skkn một số biện pháp rèn kỹ năng phát triển ngôn ngữ nói cho học sinh khiếm thính lớp dự bị 1 - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT

Mã số . . . . . . . . . . . .
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG PHÁT TRIỂN
NGÔN NGỮ NÓI CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH LỚP DỰ BỊ 1
Người thực hiện: LÊ THỊ HUỆ
Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
Giáo dục khuyết tật:
Biện pháp rèn kỹ năng phát triển ngôn ngữ nói
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013 – 2014
1
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lê Thị Huệ
2. Ngày tháng năm sinh: 11/4/1983
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: A 31E Ấp Bình Hòa, Phường Bình Nhâm, Thị xã Thuận An, Bình
Dương.
5. Điện thoại: 0613. 954171 (CQ) – Di động: 01629997306
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao: Giáo viên chủ nhiệm lớp dự bị 1.
9. Đơn vị: Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Khoa học
Giáo dục đặc biệt.
- Năm nhận bằng: 2009

Nhằm giúp các em tăng số vốn từ phát triển ngôn ngữ nói. Bù đắp phần nào
khiếm khuyết cho các em. Điều này đòi hỏi người giáo viên, cha mẹ các em, những
người trực tiếp rèn cho trẻ những kỹ năng này cần có tính kiên trì, nhẫn nại vì việc
rèn kỹ năng đòi hỏi thực hiện mọi lúc, mọi nơi, mọi tình huống và cần lặp lại nhiều
lần, nhiều thời gian, đúng phương pháp thì mới có hiệu quả tốt.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Trẻ khiếm thính
Trẻ khiếm thính được các nhà nghiên cứu nhìn nhận ở rất nhiều góc độ khác
nhau.
- Dưới góc độ y học: Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm một phần hay
mất hoàn toàn chức năng nghe.
- Dưới góc độ tâm lý học: Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm sức nghe
ở nhiều góc độ khác nhau dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng nhiều
đến quá trình nhận thức. Người ta chia ra các mức độ khiếm thính như sau.
Mức độ 1: Điếc nhẹ (20 - 40 dB). Trẻ nghe được hầu hết âm thanh nhưng
không nghe được tiếng nói thầm.
Mức độ 2: Điếc vừa (40 - 70 dB). Có thể nghe được những âm thanh to nhưng
không nghe hết được tiếng nói chuyện bình thường.
Mức độ 3: Điếc nặng (70 - 90 dB). Chỉ nghe được tiếng nói rất to ở sát tai.
Mức độ 4: Điếc sâu > 90 dB. Hầu như không nghe được trừ một số âm thanh
thật to như: Tiếng sấm, tiếng trống, …
Nhìn chung khiếm thính ảnh hưởng lên trẻ theo 4 cách cơ bản:
3
- Khiếm thính làm chậm quá trình phát triển các kỹ năng tiếp thu và diễn đạt
thông tin.
- Khiếm thính gây mất cân bằng ngôn ngữ dẫn đến những khó khăn về học
tập và tiếp thu làm giảm học lực.
- Khiếm thính làm các kỹ năng giao tiếp không phát triển thường dẫn đến sự
cô lập về mặt xã hội và khả năng tư duy kém.
- Khiếm thính ảnh hưởng quá trình nghề nghiệp, cơ hội hoà nhập vào xã hội

