có được nhiều ý và ý độc đáo.
Hai là, biết diễn đạt, trình bày những suy nghĩ, tình cảm cũng như những hiểu
biết của mình về văn học và cuộc sống một cách sáng sủa, mạch lạc, có sức
thuyết phục, theo yêu cầu của một kiểu loại văn bản nào đó trong nhà trường;
từ diễn đạt đúng vươn tới những diễn đạt hay”.37 Để viết tốt một đoạn văn
nghị luận, HS cần phải có những năng lực sau:
- Năng lực giao tiếp
“Các đơn vị của văn bản tổ hợp, gắn bó với nhau, tạo thành một cấu trúc
hoàn chỉnh nhằm thực hiện một ý đồ giao tiếp chung” [3; tr.21]. Do đó, bài văn
được thực hiện theo một mục đích giao tiếp nhất định. “Mục đích giao tiếp
trong văn bản nghị luận, tùy từng bài viết cụ thể có thể là: lôi kéo sự chú ý, làm
tăng sự hiểu biết, bộc lộ niềm xúc động, bày tỏ một chính kiến nào đó,…” [16;
tr.28] nhằm thuyết phục người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình về một vấn
đề nào đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
Năng lực nắm bắt vấn đề
Trước một vấn đề nghị luận, HS cần tư duy cụ thể, sâu sắc về nó. HS cần
biết nêu và giải quyết vấn đề, biết xem xét, lật đi lật lại vấn đề về mọi khía cạnh
và phương diện, biết khái quát nên những vấn đề tư tưởng có ý nghĩa tác động
về nhận thức và tình cảm đối với người đọc.
Năng lực sửa chữa bài viết
Năng lực này đòi hỏi người viết văn phải có khả năng thẩm định bài viết của
chính mình, từ đó nhận ra những hạn chế trong bài làm và biết cách sửa chữa.
Năng lực này rất cần thiết bởi trong quá trình làm bài không thể nào tránh hết
được những sai sót và khi đó HS cần phải có khả năng chỉnh sửa lại sao cho đúng.
1.1.2. Hoạt động rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận
Để có năng lực viết văn tốt, yếu tố quyết định là phải siêng năng rèn
luyện, làm nhiều, viết nhiều. HS không thể viết văn tốt nếu chỉ ngồi mà học
thuộc hoặc ngồi đọc về lí thuyết. Năng lực viết văn của các em chỉ được phát
triển khi các em được luyện viết nhiều, tạo ra các sản phẩm của chính mình.
Bởi khi đứng trước một vấn đề đặt ra, các em sẽ phải huy động tất cả vốn sống,
vốn hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân, phải tư duy một cách khoa học để tìm
ra cách giải quyết đúng đắn nhất. Cứ như vậy, làm đi làm lại nhiều lần, kiến
thức được khắc sâu, các kĩ năng làm văn được rèn luyện một cách thuần thục,
tự nhiên năng lực viết văn của người học sẽ được nâng dần lên. Qua đây ta có
thể thấy việc xây dựng hoạt động để HS được rèn luyện năng lực viết văn là
việc rất quan trọng.
Ngay từ đầu năm học, người giáo viên đã phải nắm được yêu cầu của
chương trình về mặt rèn luyện kĩ năng làm văn của lớp mình phụ trách, để từ
đó vạch sẵn kế hoạch rèn luyện ở từng bài, từng tuần, từng tháng ứng với kĩ
năng làm văn được quy định trong chương trình.
1.1.2.1. Hoạt động rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong giờ lý thuyết
Trong dạy học làm văn, người GV phải làm hai công việc chính, đó là dạy
lý thuyết và dạy thực hành. Ở mỗi phần cần có phương pháp dạy phù hợp. Dạy
lí thuyết rất quan trọng bởi muốn thực hành thuận lợi thì cần phải nắm vững lí
thuyết. Tuy nhiên, nội dung lí thuyết cần phải được trình bày một cách cụ thể,
khoa học, hợp lý. HS phải được hướng dẫn tường tận, cụ thể về cách thức xây
dựng một văn bản làm văn chứ không phải chỉ là những lời chỉ dẫn chung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1.1.2.2. Hoạt động rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong giờ thực hành làm văn
Bên cạnh việc cung cấp kiến thức thì việc tăng cường tính thực hành trong
giờ làm văn là rất quan trọng. Bởi như ta đã biết muốn phát triển năng lực cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
18