MỤC LỤC
Mục
1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
2.
2.1.
2.2.
2.3.
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.3.6
2.4.
3.
3.1.
3.2.
Nội dung
Trang
MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
2
Lí do chọn đề tài.
2
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
14
Kết luận.
14
14
Kiến nghị và đề xuất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Tiếng việt là môn học có nhiều phân môn và chiếm nhiều thời gian học tập
ở bậc Tiểu học nói chung, với lớp 4 nói riêng. Trong đó tập làm văn được nhìn
nhận với tầm quan trọng đặc biệt, vì nó mang tính thực hành cao.
Trong thực tiễn dạy tập làm văn, tôi nhận thấy một số ít giáo viên chưa chú ý,
chưa quan tâm hướng dẫn, gợi mở cho học sinh, thường để các em tự làm bài
nên các em thường chép những bài văn mẫu, dần dần các em không biết tự viết
một bài văn. Bên cạnh đó giáo viên chưa đưa ra những yêu cầu nâng cao để phát
triển khả năng của học sinh. Chưa chú ý sửa chữa câu, từ cho học sinh khi viết
văn, chưa giúp học sinh phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát của học sinh. Từ
đó khả năng quan sát, sử dụng Tiếng Việt của học sinh kém linh hoạt, không
sáng tạo, dẫn đến tư duy kém phát triển. Khi học sinh viết bài, từ ngữ khô khan,
câu văn dài dòng hoặc quá cụt lủn… dẫn đến bài văn không đạt kết quả như
mong muốn.
Trong chương trình Tập làm văn ở lớp 4 có một số dạng văn như (viết thư,
kể chuyện, miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật) yêu cầu người giáo
Khi viết đề tài này bản thân tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp tiến hành thực nghiệm trong quá trình giảng dạy và dự giờ đồng
nghiệp.
- Phương pháp so sánh mức độ tiếp thu của HS này với HS khác.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết, cấp Tiểu học là bậc học đặt nền móng cho việc hình
thành nhân cách của học sinh. Đây là bậc học cung cấp những tri thức khoa học
ban đầu về tự nhiên và xã hội, trang bị những kiến thức kỹ năng đầu tiên về hoạt
động thực tiễn, bồi dưỡng, phát huy những tình cảm, thói quen và đức tính tốt
của con người. Trong 9 môn học của bậc Tiểu học thì Tiếng Việt là môn học giữ
vị trí quan trọng, bởi nó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Không một quốc gia
nào không chăm lo đến việc dạy tiếng mẹ đẻ trong nhà trường Tiểu học. Đó là
môn học góp phần hình thành và phát triển ở học sinh 4 kỹ năng: nghe – nói –
đọc – viết. Trong môn Tiếng Việt thì dạy Tập làm văn lại chiếm 1 vị trí khá quan
trọng vì nó là sự “ tích hợp “ 4 kỹ năng của học sinh.
Trong đời sống, muốn người khác công nhận ra những điều mình đã nhìn
thấy, đã sống, đã trải qua… chúng ta phải miêu tả. Trong văn học, các câu
chuyện, các cuốn tiểu thuyết, thậm chí ngay cả trong văn nghị luận hay văn viết
thư, nhiều lúc ta cũng chen vào các đoạn văn miêu tả. Vì thế, có thể nói văn
miêu tả có một vị trí quan trọng trong sáng tác văn chương. Cũng vì thế văn
miêu tả chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tập làm văn bậc
Tiểu học.
Trong chương trình Tập làm văn ở lớp 4 có một phần thể loại miêu tả. Để
giúp học sinh tả hay thể loại này đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực về
Tiếng Việt, phải tích luỹ cho bản thân vốn từ ngữ đa dạng và phong phú. Đối với
học sinh các em phải có óc khả năng quan sát, phải có vốn từ ngữ, phải tích luỹ
vốn từ thông qua các tiết học khác, nhất là trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu…
SL
TL
SL
TL
SL
TL
35
3 em
8,6%
6 em.