- Sử dụng lát bánh thính giác
- Làm nổi bật âm thanh
- Thay đổi môi trường
 Biện pháp rèn kỹ năng phát âm
4
- Dạy đồng tâm
- Sử dụng phương pháp đa giác quan
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Tất cả những biện pháp trên phải được tiến hành thường xuyên với trẻ. Dạy
luyện nghe và phát âm với trẻ khiếm thính lớp dự bị 1 là một nội dung rất quan
trọng trong quá trình giáo dục và sự phát triển sau này của trẻ. Tuy nhiên như đã
nói ở phần lý do chọn đề tài yếu tố tương đối quan trọng góp phần thành công
trong việc phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ khiếm thính lớp dự bị đó là máy trợ
thính phải luôn luôn hoạt động tốt. Trẻ phải được đeo máy suốt ngày và mỗi ngày.
Trẻ phải được kiểm tra thính lực đúng định kì. Kiểm tra máy trợ thính mỗi ngày
xem máy có hoạt động tốt không? Máy trợ thính phải được khuếch đại thường
xuyên theo đúng mức độ nghe hiện tại của trẻ. Trẻ phải được luyện nghe theo đúng
phương pháp và đúng các mức độ của các bài luyện nghe. Phải luôn đảm bảo rằng
cơ quan phát âm của trẻ đầy đủ và hoạt động tốt. Do độ tuổi của các em còn nhỏ
nên cần gây hứng thú, thoải mái cho các em khi rèn các kỹ năng này. Có thể rèn
dưới dạng trò chơi.
1. Biện pháp rèn kỹ năng nghe tốt
Rèn kỹ năng nghe cho trẻ khiếm thính là một công việc không thể thiếu được
trong những hoạt động hàng ngày của giáo viên và cha mẹ trẻ khiếm thính. Có rất
nhiều hình thức để rèn kỹ năng nghe cho trẻ nhưng trong khi luyện nghe giáo viên
và phụ huynh nên lựa chọn các hình thức phù hợp với trẻ, không quá thách thức trẻ
làm trẻ thấy chán, mất hứng thú trong việc nghe. Do đó việc rèn kỹ năng nghe cần
tổ chức một cách vui vẻ, thoải mái, thu hút trẻ muốn lắng nghe. Để cuộc luyện
nghe đạt hiệu quả cao đòi hỏi máy trợ thính của trẻ hoạt động tốt và đã được hiệu
chỉnh phù hợp với trẻ, không gây cho trẻ cảm giác đau tai, vướng víu tai.

Biện pháp này rất quan trọng trong việc rèn kỹ năng nghe cho trẻ, giúp trẻ dễ
dàng hơn trong việc chú ý lắng nghe. Cũng do đặc điểm của trẻ lớp dự bị là khả
năng tập trung nghe và kỹ năng nghe chưa nhuần nhuyễn, chưa cao. Tất cả trẻ đều
bị khiếm thính mức độ từ nặng đến sâu nên trẻ rất khó khi nghe chính xác lời nói
hoặc âm thanh nếu như chúng ta không làm nổi bật âm thanh hoặc lời nói đó đồng
thời làm giảm những tiếng ồn gây cản trở cho việc lắng nghe của trẻ.
Nhắc trẻ chú ý lắng nghe
Biện pháp này giúp trẻ chú ý lắng nghe đồng thời tạo sự gần gũi, thân thiện
cũng như không khí thoải mái, vui tươi của buổi luyện nghe. Bước đầu giáo viên
nhẹ nhàng gọi tên trẻ, sau đó giáo viên nói trẻ lắng nghe và chỉ vào tai hoặc giáo
viên nói lặp lại hai lần “ Em nghe nha, nghe nha”. Đây như là một sự chuẩn bị tâm
lý và báo hiệu cho trẻ rằng con hãy chú ý lắng nghe, tạo cho trẻ sự tập trung chú ý
cao.
Nói mẫu chuẩn mực
Nói rõ ràng, chậm rãi, không nói quá nhanh hoặc quá chậm, tốc độ vừa phải,
không la to. Nhiều người luôn nghĩ rằng trẻ đã bị khiếm thính thì càng la to, nói to
trẻ mới nghe được nhưng điều này là hoàn toàn sai lầm vì la to âm thanh bị khuếch
đại quá mức làm cho lời nói bị biến dạng trẻ không nghe được mà còn làm cho trẻ
đau tai, nhức đầu. Gây cho trẻ cảm giác sợ hãi khi lắng nghe.
Tạm dừng trước và sau từ khóa
Trẻ khiếm thính có thể hiểu và làm đúng yêu cầu của một câu nói dài nhưng
chưa chắc trẻ đã lặp lại được câu nói đó. Nói như vậy để minh chứng rằng trẻ
khiếm thính thường nắm bắt được các từ khóa trong câu. Để phát huy điều tốt này
cho trẻ chúng ta cần có những biện pháp để giúp trẻ nắm bắt chính xác từ khóa hơn
bằng cách tạm dừng trước và sau từ khóa một vài giây, cũng có thể nhấn mạnh từ
khóa, âm thanh đó hơn, giáo viên có thể nâng cao hơn cho những em đã có kỹ
năng nghe tương đối bằng cách ngắt nhịp trong câu thay đổi, đòi hỏi trẻ phải nhận
ra chỗ cô ngắt nhịp.
6
Ví dụ minh họa: Nói câu “Ngôi nhà màu đỏ cao hơn ngôi nhà màu xanh.”

