SKKN một số giải pháp rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8 ở trường PT cấp 2 dân tộc nội trú ngọc lặc - Pdf 57

MỤC LỤC.
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

Nội dung
1. Phần mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Phần nội dung
2.1. Cơ sở lí luận của SKKN
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục
3. Phần kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị


các phân môn: Đọc - hiểu văn bản, phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn.
Đối với phân môn Tập làm văn thì rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản, kỹ
năng xây dựng đoạn văn nằm trong phạm vi đổi mới phương pháp dạy học. Đặc
biệt, rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh là vấn đề hết sức quan trọng
và cần thiết trong việc tạo lập văn bản. Từ đó, giúp học sinh hình thành ý thức
và nhân cách cũng như trình độ học vấn cho các em. Qua việc rèn luyện kĩ năng
viết đoạn văn, học sinh có được ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương quý trọng
gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những
tình cảm cao đẹp. Cũng rèn cho các em tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu
có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật và trong đời
sống, trước hết là trong văn học để có năng lực thực hành và năng lực sử dụng
Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Trong năm học 2018 – 2019, tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ Văn
lớp 8. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy: đối với phần lớn học sinh thì phân
môn Tập làm văn, mà nhất là phần văn Nghị luận rất khó và trừu tượng nên kết
quả học tập của học sinh chưa cao. Vì thế, để viết được một bài văn nghị luận
đúng và hay học sinh cần phải rèn luyện rất nhiều kĩ năng. Một trong những yếu
tố làm nên sức hấp dẫn của văn nghị luận đó là những đoạn văn hay. Có nhiều
đoạn văn hay trong bài sẽ tạo ra một bài văn hay bởi đoạn văn là một bộ phận
của văn bản. Mỗi đoạn văn của một văn bản có tính độc lập tương đối. Nếu tách
đoạn văn ra khỏi văn bản thì đoạn văn đó có tư cách như một văn bản nhỏ; còn
đoạn văn nằm trong văn bản thì từng đoạn văn vẫn luôn luôn có sự liên kết chặt
chẽ với các đoạn văn khác. Rèn tốt được kĩ năng viết đoạn văn nói chung và viết
đoạn văn trong văn bản nghị luận nói riêng, học sinh cần có sự hướng dẫn tỉ mỉ,
kĩ càng của giáo viên.
Từ những lí do đã nêu ở phần trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: Một số
giải pháp rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8 ở
trường Phổ thông Cấp 2 Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc để nghiên cứu và thử
nghiệm. Bài viết là những kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy
bộ môn Ngữ Văn 8 tại nhà trường.

2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của văn nghị luận:
Nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những ý kiến
của mình bằng càch dùng lí luận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một
vấn đề về chân lí nhằm làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng tình với
những ý kiến của mình và hành động theo những điều mình đề xuất.
Văn nghị luận được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư
tưởng, một quan điểm nào đó. Vì thế nó thường có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ,
dẫn chứng thuyết phục. Và trong bài văn, đoạn văn nghị luận thường có bốn đặc
điểm cơ bản sau:
a. “Vấn đề có ý nghĩa xã hội” là nội dung nghị luận:
Thuật ngữ “ vấn đề” được nảy sinh trong quan hệ giữa cái quen thuộc, đã
biết và cái xa lạ, chưa biết, “vấn đề” xuất hiện do nhu cầu thực tiễn và lí luận.
Tìm hiểu vấn đề, xác định rõ vấn đề, phân tích, lí giải vấn đề và giải quyết
vấn đề một cách khách quan, khoa học là tính chất nghiên cứu của quá trình
nghị luận.
3