17,1% 16 em. 45,7%
Học sinh viết
câu không đủ
ý nội dung bài
viết lan man,
lủng củng.
SL
TL
10 em 28,6%
Qua kết quả khảo sát và quá trình giảng dạy thời gian đầu năm, tôi nhận
thấy rằng các em ngại học tập làm văn, nhất là khi làm bài văn viết. Kỹ năng
làm bài của các em còn hạn chế, chất lượng bài làm chưa cao. Cụ thể là các em
chưa biết cách quan sát cây cối để miêu tả. Nhiều em còn chưa hiểu quan sát là
gì? Thường thì nhìn thấy cái gì các em nghĩ cái đó theo kiểu liệt kê, chứ không
biết chắt lọc các chi tiết quan sát được. Mặt khác do vốn từ của các em chưa
giúp học sinh làm tốt kiểu bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4 tôi đã nghiên cứu
và đưa ra các biện pháp như sau:
2.3.1. Giúp học sinh nắm chắc yêu cầu của đề bài.
Đây là một việc làm rất quan trọng, bởi nó giúp học sinh định hướng được
công việc mình sẽ làm: Đó là xác định được bài văn thuộc thể loại bài văn gì?
Kiểu bài gì? Đối tượng miêu tả là gì ?... Từ đó giúp các em không đi lạc yêu cầu
của đề.
Ví dụ: Trước cổng nhà em hay trong khu nhà nơi em ở, trên đường em đi học
hay giữa sân trường có một cái cây cho bóng mát. Em hãy tả lại cái cây đó.
Sau khi nêu xong đề bài, tôi ghi lên bảng rồi yêu cầu 2 học sinh đọc lại.
Tôi hướng dẫn các em như sau:
* Đề bài thuộc thể loại văn gì? (miêu tả)
* Kiểu bài nào? (tả cây cối)
* Đối tượng miêu tả là gì? (cây cho bóng mát)
- Học sinh thảo luận nhóm đôi trả lời câu hỏi:
Kể tên các loại cây cho bóng mát? (bàng, xà cừ, phượng vĩ,…)
- Gọi học sinh trình bày kết quả thảo luận.
- Cả lớp nhận xét.
Sau khi học sinh trả lời xong, tôi chốt lại yêu cầu và dùng phấn gạch chân
các từ ngữ quan trọng.
Tóm lại: Giáo viên cần cho học sinh xác định trọng tâm miêu tả của từng
đối tượng khác nhau (cây hoa, cây ăn quả, cây bóng mát). Từ đó học sinh hiểu
được nên đi sâu miêu tả gì? nhấn mạnh đặc điểm gì? ( cây hoa đi sâu tả hoa, cây
ăn quả đi sâu tả quả, cây bóng mát đi sâu tả tán lá). Nếu giáo viên làm rõ yêu
cầu như vậy thì chắc chắn sẽ không có một bài văn nào của học sinh bị lạc đề.
2.3.2. Rèn kỹ năng quan sát:
Đây là biện pháp được coi là cơ bản nhất. Bởi kết quả của quan sát được thể
hiện rõ trong từng bài làm của học sinh. Em nào quan sát tinh vi, thấu đáo thì em
đó sẽ nhận ra được những nét riêng biệt, đặc sắc của loài cây mình định tả để thể
hiện trong bài viết. Còn em nào quan sát hời hợt, phiến diện thì bài viết của các
* Quan sát theo trình tự từng bộ phận của cây.
* Quan sát theo trình tự từng thời kỳ phát triển của một bộ phận trên cây
Song dù quan sát theo trình tự nào thì các em cũng phải dừng lại ở bộ phận
chủ yếu, trọng tâm để quan sát kỹ hơn.
Ví dụ: Quan sát cây phượng.
Tôi hướng dẫn các em quan sát theo trình tự:
* Quan sát từ xa: Hình dáng của cây khi nhìn từ xa.
* Quan sát khi đến gần:
- Gốc, rễ, thân, cành, lá, hoa, quả.