khóa của tiếng).
Nói thì thầm, nói nhỏ là một cách làm nổi bật âm thanh, từ ngữ cho trẻ, cách
này giúp trẻ có kỹ năng nghe và phân biệt phụ âm khá tốt.
Biện pháp 3: Thay đổi môi trường nghe cho trẻ
Môi trường tốt để trẻ lắng nghe là môi trường luôn có những tình huống đời
thường và ngôn ngữ hiện diện. Trẻ cần được lắng nghe tất cả mọi âm thanh của
cuộc sống. Giáo viên, phụ huynh có thể tạo ra những tình huống qua chơi mà học,
qua học mà nghe. Môi trường đóng vai trò đáng kể trong việc tiếp cận âm thanh,
lời nói của trẻ. Giáo viên nên tạo cơ hội để trẻ được nghe mọi lúc, mọi nơi, trong
mọi tiết học, giờ chơi, Phụ huynh nên tận dụng tất cả mọi sinh hoạt diễn ra hàng
ngày để luyện nghe cho trẻ như: xếp đồ, giặt đồ, rửa chén, nấu cơm, ăn cơm,
7
Ví dụ:
Mẹ xếp đồ.
Mẹ giặt đồ.
Mẹ gấp áo sơ mi.
Mẹ đang giặt áo sơ mi.
Mẹ vặt rau.
Mẹ nấu cơm.
Mẹ xem ti vi.
Những hoạt động diễn ra ở nhà thường được lặp đi, lặp lại hàng ngày đây là
cơ hội rất tốt cần được tận dụng triệt để rèn kỹ năng nghe cho trẻ.
Giảm sự dội âm, âm nền, tiếng ồn
Nếu như lớp học được trang bị cách âm và giảm âm nền, giảm sự dội âm là
điều rất thuận lợi cho việc luyện nghe và phát âm của trẻ. Nhưng nếu lớp học chưa
đáp ứng được thì chúng ta cũng phải tạo ra một môi trường nghe thuận lợi cho các
em như: Lớp cần trang trí tranh ảnh, mút xốp, tắt quạt, đóng cửa, để làm giảm sự
dội âm, tạo ra môi trường nghe tốt nhất có thể cho trẻ. Điều này góp phần không
nhỏ vào việc rèn kỹ năng nghe cho trẻ, giúp trẻ phát triển ngôn ngữ nói. Khi trẻ
đang chú ý lắng nghe nhưng lại bị tiếng ồn và âm nền cản trở sẽ làm cho trẻ khó