Chúng ta đều biết là “vấn đề” chỉ có thể trở thành trọng tâm bàn bạc, thảo
luận khi nào vấn đề ấy chứa đựng ý nghĩa xã hội. Nó phải là vấn đề được nhiều
người quan tâm, giải quyết. Với cách hiểu vấn đề như thế sẽ thấy rõ tính chất
phong phú của ý kiến, thấy rõ sự khác nhau của các chiều hướng bàn luận. Biết
đặt vấn đề cũng có nghĩa là lúc mở ra con đường giải quyết nó.
Giải quyết vấn đề là khám phá những tri thức bên ngoài hệ thống kiến thức
đã được phát hiện. Còn trả lời những câu hỏi đặt ra chỉ là việc tìm kiếm thông
tin trong hệ thống kiến thức thời đại. Nội dung câu hỏi đơn giản hơn nội dung
vấn đề. Trả lời hệ thống câu hỏi quyết định tính chất cụ thể của việc giải quyết
vấn đề. Thực tiễn tuy là tiêu chuẩn kiểm nghiệm đầu tiên giá trị chân lí của vấn
đề, nhưng không phải là tiêu chuẩn duy nhất mà còn phải được bổ sung bằng
tiêu chuẩn khoa học và trình độ giải quyết vấn đề bằng sự phát triển lí luận.

thoại mà chủ thể nghị luận cần phải hình dung ra, dự kiến trước để tạo nên sự
4


tập trung tâm lí cao độ và thái độ kiên trì mục đích cũng như nghệ thuật hùng
biện.
Có thể nói ngắn gọn, đối thoại trong văn nghị luận làm cho ý tưởng bài văn
phong phú, làm cho phương án trình bày có khả năng nảy sinh để dự đoán
những tình huống tranh luận có thể sảy ra, tạo nên sự căng thẳng hấp dẫn của
cuộc đối thoại ngầm. Đối thoại huy động tối đa ngăng lực cá nhân biết tự đặt
mình vào người khác, tâm lí khác và tình huống cụ thể để xem xét, luận giải vấn
đề toàn vẹn, đem lại hiệu quả thuyết phục cao của văn nghị luận.
2.1.2. Đoạn văn và đoạn văn nghị luận:
a. Khái niệm đoạn văn và các kiểu kết cấu đoạn văn:
Văn nghị luận cũng như các loại văn bản nói chung, đều phải do nhiều đoạn
văn tạo thành. Đoạn văn là một phần của văn bản, đơn vị trực tiếp tạo nên văn
bản. Vậy đoạn văn là gì? Sách giáo khoa Ngữ văn 8 (tập1) định nghĩa: “ Đoạn
văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết
thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn
chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành”.
Như vậy, về hình thức, đoạn văn được quy định từ chữ đầu đoạn văn phải
viết hoa và lùi vào một chữ. Về nội dung thường biểu đạt một ý tương đối trọn
vẹn. Đoạn văn thường phải có câu chủ đề. Câu chủ đề mang nội dung khái quát,
lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính chủ ngữ và vị ngữ. Câu chủ đề
có thể đứng ở đầu đoạn hoặc cuối đoạn. Nếu câu chủ đề đứng đầu đoạn tức đoạn
văn được trình bày nội dung theo cách diễn dịch; nếu câu chủ đề đứng ở cuối
đoạn tức nội dung được trình bày theo cách quy nạp. Các câu trong đoạn văn có
mối quan hệ ý nghĩa chặt chẽ với nhau. Chúng có thể bổ sung ý nghĩa cho nhau
hoặc bình đẳng nhau về ý nghĩa. Các câu trong đoạn văn liên kết với nhau về
mặt nội dung nhằm duy trì đối tượng biểu đạt nhờ vào các từ ngữ chủ đề. Từ

