Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh THCS - Pdf 44

1. Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Đã từ lâu, việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là vấn
đề hết sức cần thiết. Từ đó, giúp học sinh hình thành ý thức và nhân cách cũng
như trình độ học vấn cho các em ngay khi đang học bậc học THCS và trưởng
thành sau này. Qua việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý
thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quí trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước,
yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tơi những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái,
tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và cũng
từ đó rèn cho các em tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm
thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật. Trước hết là trong văn học có
năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy
và giao tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải hướng dẫn
cho học sinh cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu
trong đoạn văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các phương
tiện liên kết trong đoạn văn. Tuỳ theo từng phương thức diễn đạt khác nhau mà
viết theo lối qui nạp, diễn dịch, song hành hay móc xích.
Để viết được đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng như vậy
để tạo thành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành
(khi đã dùng các phương tiện liên kết trong văn bản).
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều những phương tiện hiện đại,
thông tin đại chúng cập nhật liên tục khiến cho học sinh lao vào con đường say
mê “nghiện” sách vở bị lãng quên, ham bạo lực điện tử, sách kiếm hiệp. Vì vậy,
các em không còn ham đọc sách, ham nghiên cứu. Cho nên, việc viết một đoạn
văn lại càng là vấn đề đáng quan tâm khi chúng ta rèn luyện cho các em.
Hơn thế nữa, tập làm văn là môn học thực hành tổng hợp ở trình độ cao của
môn Văn - Tiếng Việt, môn Tập làm văn được xem như vị trí cốt lõi trong mối
tương quan chặt chẽ với Văn và Tiếng Việt. Như vậy, chúng ta dạy tập
làm văn cho học sinh là dạy cho các em nắm vững văn bản, biết xây dựng các
đoạn văn thông thường. Rèn luyện cho học sinh là rèn luyện cho các em các

1. 3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 6
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kiểm tra, khảo sát.
Phương pháp so sánh, đối chiếu.
Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Phương pháp cố vấn, chuyên gia.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết, bài viết được cấu thành bởi các đoạn văn (văn bản)
theo những phương thức và bằng những phương tiện rất phong phú. Dựng đoạn
được triển khai từ ý trong dàn bài. Có thể đoạn văn là một ý hoặc nhiều ý và
cũng có thể một ý có nhiều đoạn. Trong đoạn văn thường có bố cục ba phần: mở
đoan, phát triển đoạn và kết đoạn. Ở góc độ đặc điểm cấu trúc thì các đoạn văn
có thể là đoạn diễn dịch, qui nạp, móc xích, song hành
Để rèn luyện được kĩ năng viết đoạn văn, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ yêu
cầu diễn đạt thành lời, thành đoạn, phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sao
cho phù hợp với ý của đoạn để hiệu qủa biểu đạt cao hơn, đoạn văn có sức cuốn
hút hơn với người đọc. Qua đó, ta có thể hiểu được: đoạn văn là đơn vị trực tiếp
tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm
xưống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường
do nhiều câu tạo thành. Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ
ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại
nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng
biểu được biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn,
thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn (hay còn gọi


là câu chốt). Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề
của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song hành.

nó cũng có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động. Cho nên ta cũng
quan tâm hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làm văn, mà đặc biệt là dạy một
tiết dựng đoạn văn trong văn bản.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Để khảo sát thực trạng viết văn, dựng đoạn của học sinh THCS, tôi đã tiến
hành ra đề như sau:

Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 -15 câu) miêu tả khung cảnh
giờ ra chơi.
Thời gian làm bài: 20 phút.
Tôi khảo sát thực tế bài làm của học sinh ở lớp 6A và 6B thấy rằng:


Có đến 43% số học sinh chưa biết viết đoạn văn. Có 54% HS xây dựng
được một đoạn văn nhưng chưa sử dụng triệt để các yếu tố miêu tả.
Số học sinh đạt khá, giỏi chiếm tỉ lệ rất thấp: Lớp 6A là 0.3%; Lớp 6B là
10% - một con số đáng báo động trong việc học phân môn Tập làm văn hiện
nay trong nhà trường THCS.
Số liệu cụ thể ở trường THCS Quảng Hoà như sau:
Phân loại