nghe, phát âm, thủ công, mỹ thuật. Lấy từ “con chó, con mèo” (trong môi trường
xung quanh) để dạy từ “ở trên, ở dưới” (toán) câu: Con mèo ở trên bàn. Con chó ở
dưới bàn. Luyện nghe và luyện phát âm cho trẻ hai câu trên. Cho trẻ tô màu và xé
dán con chó, con mèo (trong môn mỹ thuật và thủ công) giúp trẻ được nghe rất
nhiều lần cùng một từ trong nhiều tình huống khác nhau.
Ví dụ minh họa: Môn môi trường xung quanh trẻ học tên một số loại quả,
môn toán đếm số lượng ta lấy các loại quả cho trẻ nói lại tên quả và đếm. Khi dạy
luyện nghe và phát âm chúng ta cho trẻ nghe và phát âm tên các loại quả. Môn thủ
công và mỹ thuật cho trẻ được xé dán và tô màu các loại quả. Trẻ được nghe rất
nhiều lần tên quả giúp trẻ tự chỉnh sửa khi phát âm.
9
Biện pháp 2: Sử dụng đa giác quan
Để trẻ hiểu và nhận biết được những đặc điểm của tiếng nói trong quá trình
học phát âm, trẻ khiếm thính phải sử dụng đồng thời nhiều giác quan: nghe, nhìn,
xúc giác,
Bởi vậy trong dạy phát âm cần phải rèn luyện để hình thành và phát triển
những khả năng tiếp cận ngôn ngữ. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao
hiệu quả phát âm của trẻ khiếm thính.
Thính giác: Tận dụng triệt để phần thính lực còn lại của trẻ để tiếp nhận âm
thanh ngôn ngữ. Cho dù trẻ chỉ nghe được âm trầm thì nghe vẫn là yếu tố cần thiết
để dạy trẻ phát âm bất kì âm nào, giáo viên cũng cần đặt nhiệm vụ đầu tiên cho
mình là xem khi nghe âm này trẻ sẽ có thể phát hiện điều gì. Nghe được gì và nghe
như thế nào tùy thuộc vào mức độ điếc của từng trẻ. Cho nên việc sử dụng máy
nghe trong khi học phát âm là cần thiết.
Ví dụ minh họa: Nhờ vào thính giác giúp trẻ tự mình điều chỉnh được âm
tương ứng. Trẻ hay nói “táo” thành “áo” cho trẻ lắng nghe nhiều lần và cảm nhận
luồng hơi ở miệng khi nói “táo” hoặc cũng có thể tách /t/ cho trẻ phát âm trước sau
đó ghép lại tiếng “ táo” trẻ sẽ tự điều chỉnh.
Thị giác: Nhìn là một trong những phương thức tiếp nhận tiếng nói quan
trọng nhất của trẻ khiếm thính. Dạy phát âm cần nhấn mạnh sự khác nhau, giống

- Trẻ và cô hiểu nhau, gần gũi và thân thiện với nhau hơn.
- Trẻ đã xóa được mặc cảm, nhút nhát, hòa đồng với mọi người và tự tin
hơn.
- Ba mẹ trẻ, người chăm sóc trực tiếp lên trẻ hiểu trẻ hơn và dần nắm được
các biện pháp rèn kỹ năng cho trẻ.
So sánh mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính lớp Dự bị trước và
sau khi sử dụng các biện pháp rèn kỹ năng nghe và phát âm.
Bảng 1: Học lực môn Tiếng Việt trước và sau khi sử dụng các biện pháp rèn kỹ
năng nghe và phát âm.
Lớp
Độ
tuổi
TSHS/nữ Giỏi Khá Trung bình Yếu
Từ
8/2 SL % SL % SL % SL %
Đầu năm 1 12,5% 3 37,5% 4 50%
Cuối năm 2 25% 1 12,5% 4 50%
1
12,5%
11
Nhìn vào bảng so sánh mức độ đầu và cuối năm môn Tiếng Việt lớp Dự bị ta
thấy sự tiến bộ rõ rệt. Tỉ lệ học sinh yếu giảm mạnh bên cạnh đó trẻ khá, giỏi tăng
cao.
Kỹ năng giao tiếp của các em tiến bộ đáng kể, các em mạnh dạn, tự tin hơn
rất nhiều, vốn từ của các em được tăng lên .
Cô và trẻ thêm hiểu nhau, gần gũi thân thiết hơn. Trẻ giúp đỡ nhau nhiều hơn
và gắn bó với nhau hơn.
Ba mẹ trẻ, những người chăm sóc trực tiếp trẻ cũng có sự trải nghiệm áp dụng
các biện pháp rèn kỹ năng này, giúp họ hiểu về tâm sinh lý, đặc điểm của trẻ
khuyết tật và cách giáo dục trẻ hơn.