tiếp nối ý kia theo lối móc nối vào ý trước (qua những từ ngữ cụ thể) để bổ sung,
giải thích cho ý trước. Ví dụ:
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất. Muốn tăng gia
sản xuất tốt thì phải có kĩ thuật cải tiến. Muốn sử dụng tốt kĩ thuật cải tiến thì
phải có văn hoá. Vậy, việc bổ túc văn hoá là cực kì cần thiết” ( Hồ Chí Minh).
Đoạn văn trình bày nội dung theo cách song hành là cách thức trình bày các ý
ngang nhau, bổ sung cho nhau, phối hợp nhau để biểu đạt ý chung.
Ví dụ: “Đi giữa Hạ Long vào mùa sương, ta cảm thấy những hòn đảo vừa xa
lạ, vừa quen thuộc, mờ mờ, ảo ảo. Chung quanh ta, sương buông trắng xoá. Con
thuyền bơi trong sương như bơi trong mây. Tiếng sóng vỗ long bong trên mạn
thuyền. Tiếng gõ thuyền lộc cộc của bạn chài săn cá, âm vang mặt vịnh. Thỉnh
thoảng mấy con hải âu đột ngột hiện ra trong màn sương” (Thi Sảnh, trích theo
“108 Bài tập tiếng Việt” của Tạ Đức Hiền, NXB Hải Phòng, 1998 ).
Đoạn văn trình bày nội dung theo cách tổng phân hợp là cách thức trình bày
theo phép suy lí, trình bày từ chân lí khái quát đến chân lí cụ thể rồi được khẳng
định.
Ví dụ: Mọi kiệt tác văn nghệ sống mãi trong thời gian và hồn người.
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một kiệt tác của nền thi ca cổ điển Việt Nam.
Tuyện Kiều và tên tuổi thi hào Nguyễn Du trường tồn với đất nước ta, nhân dân
ta:
Tiếng thơ ai động đất trời,
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
b. Đoạn văn nghị luận:
Đoạn văn nghị luận cũng như đoạn văn nói chung, bao giờ cũng có dấu hiệu
hình thức được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm qua dòng và
thường biểu đạt một ý tương đối trọn vẹn. Nhưng ở đoạn văn nghị luận “ một ý
“ được gọi là một luận điểm. Câu chủ đề chính là câu mang luận điểm. Cách
trình bày nội dung cũng có 5 cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành,

viết bài thường xuyên học sinh dễ sinh ra tâm lý lười học, lười suy nghĩ. Cũng vì
thế mà học sinh ỷ lại vào sách tham khảo, sách bài văn mẫu rất nhiều. Điều này
được kiểm chứng qua các bài kiểm tra của học sinh (bài 15 phút, 45 phút, bài
khảo sát chất lượng giữa kì I). Qua các bài kiểm tra tôi thấy có 3 mức đánh giá.
- Mức yếu kém: “Không viết được (chỉ là chuỗi câu văn lộn xộn)” là kết quả
những bài làm của học sinh không viết thành đoạn văn, nó chỉ là chuỗi câu lộn
xộn, chắp nối thiếu mạch lạc hoặc vô nghĩa, hoặc thậm chí có học sinh bỏ trống
chẳng viết được chữ nào ( bài kiểm tra 15 phút – viết đoạn văn) hoặc viết sai thể
loại hoặc không hiểu đề, không có kiến thức môn học.
- Mức trung bình: về cơ bản là biết viết đoạn văn nghị luận nhưng diễn đạt
còn lủng củng, đây là những bài làm của học sinh viết đúng nội dung đề bài
song còn có chỗ diễn đạt yếu, trùng ý, lặp ý, lựa chọn từ ngữ thiếu chính xác, sai
chính tả, sai cú pháp…
- Mức khá, giỏi: “viết tốt”, đây là những bài thuộc đối tượng học sinh khá
giỏi, nhìn chung các em viết sắc bén, hiểu nội dung yêu cầu của đề bài và có
kiến thức về văn học, về tập làm văn, về Tiếng Việt. Nhìn chung, đây là những
học sinh có năng lực giao tiếp trong thực tiễn của đời sống; có “năng lực hành
động, năng lực thích ứng, năng lực cùng sống và làm việc, năng lực tự khẳng
định mình”.
7


Như vậy, qua các bài kiểm tra, tôi thấy rằng: những học sinh có kỹ năng
thành thạo, trôi chảy trong việc xây dựng đoạn văn nghị luận chỉ chiếm một số
lượng rất ít. Còn những học sinh yếu về kỹ năng viết đoạn văn nghị luận và
những học sinh viết được song diễn đạt lủng củng lại chiếm số lượng nhiều hơn.
* Bảng kết quả khảo sát thực trạng của học sinh:
KÕt qu¶
Khè
Trung