- Cảnh vật xung quanh tác động đến cây (nắng, gió, khí hậu, chim chóc, ong
bướm, con người…)
Đó chính là quan sát bao quát rồi quan sát từng bộ phận của cây phượng.
b. Quan sát bằng nhiều giác quan:
Đây là thao tác quan trọng nhất và có tính chất quyết định nhiều mặt. Thông
thường học sinh chỉ dùng mắt để quan sát. Do đó, kết quả thu được thường chỉ là
các nhận xét và cảm xúc gắn liền với thị giác. Xong tôi đã hướng dẫn các em
biết cách phối hợp nhịp nhàng các giác quan để quan sát.
Ví dụ: Quan sát cây phượng.
Tôi hướng dẫn như sau:
* Các em dùng mắt để quan sát từ xa xem hình dáng của nó như thế nào? trông
nó giống cái gì?
* Em hãy dùng tay để sờ xem vỏ cây của cây phượng như thế nào?
* Em hãy dùng mắt và tai để quan sát và lắng nghe xem trên cây có những loài
vật nào? Chúng làm gỉ ? …
6
* Với mỗi bộ phận của cây tôi đều có một câu hỏi gợi ý và giúp các em sử dụng
từ ngữ để ghi lại những gì quan sát được. Nếu giáo viên làm tốt thao tác này là
đã góp phần vào sự thành công của việc rèn kỹ năng quan sát cho học sinh.
Học sinh quan
Học
sátsinh
câyquan
phượng
sát cây hoa lan
Được thực hành trực tiếp quan sát, các em rất hứng thú
nhận
ra được
những
Họcvàsinh
quan
sát cây
hoa hồng
nét riêng biệt, đặc sắc của loài cây mình định tả để thể hiện trong bài viết.
Tóm lại: Giáo viên phải tạo điều kiện cho các em đến tận nơi quan sát đối
tượng được miêu tả, coi việc tổ chức cho các em quan sát trực tiếp đối tượng
miêu tả là việc làm không thể thiếu. Trong tiết học, học sinh phải tập quan sát
bằng nhiều giác quan khác nhau. Bên cạnh đó giáo viên cũng cần hướng dẫn các
em quan sát bằng cách huy động vốn sống, khả năng tưởng tượng và cảm xúc
rồi ghi chép lại trong giờ học. Giáo viên phải hướng dẫn các em, nhận xét, uốn
nắn, chuẩn bị ứng phó các tình huống sư phạm. Dạy Tập làm văn đảm bảo theo
hướng đối mới phương pháp dạy học, các em được học tập tích cực, chủ động và
sáng tạo suy nghĩ độc lập, tự nhiên không gò bó, rập khuôn, máy móc.
2.3.3. Rèn kỹ năng lập dàn bài chi tiết cho bài văn miêu tả.
Để viết được một bài văn hay, thì học sinh cần phải có thói quen lập dàn bài
chi tiết. Vì vậy sau khi hướng dẫn học sinh kỹ năng quan sát, tôi giúp các em có
thói quen chọn lọc các chi tiết quan sát được và sắp xếp chúng thành một dàn
bài chi tiết. Để giúp các em thực hiện tốt kỹ năng này, tôi hướng dẫn theo hai
nó.
* Thân bài:
- Tả bao quát: hình dáng: cây cao đến tầng hai.
- Tả chi tiết:
+ Rễ cây: nhô lên khỏi mặt đất.
+ Thân cây: tròn, màu nâu, xù xì
+ Tán lá: xanh , mát rượi, che kín một khoảng sân trường.
+ Hoa: những chùm hoa li ti màu đỏ xen giữa đám lá xanh.
+ Quả: quả phượng dài.
+ Kết bài: Tình cảm của em đối với cây phượng.
- Cây phượng như một gian nhà nhỏ để che bóng mát.
- Chăm sóc cây phượng để nó ngày một xanh tốt.