Trương Gia Huy
(có máy trợ thính)
Khoảng 5 (từ) Khoảng 7 (từ)
5
Trương Thị Kiều My
( có máy trợ thính)
Khoảng 5 (từ) Khoảng 67 (từ)
6
Nguyễn Tấn Sang
(có máy trợ thính)
Khoảng 10 (từ) Khoảng 50 (từ)
7
Nguyễn Hà Thu Vân
( có máy trợ thính)
Khoảng 5 (từ) Khoảng 34 (từ)
Sau một năm áp dụng một biện pháp rèn kỹ năng phát triển ngôn ngữ nói vốn
từ của trẻ nhìn chung tăng lên đáng kể, trẻ đã nói được câu với số lượng tiếng dài
hơn. Điều quan trọng là trẻ đã biết tự lắng nghe các âm thanh và tiếng nói Mà
không cần sự báo hiệu trước, giúp trẻ tự mình được cảm nhận những âm thanh của
cuộc sống.
Lắng nghe được giúp cho trẻ rất nhiều trong các môn học quan trọng khác
như phát âm, học làm quen chữ cái, toán và môi trương xung quanh. Tôi thấy việc
trẻ có kỹ năng nghe đã giúp trẻ thêm mạnh dạn, chủ động hơn rất nhiều trong việc
giao tiếp.
12
Đầu năm học trẻ không nghe thấy tiếng tàu hỏa chạy ngang qua lớp, tiếng
trống vào lớp, tiếng cô gọi tên trẻ nhưng đến cuối năm học trẻ đã tự phát hiện ra
có tàu hỏa đang chạy qua, tiếng trống và tên gọi của mình.
Trẻ đã chuyển qua mức độ 3/5 của quá trình luyện nghe. Trẻ không những
nghe phát hiện, phân biệt mà còn bước đầu nhận biết âm thanh đó là gì.

Nguyễn Gia Bảo
( có máy trợ thính)
Khoảng 10 (từ) Khoảng 157 (từ)
3
Đỗ Trọng Hiếu
( có máy trợ thính)
Khoảng 12 (từ) Khoảng 195 (từ)
4
Trương Gia Huy
(có máy trợ thính)
Khoảng 5 (từ) Khoảng 11 (từ)
5
Trương Thị Kiều My
( có máy trợ thính)
Khoảng 10 (từ) Khoảng 126 (từ)
6
Nguyễn Tấn Sang
(có máy trợ thính)
Khoảng 8 (từ) Khoảng 80 (từ)
7
Nguyễn Hà Thu Vân
( có máy trợ thính)
Khoảng 5 (từ) Khoảng 42 (từ)
Sau khi áp dụng một số biện pháp rèn kỹ năng phát triển ngôn ngữ nói, khả
năng phát âm của học sinh tiến bộ rõ, biểu hiện là sự linh hoạt của cơ quan phát
âm, sự bật luồng hơi, kỹ năng đặt cấu âm, trẻ có kỹ năng nhìn hình miệng và kỹ
năng bắt chước cách phát âm, bên cạnh đó số lượng âm, từ học sinh phát âm được
cũng tăng cao, tăng nhiều nhất khoảng 183 từ, từ tăng ít nhất khoảng 6 từ do bé đa
tật, không đeo máy trợ thính và nghỉ học nhiều. Tuy nhiên trong quá trình trẻ bắt
chước giáo viên cần chú ý để chỉnh sửa lỗi cho trẻ.

tuổi - Bộ Giáo dục và Đào tạo - 1995
4. Phương pháp dạy phát âm cho trẻ khiếm thính - Th.S Trần Thị Thiệp -
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Giáo dục đặc biệt, (2006).
5. Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ Giáo dục trẻ khiếm thính học nghe - nói, Quỹ
toàn cầu cho trẻ khiếm thính. (2010)
Biên Hòa, ngày 16 tháng 4 năm 2014.
Người thực hiện
Lê Thị Huệ
14
SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI
TT NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Biên Hoà, ngày tháng năm 2014
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2013- 2014
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kỹ năng phát triển ngôn ngữ nói
cho học sinh khiếm thính lớp dự bị 1
Họ và tên tác giả: LÊ THỊ HUỆ Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Tổ Chuyên môn (Tiểu học)
Lĩnh vực/Môn nghiên cứu: Giáo dục khuyết tật
- Quản lý giáo dục - - Phương pháp dạy học:
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:……………………………
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn.
- Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng tại đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị
mình nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị.
2. Hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status