15
50%
7
23%
Từ thực trạng nêu trên, tôi nghĩ là giáo viên chúng ta phải làm gì để
khắc phục tình trạng đó. Điều đó thực sự là nỗi trăn trở, mối quan tâm của
những giáo viên dạy văn tâm huyết. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn đưa ra một vài giải
pháp rèn cho học sinh kĩ năng viết, xây dựng đoạn văn nghị luận. Tôi tin rằng đề
tài nghiên cứu mà tôi lựa chọn sẽ là chiếc cầu nối giúp các em học sinh đến gần
với đoạn văn nghị luận hay và sâu sắc hơn.
2.3. Các giải phápđã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Xây hệ thống bài tập viết đoạn văn nghị luận:
a. Nguyên tắc để xây dựng hệ thống bài tập viết đoạn văn nghị luận:
* Mục tiêu chương trình:
Mục tiêu chung của chương trình ngữ văn THCS đề ra là: học sinh có trình
độ học vấn THCS; hiểu biết ban đầu về kĩ thuật - hướng nghiệp; dạy chữ, dạy
người, dạy nghề; các kiến thức và kĩ năng thực hành được củng cố để tạo ra
được bốn năng lực chủ yếu: năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lực
cùng sống và làm việc, năng lực tự khẳng định mình; phù hợp với bốn trụ cột
giáo dục thế giới thế kỉ XXI: học để biết, học để làm việc, học để làm người, học
để hoà nhập; tích cực hoá hoạt động của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn
của người thầy.
Như vậy, việc xây dựng hệ thống bài tập viết đoạn văn nghị luận không thể
không tuân thủ theo mục tiêu của chương trình. Hệ thống bài tập được vận dụng
trong quá trình thực nghiệm phải đảm bảo cho học sinh phát huy năng lực thực
hành, năng lực tự khẳng định mình, tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
trong hoạt động học của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của thầy. Cụ thể
của hệ thống bài tập đảm bảo giúp học sinh có năng lực tạo lập văn bản, xây
dựng đoạn văn trong văn bản.
* Tinh thần đổi mới:

với loại 5 phút,10 phút bao gồm những bài tập trong hệ thống bài tập phần luyện
tập và bài tập của bài ôn tập, luyện tập. Về mặt nội dung, hệ thống bài tập được
chia ra theo phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn. Chẳng hạn trong phần
luyện tập của giờ tiếng Việt, nội dung bài tập chú trọng kiến thức của giờ tiếng
Việt đó nhưng đòi hỏi học sinh phải tích hợp được cả văn học và tập làm văn. Ví
dụ: tiết học Tiếng Việt với bài “ Câu nghi vấn”, mặc dù SGK không có bài tập
sáng tạo này nhưng tôi vẫn đưa vào bài tập với nội dung như sau: “ Em hãy viết
đoạn văn ngắn có sử dụng câu nghi vấn nêu cảm nhận của em về bài thơ Quê
hương của Tế Hanh”. Về tiết kiểm tra, ngoài việc sử dụng hệ thống bài tập trắc
nghiệm khách quan, tôi vẫn đảm bảo bài tập tự luận để rèn luyện kĩ năng nói,
viết cho học sinh với thời lượng tối thiểu cho phần này là 10 phút.
Trong hệ thống bài tập tôi còn dùng cả loại bài tập viết đoạn văn của cả tập
thể theo nhóm lớn hoặc cả tập thể lớp. Nếu cả lớp hoặc nhóm lớn, bài tập sau
khi giáo viên đưa ra mỗi học sinh trong lớp chỉ viết một câu theo kiểu trò chơi:
Em thứ nhất viết xong một câu lên bảng, sau vài chục giây đến một phút em
khác viết tiếp. Cứ như vậy cho đến khi hoàn chỉnh đoạn văn hoặc đến khi hết
thời gian quy định.
Như vậy, hệ thống bài tập có rất nhiều bài tập với những thời lượng khác
nhau; trong mỗi thời lượng khác nhau đó lại chia ra những bài tập ở nhiều phân
môn khác nhau. Và trong mỗi phân môn lại có bài tập trong bài cung cấp tri
thức, bài tập trong bài ôn tập, luyện tập và bài tập trong tiết kiểm tra.
9


Ngoài ra, hệ thống bài được xây dựng theo hệ thống kiến thức về trình bày
nội dung trong đoạn văn như trình bày nội dung theo các diễn dịch, quy nạp,
móc xích, song hành, tổng phân hợp. Nhưng với các tiết học trước bài “Xây
dựng đoạn văn trong văn bản” tôi chưa áp dụng trong giảng dạy theo sáng kiến
này, hệ thống bài tập này chỉ áp dụng sau khi học sinh đã được học “Xây dựng
đoạn văn trong văn bản”.