Làm nhiều lần như vậy tôi đã xác định cho các em một thói quen tốt. Từ đó
các em có kỹ năng chọn lọc các chi tiết quan sát được, các em biết chọn bộ phận
nên so sánh và nhân hóa và sắp xếp chúng thành một dàn bài chi tiết.
2.3.4. Dựng đoạn và viết bài văn miêu tả.
Đây là bước cuối cùng để hoàn chỉnh đoạn văn, bài văn. Từ các ý đã lập,
các em sử dụng ngôn ngữ, phát triển ý để dựng thành đoạn và bài. Tôi hướng
dẫn các em viết bài văn thành nhiều đoạn, như vậy mỗi đoạn văn miêu tả có một
nét nhất định.
Ví dụ: Khi tả cây phượng:
Đoạn 1: Giới thiệu cây phượng.
9
Đoạn 2: Tả bao quát cây phượng (nhìn từ xa, khi đến gần)
Đoạn 3: Tả từng bộ phận (gốc, rễ, thân, cành, lá, hoa, quả)
Đoạn 4: Tình cảm của em đối với cây phượng.
Ở bước này, tôi lưu ý các em: Viết đoạn văn phải đảm bảo sự liên kết giữa
các câu trong đoạn để cùng tả một bộ phận. Các ý trong đoạn được diễn tả theo
Khi phân tích đoạn 1, tôi giúp các em hiểu rằng để tả hương vị đặc biệt của
quả sầu riêng tác giả đã sử dụng các điệp từ: “thơm mùi thơm”, “béo cái béo”,
“ngọt cái vị ngọt”.
Khi phân tích đoạn 3 tôi giúp các em nhận thấy tác giả sử dụng hàng loạt
các từ ngữ đã được chọn lọc, nghệ thuật: so sánh.
“Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngang thẳng đuột – Lá nhỏ xanh vàng, hơi
khép lại tưởng như lá héo.”
10
Qua đó, tôi giúp học sinh hiểu rằng người ta có thể mượn hình ảnh để ca
ngợi một hình ảnh khác (mượn cái không đẹp của cây sầu riêng để tăng thêm
hương vị của trái sầu riêng).
Trên cơ sở đó, tôi cho học sinh tìm các ví dụ:
Ví dụ 2: Bài “Đoàn thuyền đánh cá” Sách Tiếng Việt 4 – tập 2/Trang 59:
Khi phân tích bài thơ nhận thấy tác giả sử dụng hàng loạt các từ ngữ đã
được chọn lọc và dùng nghệ thuật so sánh để nói về vẻ đẹp huy hoàn, kì vĩ của
biển cả:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa”; “Biển cho ta cá như lòng mẹ”
Ví dụ 3: Bài “Trăng ơi…từ đâu đến?” Sách Tiếng Việt 4 – tập 2/Trang 107:
Trong ba khổ thơ đầu, tác giả sử dụng nghệ thuật so sánh để thể hiện vẻ đẹp
của trăng:
“Trăng hồng như quả chín”; “Trăng tròn như mắt cá”; “Trăng bay như quả
bóng”
Tóm lại: Ta thấy các từ ngữ miêu tả trong các bài tập đọc rất đa dạng và phong
phú, chúng được sử dụng rất hay, sinh động, gây ấn tượng. Cách sử dụng các
biện pháp nghệ thuật trong các bài Tập đọc cũng rất là sáng tạo. Bằng cách này
tôi đã giúp học sinh tích lũy thêm vốn từ và học cách sử dụng chúng, đồng thời
thông qua các bài Tập đọc tôi cũng giúp các em hiểu thêm rằng để một bài băn
* Như ở phần thực trạng tôi đã trình bày, bài văn của các em bị sai lỗi chính tả
rất nhiều, điều đó gây khó chịu cho người đọc. Vì vậy trong tất cả các tiết chính
tả, tôi luôn chú ý rèn cho các em có ý thức viết đúng chính tả.
* Ngoài ra thông qua giờ chính tả, tôi cũng giúp các em tích lũy thêm vốn từ
ngữ miêu tả và cách sử dụng chúng.