6A = 26
6B = 29

SL
0
2

%
0

Lớp

Giỏi

Khá

36

yếu, kém
SL
%
11
43
4
13
4

7


2.3.1 Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả
2.3.1.1 Một số vấn đề chung về văn miêu tả
- Khái niệm.
“Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản rất quen thuộc và phổ biến
trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương. Đây là loại văn bản có
tác dựng rất lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng
tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con người. Vớii đặc
trưng của mình, những trang miêu tả làm cho tâm hồn con người và trí tuệ
người đọc thêm phong phú, giúp cho ta có thể cảm nhận văn học và cuộc sống
một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn”. ( Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu- Văn

sánh, tưởng tượng, cùng những cách diễn đạt đa dạng, với các kiểu câu Tiếng


Việt. Đó là điều kiện thuận lợi khi sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt để miêu tả sự
vật, hiện tượng, tâm lí, tính cách.
Tuỳ vào đối tượng miêu tả để sử dụng lớp từ ngữ phù hợp. Đoạn văn miêu
tả rất hay dùng và dùng có hiệu quả các biện pháp tu từ, nhân hoá, ẩn du, hoán
dụ, tượng trưng, so sánh ví von.
Khi viết một đoạn văn miêu tả, bài văn miêu tả cảm xúc, tình cảm là một
yếu tố cực kì quan trọng. Để có một đoạn văn miêu tả hay, người viết không chỉ
tài quan sát và thể hiện bằng các từ ngữ, hình ảnh, bằng lối nói so sánh, ví von
độc đáo, mà còn phải có tình. Cái tình ấy có thể là căm ghét cái ác, cái xấu, cái
lố lăng, kịch cởm ở đời. Không có cái tình, mọi sự miêu tả dù ngôn ngữ có sắc
sảo, phong phú và mới mẻ đến bao nhiêu cũng chỉ là làm xiếc ngôn ngữ. Trong
trường hợp này bài văn miêu tả chỉ là cái xác không hồn, không gây được xúc
động trong lòng người đọc.
- Rèn luyện kĩ năng làm văn miêu tả
Thứ nhất đó là kĩ năng quan sát, ghi chép. Đối tượng của văn miêu tả
những sự vật, sự việc, là thiên nhiên, là con người và cuộc sống của con người.
Có thể coi đó là một thế giới hết sức mới lạ và đa dạng, phức tạp vàn sống động
đang diễn ra quanh ta, thay đổi từng ngày, từng giờ. Vì vậy, phải quan sát, ghi
chép.
Tất nhiên các em không thể có ngay được kĩ năng ấy và sử dụng nó thành
thạo như các nhà văn vẫn làm. Tất cả đối với các em chỉ mới là bước đầu tập
dượt : Tập quan sát, tập ghi chép, tập phát hiện ra những đặc điểm của các sự
vât, hiện tương quanh mình. Từ đó, có vốn để làm văn miêu tả, viết một đoạn
văn miêu tả.
+ Kĩ năng tưởng tượng:
Có thể khẳng định rằng, nếu không có kĩ năng tưởng tượng thì bài văn miêu
tả chắc chắn sẽ không hay được, dù là văn tả thực. Vì vậy, cần tưởng tượng và