-

“ Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bầy chim non bơi lội trên sông
Tôi đưa tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ,…”
( Tế Hanh ) (4)
- Hoài niệm tuổi thơ về quê hương bao giờ cũng đằm thắm, thiết tha. (2)
10


- Con người Việt Nam chúng ta, mỗi lần đi xa nhớ quê là nhớ hương vị đậm đà
“ canh rau muống”, “cà dầm tương”, nhớ con đò, cây đa, bến nước, sân đình, và
nhớ dòng sông quê mẹ với bao kỉ niệm: (3)
* Đoạn văn trình bày nội dung theo cách móc xích:
Bài tập 7: Hãy sắp xếp các câu sau thành một đoạn văn và cho biết đoạn
văn nghị luận này đã trình bày nội dung theo cách nào về bài thơ Ngắm trăng
của Hồ Chí Minh?
- Trăng, hoa, tuyết,…và rượu tạo cảm hứng cho các thi sĩ làm thơ. (1)
- Nho sĩ xưa làm thơ phải có rượu và hoa. (3)
- Hoa và rượu không có mà Bác Hồ của chúng ta vẫn làm thơ. (4)
- Hồ Chí Minh của chúng ta vĩ đại là thế! (6)
- Làm thơ là cũng là thú ăn chơi của các bậc Nho sĩ xưa. (2)
- Làm thơ ngắm trăng trong ngục tù để cho khuây khoả “đợi ngày tự do” là một
cuộc vượt ngục tinh thần đầy lí thú của Hồ Chí Minh. (5)
Bài tập 8: Từ nội dung kiến thức đã học về đoạn văn, em hãy viết một đoạn
văn nghị luận trình bày nội dung theo cách móc xích nói lên cảm nhận của em
về bài thơ Khi con tú hú của Tố Hữu. Chú ý đoạn văn phải sử dụng các yếu tố
biểu cảm, tự sự hoặc miêu tả.
Bài tập 9: Hãy điền những từ ngữ vào đoạn văn còn trống (được trình bày

cỏc tit khụng thuc vn ngh lun) tụi u thc hin cỏc bi tp rốn luyn k
nng vit on vn ngh lun cho hc sinh. Dự ú l tit cung cp tri thc hay
tit ụn tp, luyn tp cỏc em u cú c hi vit on vn. phõn mụn Tp lm
vn ch yu tụi ra nhng bi tp vit on vn nờu cm nhn, suy ngh, chng
minh, gii thớch v cỏc vn trong cỏc tỏc phm vn hc m hc sinh ó hc
nhng theo quan im phi tớch hp c 3 phõn mụn. Vớ d trong tit hc tỡm
hiu v yu t biu cm trong vn ngh lun tụi cho hc sinh lm mt bi tp
vit on vn ngn vi thi gian 5 phỳt nh sau:
Em hóy vit mt on vn, cú s dng nhng cõu vn cm thỏn, chng minh
cho lun im sau: Th Bỏc y trng.
Nh vy, bi tp trờn, ũi hi hc sinh phi cú c mt phụng kin thc v
vn hc, v th Bỏc, v ting Vit m vn ỳng trng tõm ca tit hc l tỡm
hiu v yu t biu cm trong vn ngh lun. Trong ú, yu t biu cm nm
ngay trong cõu cm thỏn (Ting Vit).
Hay trong tit hc tỡm hiu yu t t s v miờu t trong vn ngh lun tụi
ra bi tp vo cui gi hc (5 phỳt):
Em cú nhn xột gỡ v bi th Khi con tu hỳ ? Hóy vit mt on vn cú
s dng nhng cõu trn thut k, t v nhn xột ca em v bi th. Bi tp ny
tụi s dng dng bi tp vit tp th. Cỏch vit nh ó núi trong phn mụ t bi
tp. õy l bi tp khú, xong yờu cu bi tp khụng bt buc cỏc em phi vit
hon chnh mi t mc tiờu kin thc m ch yu phỏt trin v to tõm th hc
tp cho hc sinh.
Di õy l mt bi ging hng dn hc sinh vit on vn trỡnh by lun
im trong bi vn ngh lun m tụi ó thc hin.