Ví dụ 1: Khi dạy bài chính tả sách Tiếng việt 4 – Tập 1.
Thông qua bài tập: “Điền vào chỗ… s/x”.
Sau khi học sinh thực hiện xong yêu cầu chính, tôi gọi học sinh đọc lại:
“Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
Trở lối sang mùa hè
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp mùa đông ấm những đêm thâu
Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu
Chạm đầu lưỡi – chạm vào sức nóng
Hỏi: Bài thơ miêu tả những loại trái cây nào? (nhót, cà chua, ớt).
* Tác giả đã sử dụng nghệ thuật gì để miêu tả các loại trái cây đó? Lấy ví dụ.
(nghệ thuật so sánh: quả nhót – ngọn đèn, quả cà chua – đèn lồng, quả ớt – ngọn
lửa đèn dầu.)
* Từ đó tôi chỉ cho học sinh cái hay, sáng tạo và tác dụng của biện pháp nghệ
thuật nêu trên.
2.3.6. Rèn kỹ năng tự kiểm tra đánh giá khả năng của mình và của bạn.
Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học là tư duy cụ thể. Do đó trong
giảng dạy, giáo viên cần đưa ra những ví dụ cụ thể để học sinh hình dung, hiểu
rõ cách làm. Vì vậy trong các giờ trả bài viết, sau khi nhận xét và hướng dẫn học
sinh chữa lỗi, tôi chọn những bài văn hay, đạt điểm cao của học sinh trong lớp
để biểu dương, sau đó đọc cho cả lớp cùng nghe. Đọc xong, tôi đặt ra một số câu
hỏi để các em trả lời.
Ví dụ:
- Bài làm của bạn hay ở chỗ nào? Sáng tạo ở chỗ nào?
- Em học tập được những gì từ bài làm của bạn?...
* Bảng B: Kết quả khảo sát cuối năm:
Đề bài: Hãy tả một cây ăn quả mà em thích nhất.
Mức độ đạt được
Học sinh biết làm Học sinh biết Học sinh đã làm Học sinh viết
Tổng bài văn đúng thể cách làm bài văn, bài văn theo bố câu không đủ
số
loại, một bài văn biết cách sắp xếp cục ba phần ý nội dung
HS miêu tả hay, có các ý tả cây theo nhưng diễn tả bài viết lan
tính sáng tạo, một trình tự nhất hay sa vào kể, man,
lủng
giàu hình ảnh, ý định, dùng từ ngữ, liệt kê lại những củng.
văn mạch lạc, có phù hợp diễn tả điều quan sát
cảm xúc.
khá chính xác.
được...
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
35
10 em
28,6% 16 em. 45,7% 8 em. 22,9% 1 em 2,8%
So sánh kết quả bảng B với bảng A, tỉ lệ tăng đáng kể.
Kết quả trên cho thấy những biện pháp tác động giáo dục mà đề tài nêu là có
cơ sở lý thuyết và đem lại kết quả thực tiễn.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
ở lớp 4.
* Đối với Phòng giáo dục:
- Phòng GD&ĐT tổ chức hội thảo về sáng kiến kinh nghiệm, tạo điều kiện cho
chúng tôi học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp.
Trên đây là một số giải pháp của tôi đưa ra trong quá trình dạy dạng văn miêu
tả cho học sinh lớp 4. Quá trình nghiên cứu đề tài của tôi chắc chắn còn nhiều
hạn chế và thiếu sót, mong các đồng nghiệp và các đồng chí chỉ đạo chuyên môn
góp ý để việc vận dụng sáng kiến này vào thực tiễn giảng dạy đạt kết quả tốt
hơn. Để bản thân tôi ngày càng nâng cao kinh nghiệm và năng lực công tác,
ngày càng nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học Quảng Hưng nói
riêng và chất lượng giáo dục nói chung.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Quảng Hưng, ngày 10 tháng 4 năm 2019
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết
14
Chung Thị Hòa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Tiếng việt 4 (Tập 1+2) (Nguyễn Minh Thuyết - Chủ biên).