Viết văn miêu tả, bao giờ người viết cũng để lại dấu ấn chủ quan của mình.
Dấu ấn chủ quan ấy chính là sự cảm nhận riêng của mỗi người là cách biểu lộ
thái độ, tình cảm riêng của con người đối với đối tượng được miêu tả. Một nhà
văn Pháp viết: “Một trăm thân cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm
ánh lửa giống nhau cả trăm. Mới nhìn tưởng thế nhưng nhìn kĩ thì cây bạch
dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác. Trong đời ta gặp bao
nhiêu người phải thấy ra mỗi người mỗi khác, không ai giống ai.
(Dẫn theo Tô hoài- Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả).
Vấn đề là phải vận dụng cách nhận xét như thế nào để tạo sự hấp dẫn cho
bài văn miêu tả.
Trước hết, có thể nhận xét bằng những lời bình, những câu cảm thán, những
hình ảnh so sánh: “Chà ! Chà ! Béo ơi là béo ! Gớm ! Béo đâu có béo lạ béo
lùng thế. (Nguyễn Công Hoan).
Và cũng có thể bộc lộ một cách kín đáo qua việc lựa chọn hình ảnh miêu tả.
Đây là thái độ mỉa mai, giễu cợt của nhà nhà văn Nguyễn Công Hoan khi miêu
tả hình ảnh của một “bà chủ” : “ Vậy thì bà nằm đó. Nhưng thoạt trông, Đố ai
giám bảo là một người. Nếu người ta chưa nom rõ cái mặt phị, cái cổ rụt, cái
thân nung núc và bốn chân tay ngắn chùn chùn, thì phải bảo là một đống hai ba
cái chăn bông cuộn lại với nhau, sắp đem cất đi”. Còn đây là thái độ ngạc nhiên
thích thú của nhà văn Vũ Tú Nam khi quan sát và miêu tả hình ảnh những trái
mướp lớn nhanh như thổi: “Rồi quả thi nhau chòi ra, bằng ngón tay, bằng con
chuột. Rồi bằng con cá chuối to”.
2.3.1.2 Cách dựng đoạn trong văn miêu tả
- Cách dùng từ ngữ, hình ảnh.
Việc lựa chọn từ ngữ trong văn miêu tả là yêu cầu quan trọng, đòi hỏi phải
được đặt ra một cách nghiêm túc. Muốn làm tốt yêu cầu này thì người viết văn
trước hết phải có một vốn từ phong phú. Vấn đề tích lữy vốn từ cần được tiến
hành thường xuyên và dưới nhiều hình thức: thông qua các giờ Văn- Tiếng Việt,
thông qua giao tiếp hàng ngày, quá trình đọc sách, đọc tài liệu tham khảo có liên
quan tới văn miêu tả.

nhiều góc độ và từ hướng khác nhau: từ xa nhìn lại, từ ngoài nhìn vào, từ trong
nhìn ra, từ trên nhìn xuông, từ dưới nhìn lên, nhìn bên trái, bên phải, phía trước,
phía sau, nhìn toàn cảnh, nhìn chi tiết.
Chia đoạn theo đặc điểm, tính cách của đối tượng được miêu tả: mỗi đặc
điểm tính chất có thể được tách ra để miêu tả trong một đoạn văn độc lập.
Chia đoạn theo số lượng được miêu tả: có thể sử dụng cách chia đoạn này cho
kiểu bài tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh sinh hoạt, tả thế giới loài vật, đồ vật. Ví dụ:
tả cảnh thiên nhiên có bầu trời, không trung, mặt đất; cảnh khu vườn, ngoài
đồng.
Thông thường mở rộng ý theo một hướng sau:
Mở rộng ý bằng cách liên tưởng, so sánh đối tượng đang miêu tả với những
đối tượng khác, hoặc đặt đối tượng đang miêu tả trong các quan hệ với những
đối tượng xung quanh.


Mở rộng ý bằng cách đi vào miêu tả thật tỉ mỉ, thật chi tiết từng đường nét,
hình dáng, đặc điểm của đối tượng.
Mở rộng ý bằng cách đan xen vào những câu văn miêu tả là những câu văn
nêu cảm xúc, suy nghĩ, nhận xét.
Mở rộng ý bằng cách kết hợp miêu tả đặc điểm với những lời giới thiệu về
giá trị, về công dụng của đối tượng được miêu tả.
- Cách viết đoạn mở bài, thân bài và kết bài
Mô hình bố cục của bài văn miêu tả thông thường gồm có ba phần rõ rệt.
Mở bài: giới thiệu đối tượng miêu tả ( đối tượng gì ? có quan hệ như thế nào
đối với người miêu tả ? hoàn ảnh tiếp xúc, gặp gỡ với đối tượng ấy có gì đặc
biệt.
Thân bài : lần lượt dựng lại hình ảnh hoặc khung cảnh được miêu tả với
những nét đặc điểm chung, riêng.
Kết luận : nêu cảm nghĩ về đối tượng được miêu tả.
Theo mô hình này thì văn miêu tả chỉ mở bài bằng việc giới thiệu đối tượng

các bước như sau:
Đối tượng kiểm chứng là: học sinh lớp 6 (đủ 3 đối tượng)
Cơ sở vật chất: đủ 2 phòng học, bàn ghế, ánh sáng phục vụ dạy học đầy đủ.
- Sự chuẩn bị của GV ở 2 lớp là như nhau.
- Sự chuẩn bị của học sinh: SGK, vở bài tập, vở nháp, các tài liệu có liên
quan.
- Về thời gian: dạy - học 4 tiết/ lớp, được bố trí dạy học vào 3 buổi xen kẽ
các môn học khác.
- Đề kiểm tra khảo sát: mang tính vừa sức, tính khoa học, tính chính xác,
phù hợp với 3 đối tượng học sinh lớp 6.
GIÁO DỤC THỰC NGHIỆM