Tit 100: Tp lm vn:
VIT ON VN TRèNH BY LUN IM
A. Mc tiờu cn t:
1. Kiến thức:
- Nhận biết, phân tích đợc cấu trúc của đoạn văn nghị luận.

lun l nhng ý kin, quan im, t
tng m ngi núi (ngi vit) nờu ra
khng nh mt lun .
- GV cho HS c cỏc on vn trong
SGK trang 79, bi 1 (a, b)
- GV: on vn ngh lun thng cú
cõu ch -> Thụng bỏo lun im
ca on vn.
?Tỡm cõu ch trong on vn a ?
V trớ ca cõu ch ? Xỏc nh on
vn c trỡnh by theo cỏch no ?

Ni dung cn t
I. Trỡnh by lun im thnh mt on
vn ngh lun:
1) Vớ d 1:

a. on trớch Chiu di ụ
- Cõu ch : "Tht l chn hi t
muụn i
? nờu c lun im: Thnh i - V trớ: cui on
l trung tõm t nc. Ngi vit ó - Cỏch trỡnh by: Quy np
lp lun nh th no ?
- Vn kinh ụ c -> v trớ trung tõm ca
t tri-> th t quý him -> dõn c
ụng ỳc, muụn vt phong phỳ tt ti
-> ni thng a-> kt lun: xng ỏng
l kinh ụ muụn i.
?Nhn xột v cỏch nờu lun c (lớ l v
dn chng) v cỏch lp lun ca on - Lp lun mch lc, cht ch y sc

+ Theo vị trí công tác, ngành nghề,
nhiệm vụ được giao: ( chiến sĩ ngoài
mặt trận, công tác ở hậu phương, phụ
nữ- bà mẹ; công nhân – nông dân- điền
Nhận xét về trình tự lập luận trên ?
chủ)
?Qua phân tích ví dụ 1 em rút ra nhận -> Toàn diện, đầy đủ, vừa khái quát,
xét gì về yêu cầu của luận điểm trong vừa cụ thể
câu chủ đề ?
->Nội dung của luận điểm được trình
( ý 1 ghi nhớ)
bày rõ ràng,chính xác trong câu chủ đề
GV: Yêu cầu HS thực hiện bài tập 1 theo 2 cách :qui nạp hoặc diễn dịch.
SGK phần luyện tập trang 81 : Đọc và
diễn đạt ý mỗi câu thành một luận điểm
ngắn gọn, rõ?
- GV hướng dẫn học sinh thực hiện:
(Gợi ý: tìm luận điểm chính, sau đó lựa
chọn từ ngữ diễn đạt thành một câu
ngắn gọn thể hiện rõ luận điểm (Câu
chủ đề nêu luận điểm)
- HS thực hiện viết, trình bày. GV sửa
lỗi nếu có. GV kết luận:
a. Tránh lối viết dài dòng làm người
xem khó hiểu. Hoặc: Cần viết gọn, dễ
hiểu.
b. Nguyên Hồng thích truyền nghề cho
bạn trẻ. Hoặc: Niềm say mê đào tạo
nhà văn trẻ của Nguyên Hồng
14

luận ?
GV chốt:
Cách trình bày đoạn văn nghị luận,
nghĩa là cách lập luận cần phải trong
sáng, hấp dẫn, có thê dùng hình ảnh,
sắp xếp luận cứ lô gíc đến mức không
thể đảo được. Như vậy luận điểm sẽ
càng vững chắc, đầy đủ sức thuyết
phục.
=>HS: Đọc toàn bộ ghi nhớ (Trang 81)

2. Ví dụ 2: SGK trang 80
a) - Lập luận là: Trình bày, sắp xếp các
ý theo một thứ tự hợp lý.
- Luận điểm: Bản chất giai cấp lừa lọc,
giả dối của vợ chồng Nghị Quế qua
việc mua chó.
- Câu chủ đề: “Cho thằng nhà giàu rước
chó vào nhà , nó mới càng hiện bản
chất chó đểu của giai cấp nó ra”
- Vị trí: cuối đoạn -> Cách trình bày:
quy nạp
b) Cách lập luận theo lối tương phản:
có tác dụng chứng minh làm rõ luận
điểm: bản chất chó má của giai cấp địa
chủ.
c) - Cách sắp xếp luận cứ của tác giả
rất chặt chẽ nên không thể đổi, đảo tuỳ
tiện. Nếu sắp xếp ngược lại sẽ làm cho
luận điểm mờ nhạt, lỏng lẻo hơn.

và vững chắc.
Bài 4 (trang 82): hệ thống
luận cứ:
- Mục đích của văn giải thích:
viết ra để ngời đọc hiểu rõ
hơn một vấn đề , một luận
điểm nào đó.
- Giải thích càng dễ hiểu thì
16


ngời đọc càng dễ tiếp nhận ,
dễ nhớ, dễ làm theo.
- Ngợc lại giải thích khó hiểu
thì ngời viết càng đẩy ngời
đọc dời xa mục đích đã đề
ra.
E. Củng cố, dn dũ:
- Đọc lại ni dung của ghi nhớ.
- GV h thng ton bi
- Học, hiểu kỹ ni dung ghi nhớ
- Xem lại các bài tập về luận điểm hon thnh bi tp 3, ý b
- c, chun b k bi sau: Luyn tp xõy dng v trỡnh by lun im
b. Rốn luyn k nng vit on vn ngh lun trong gi dy hc c - hiu
vn bn:
i vi gi c hiu - vn bn, sau phn ghi nh bao gi tụi cng cho hc
sinh luyn tp vi bi tp t lun vit on vn. Thụng thng gi c - hiu
ch yu bi tp l cm nhn hoc suy ngh ca hc sinh v tỏc phm, on trớch.
Chng hn sau khi hc xong bi Nc i Vit ta (Trớch Bỡnh Ngụ i cỏo)
tụi a bi tp sau:

Hoặc trong bài: “ Trợ từ, thán từ” cho học sinh làm bài tập theo nhóm viết
đoạn văn: Hãy sắp xếp và điền trợ từ hoặc thán từ vào các câu sau thành đoạn
văn hoàn chỉnh: “ Ôi, còn gì xúc động và thương cho cuộc đời lão Hạc qua cách
kết thúc đặc sắc của nhà văn Nam Cao!(1) Ông đã để cho lão Hạc chết trong đau
đớn kéo dài “đến hai giờ đồng hồ” như cho ta một nỗi đau đồng loại, một nỗi
đau cần được sự cảm thông, sẻ chia để rồi hãy lên tiếng tố cáo cái tội ác của xã
hội nửa thực dân nửa phong kiến đương thời.(2) Một cái chết bất ngờ ngay đến
cả ông giáo cũng không ngờ tới đã làm nên cái chân lí thà chết trong còn hơn
sống đục”.(3) – chữ được gạch chân và các số trong ngoặc đơn là đáp án của bài
tập mà tôi đã đảo trật tự và để trống khi cho học sinh làm bài tập.
d. Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận trong bài tập về nhà:
Đối với các bài tập về nhà là những bài tập học sinh hoàn toàn làm độc lập
nhưng vì ở nhà các em sẽ có thể chép lại đoạn văn ở đâu đó nên những bài tập
nhất thiết là những bài tập triển khai luận điểm cho sẵn hoặc viết đoạn văn móc
xích, song hành theo một nội dung cho sẵn. Tuy nhiên, để bắt buộc học sinh phải
làm bài tập tôi yêu cầu làm ra giấy và nộp để chấm điểm. Ở bài tập về nhà được
phân loại trình độ rõ rệt, với nhóm học sinh trung bình, khá, giỏi thì bài tập đòi
hỏi phải có sự tích hợp với cả 3 phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn và các
bài học (tích hợp ngang và tích hợp dọc) còn với đối tượng học học sinh yếu
kém không có thêm yêu cầu tích hợp, chỉ là những đoạn văn đơn giản như diễn
dịch, quy nạp câu chủ đề cho sẵn.
Yêu cầu HS viết dạng đoạn văn nghị luận 200 chữ về các chủ đề, nội dung
khác nhau. Đây là dạng đề viết đoạn văn theo phương pháp mới hiện nay hay sử
dụng vào các đề thi học kỳ, đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn từ khối 7 đến khối
9 - THCS. Mục đích cho HS khắc sâu kiến thức và thành thạo kỹ năng viết đoạn
văn nghị luận.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
Từ việc áp dụng những giải pháp nêu trên trong năm học 2018 – 2019 này,
việc dạy học viết văn nghị luận nói chung và việc rèn luyện kỹ năng xây dựng