Lớp 6B - Chúng tôi thực hiện các bước sau:
Hoạt động 1: Khởi động bằng việc kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà của các em
và GV chọn một bài văn miêu tả cho HS đọc trước lớp rồi xác định các phần
trong bài làm của người viết - Trình bày các ý chính trong mỗi phần: Mở bài,
Thân bài, kết bài.
Hoạt động 2: GV tổ chức cho HS ôn tập các đơn vị kiến thức đã học về văn
miêu tả. Cụ thể:
I/ Khái niệm văn miêu tả.
II/ Đặc điểm của văn miêu tả.
III/ Các yêu cầu khi làm bài văn miê tả.
Hoạt động 3: GV tổ chức cho người học viết các đoạn văn miêu tả theo yêu
cầu của người dạy.
Hoạt động 4: GV cho lớp tiến hành thảo luận và nhận xét, đánh giá các
đoạn văn của HS.
Hoạt động 5: GV củng cố kiến thức và tiến hành khảo sát bằng đề bài
sau:
Đề bài: Em hãy viết đoạn văn ngắn (10- 15 câu) miêu tả cảnh chợ hoa ngày
tết.

3. Chiều quê. Đó có lẽ là lúc mà ta cảm nhận được rõ nhất sự yên ả và
thanh bình.
Đoạn thân bài.
1. Mùa hè đến, Sầm sơn vui hơn, đông hơn và sôi động hơn. Biển lại
chuyển mình, hoà reo trên những lớp sóng trắng xoá. Biển sầm Sơn lúc nào
cũng đẹp.
2. Ngày nay chợ đã khác xưa nhiều. một số mặt hàng cũ đã được thay thế
bằng những thứ hàng mới phù hợp với nhu của cuộc sống hiện đại. Nhưng về cơ
bản, chợ vẫn giữ được nét xưa. Người dân trong vùng vẫn nhớ đi chợ theo sáu
phiên như một thói quen đã ăn sâu vào trong tiềm thức.
3. Hoàng hôn xuống ! Mẹ mặt trời vội vã gọi đàn con nắng trở về. Mặt biển
lại hiền hoà và lặng lẽ, lóng lánh giọt ánh sáng còn sót lại. Mặt trời đỏ lự xuống
biển. Em cùng các bạn đi dạo trên bãi biển, lắng nghe tiếng sóng rì rào, tiếng
trở mình thở dài của biẻn cả khoan khoái trong làn gió mát lạnh đưa hơi thở
măn mà của biển vào đất liền.
Đoạn kết bài.
1.Căng lồng ngực hít thở bầu không khí trong lành. Tôi thấy trong lòng
dâng lên một tình yêu sâu nặng đối với thành phố quê hương. Tình yêu ấy, tôi sẽ
mang theo suốt đời, không bao giờ phai nạt, có lẽ vậy chăng ?
2. Đêm hôm đó tôi ngủ thật ngon lành trong vòng tay của ông nội. Trong
giấc mơ tôi thấy mình đang cùng thằng Lâm và cu Tí lạc vào một xứ sở thần
tiên. Ở đó có đầy đủ các thành viên của đại gia đình chúng tôi. Quê hương tôi
đó chăng ? Vừa xa vời, vừa gần gũi biết bao.
3. Được tắm dưới mưa quả là thú vị. Cơn mưa rào ấy đã qua lâu rồi mà tôi
còn nhớ mãi. Nhớ mãi. Ước sao có một lần được về quê, được cùng bọn tre làng
đùa giỡn trong mưa.