%
27%
23%

KÕt qu¶
Trung
Kh¸
b×nh
SL
%
SL
%
12
40%
10
33%
10
33%
13
44%

YÕu
SL
0
0

%
0
0



nói chung và lý thuyết về đoạn văn nghị luận nói riêng. Từ việc nắm lý thuyết
một cách chắc chắn, kĩ càng thì các em mới bắt đầu biết viết đoạn văn nghị luận,
và từ đó được rèn luyện nhiều sẽ dần dần hình thành và phát triển thành kỹ năng,
kỹ xảo một cách thành thạo và nhuần nhuyễn.
Bên cạnh đó, việc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa đòi hỏi
việc dạy và học làm văn nghị luận cũng cần phải đổi mới cả về tư duy lẫn
phương pháp. Điều giáo viên lúng túng nhất hiện nay vẫn là phương pháp, biện
pháp rèn các kỹ năng tạo lập văn bản nghị luận, trong đó có kỹ năng xây dựng
đoạn văn nghị luận. Bởi lẽ văn nghị luận là loại văn nói bằng lý lẽ, là sản phẩm
của tư duy lo gic. Rèn tư duy lo gic cho học sinh trong bài văn nghị luận ở các
cấp độ từ đơn giản đến phức tạp như cách dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện
pháp tư từ từ vựng; cách giải thích, phân tích một vấn đề theo tiến trình lịch sử
hoặc trong mối liên hệ nội tại của vấn đề; cách tổ chức và triển khai một lập
luận,…Việc triển khai các vấn đế nghị luận trong một bài văn nghị luận phải
đảm bảo tính chất lo gic của vấn đề bàn luận. Như vậy hình thành và phát triển
tốt kỹ năng viết đoạn văn nghị luận là biện pháp đem lại hiệu quả cao trong dạy
học làm văn nghị luận cho học sinh lớp 8 do tôi phụ trách nói riêng và học sinh
THCS trong toàn trường nói chung.
3.2. Kiến nghị:
Từ những vấn đề nêu trên bản thân cũng mạnh dạn có đề xuất, kiến nghị như
sau: Đối với phân môn tập làm văn, tư duy lo gic và tư duy sáng tạo của học
sinh được rèn luyện và phát huy chủ yếu ở khâu vận dụng kiến thức để viết bài
văn hoặc dựng đoạn. Bởi vậy, sách giáo Ngữ văn 8 và Ngữ văn 9 cần bỏ bớt loại
bài tập nhận diện, tăng loại bài tập tạo lập, rèn các kỹ năng làm văn nghị luận
cho học sinh. Bởi vì, dạy làm văn chủ yếu phải bằng thực hành, thông qua thực
hành học sinh mới có được kỹ năng thành thạo.
Nói tóm lại, đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy
học là đổi thay một hệ hình, một tập quán, do đó không hề là một điều dễ dàng ở

- Nâng cao ngữ văn THCS (trang 47).
- Phương pháp dạy học Tập làm văn
- Một số tài liệu liên quan đến phân môn Tập làm văn 8,9.
- Một số tư liệu tham khảo trên mạng Internet.

21


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SKKN
STT
1

Ký hiệu
SKKN

Nội dung
Sáng kiến kinh nghiệm

2

GV

Giáo viên

3

HS

Học sinh


Sở GD&ĐT
Phòng
GD&ĐT

A

2012

Một số biện pháp dạy thơ trữ
tình địa phương môn Ngữ văn

Sở GD&ĐT

C

2012

2
3

Kết quả
Năm
đánh giá, đánh giá,
xếp loại
xếp loại
(A,B hoặc
C)
C
2007


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status