2. 4 Hiệu quả của sáng kién
Kết quả đạt được như sau:

%
18
69
13
44
31

56

yếu, kém
SL
%
5
19
0
0
5

9

Qua quá trình Dạy - Học và tiến hành khảo sát thực nghiệm theo phương
pháp tích cực, bản thân tôi thấy kết quả đạt được vẫn chưa cao.
Đối với việc tổ chức Dạy - Học ở lớp 6B - khi chưa vận dụng triệt để
phương pháp tích cực theo chuyên đề đổi mới (thay SGK THCS) và các bước
tiến hành như đã trình bầy trên đây chúng ta thấy: Số bài khá, giỏi chiểm tỉ lệ
vẫn còn thấp. Số bài điểm yếu, kém vẫn chiếm tỉ lệ lệ cao.
Rõ ràng nếu không có sự nghiên cứu, đầu tư các cách dạy học, ôn luyện cho
HS thì hiệu quả thực hành viết đoạn văn trong văn bản của các em là rất thấp.
Nếu không tổ chức các buổi ôn tập một cách bài bản, khoa học đúng theo
phương pháp đổi mới thì sẽ không tạo cho các em sự hứng thú, say mê, tích cực

phương châm là người truyền đạt kiến thức và chủ thể tiếp nhận kiến thức và
mục đích cuối cùng là viết được các đoạn văn sáng tạo với đầy đủ các kĩ năng
mà các em tiếp thu được.
Mọi sự chuẩn bị chu đáo, kỹ càng của người dạy sẽ mang lại những hiểu
biết, những thao tác thuần thục, nhẹ nhàng và tự tin trong các em học sinh thân
yêu!
Vì vậy, chúng ta cần quan tâm hơn nữa để phát huy “Những tài năng sẵn
có còn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân học sinh”, giúp các em hoàn thiện hơn trong
nhân cách người học, phát huy vốn tri thức của nhân loại làm giàu cho quê
hương đất nước trong thời kỳ hội nhập, đổi mới và phát triển.
3.2. Kiến nghị:
3.2.1. Đối với Phòng giáo dục và đào tạo:
Hàng năm nên tổ chức các lớp chuyên đề đổi mới về phương pháp dạy học
theo quan điểm “Tích hợp - Tích cực”, đặc biệt là chuyên đề về phân môn Tập
làm văn.
Chỉ đạo tổ chức giao ban cụm liên trường sinh hoạt chuyên môn (như dự giờ
thực nghiệm của giáo viên trường bạn) để từ đó, anh chị em giáo viên có điều
kiện học hỏi, rút kinh nghiệm về cách dạy, quy trình dạy học một giờ rèn luyện
kỹ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh THCS.
3.2.2. Đối với nhà trường:
Nhà trường nên tạo mọi điều kiện về mặt thời gian cũng như về CSVC để
giúp giáo viên yên tâm nghiên cứu, soạn giảng trong quá trình dạy học.
Động viên về mặt tinh thần cũng như tạo một không khí thân thiện để
người dạy có đủ tâm thế và lòng tự tin khi lên bục giảng.
Nhà trường cần phải tổ chức cho Tổ KHXH đưa vào nội dung sinh hoạt
chuyên môn của tổ để bàn bạc, thảo luận về chuyên đề: "Rèn luyện kĩ năng viết
đoạn văn miêu tả" và các thể loại khác để giúp anh chị em thấy rõ hơn các yêu
cầu, cách hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn nói chung. Sau thảo luận bàn
bạc cách thức dạy học thì tổ chức dạy thử nghiệm trên lớp (Dạy đối chứng Kiểm tra đánh giá chất lượng). Sau mỗi buổi dạy, tổ KHXH nhà trường tổ chức
họp để nhận xét, rút kinh nghiệm (Tổng kết chuyên đề) để từ chuyên đề này, mỗi

3. Đỗ Ngọc Thông, Phan Minh Diệu – Văn miêu tả trong nhà trường phổ
thông – NXBGD, năm 2003.
4. Tài liệu thay SGK Ngữ văn THCS (Bộ GD&ĐT).


Mục lục
1.

Mở đầu:
- lí do chọn đề tài.
- Mục đích nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu

Trang

2
3
4
4


2.

Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
- Cơ sử lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
- Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm.
- Các sáng kiến kinh nghiệm.
- Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status