Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7 - Pdf 39

Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

SƠ LƢỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên : Mai Thị Thanh Duyên
2. Ngày tháng năm sinh : 28/02/1972
3. Nam, Nữ : Nữ
4. Địa chỉ : Trường THCS Võ Trường Toản
5. Điện thoại : 0942 152 393
6. E-mail :
7. Chức vụ : Giáo viên
8. Đơn vị công tác : Trường THCS Võ Trường Toản
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị : Cử nhân Văn
- Năm nhận bằng : 2011
- Chuyên ngành đào tạo : Ngữ văn
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm : Dạy lớp
- Số năm có kinh nghiệm : 18
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây :
+ Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà môn Ngữ văn
+ Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học nhằm nâng cao chất lượng bộ môn
+ Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng viết bài văn biểu cảm cho học sinh trung học
cơ sở
+ Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục lớp chủ nhiệm

GV: Mai Thị Thanh Duyên

1



với lối bày tỏ tình cảm, cảm xúc trong văn nghị luận, việc bày tỏ ý kiến trong văn
nghị luận nhằm giải thích, chứng minh, thuyết phục người nghe, người đọc một tư
tưởng, một quan điểm nào đó
Môn Ngữ văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn :Văn bản,
Tiếng Việt và Tập làm văn. Trong đó, phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ tổng
hợp, vận dụng vốn kiến thức của hai phân môn còn lại cùng với vốn kiến thức đời
sống của học sinh để diễn đạt một vấn đề thuộc lĩnh vực đời sống xã hội hoặc trong
lĩnh vực văn học.

GV: Mai Thị Thanh Duyên

2


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

Học và làm văn nghị luận, các em sẽ được rèn luyện tư duy, kỹ năng phát biểu
ý kiến và tinh thần tự chủ trước cuộc sống
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
Trong những năm qua, tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn 7. Tôi
nhận thấy học sinh học sinh ở độ tuổi này đã có bước phát triển vượt bậc về mặt
tâm sinh lí cũng như sự nhạy bén trong việc tiếp thu, ảnh hưởng các vấn đề xã hội.
Tuy nhiên, khi có sự đòi hỏi phải trình bày, nhận xét về những vấn đề ấy một cách
bài bản mà cụ thể là trong giờ học thực hành làm văn nghị luận thì các em lại lúng
túng, rụt rè, không mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ của mình. Thực tế đó quả là đáng lo
ngại. Hơn nữa, văn nghị luận trong chương trình ngữ văn lớp 7 có tính cách đặt
nền móng để học sinh phát triển năng lực nghị luận ở các lớp sau.
Về cơ sở thực tiễn, văn nghị luận đã góp một phần đáng kề vào việc hình
thành nhân cách, hình thành con người xã hội của các em. Như vậy, một vấn đề đặt

A. Giúp học sinh nắm rõ đặc điểm và yêu cầu của bài văn nghị luận
- Văn nghị luận là văn thuyết lí, được viết ra nhằm xác lập cho người đọc,
người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Muốn thế, văn nghị luận phải có luận
điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục
- Yêu cầu cơ bản của bài văn nghị luận là luận điểm phải đúng đắn, đáp ứng
nhu cầu thực tế; luận cứ phải xác thực, tiêu biểu; lập luận phải chặt chẽ, , hợp lí
- Bài văn nghị luận được viết bằng văn phong chính luận, rõ ràng, trong sáng,
chuẩn xác
- Tóm lại : Vấn đề nghị luận là vấn đề mang ý nghĩa xã hội; ba yếu tố cơ bản
để hình thành bài văn nghị luận đó là : luận điểm, luận cứ và lập luận.
 Quy trình làm bài văn nghị luận :
- Tìm hiểu đề và tìm ý
- Lập dàn ý
- Viết bài và sửa chữa
*Bố cục bài văn nghị luận và nhiệm vụ của từng phần : gồm có ba phần
+ Mở bài : Nêu vấn đề có ý nghĩa đối với đời sống, xã hội. Thông thường là dẫn
luận điểm tổng quát đã được nêu sẵn trong đề bài nghị luận
+ Thân bài : Trình bày nội dung chủ yếu của bài bằng cách sử dụng lí lẽ và dẫn
chứng để làm rõ vấn đề đang bàn luận
+ Kết bài : Nêu kết luận nhằm khẳng định vấn đề đã bàn bạc. Liên hệ bản thân.
B. Hình thành các kỹ năng cơ bản thông qua hoạt động luyện tập, thực hành
1. Lập ý
Bản chất của văn nghị luận là luận điểm, luận cứ và lập luận. Vậy nên, lập ý
trong văn nghị luận chính là xác lập luận điểm, tìm luận cứ và xây dựng lập luận.
a/ Xác lập luận điểm
- Luận điểm tức là tư tưởng, quan điểm, chủ trương, đánh giá của người viết
được thể hiện dưới hình thức những câu văn có tính chất khẳng định hay phủ định.
Mỗi một luận đề phải được xác lập bằng một hệ thống luận điểm, trong đó có luận
điểm chính và các luận điểm phụ
- Đọc kỹ đề từng câu, từng chữ và vận dụng năng lực tƣ duy để xác định nội

thấu đáo, thuyết phục.
*Ví dụ 1 : Chỉ ra các luận cứ mà tác giả đã sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm
trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta ?
 Để làm sáng tỏ luận điểm mở rộng thứ nhất : Lịch sử đã có nhiều cuộc
kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Bác đã
dùng hai luận cứ :
- Luận cứ thứ nhất là dẫn chứng về các trang sử chống ngoia5 xâm của tổ tiên ta
thông qua đoạn : Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần
yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời
đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trấn Hưng Đạo, Lê lợi, Quang Trung,...

GV: Mai Thị Thanh Duyên

5


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

- Luận cứ thứ hai là lời phân tích khẳng định cần ghi nhớ công lao của các vị anh
hùng dân tộc : Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các
vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng
 Để làm sáng tỏ luận điểm mở rộng thứ hai Đồng bào ta ngày nay cũng rất
xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước, Bác sử dụng đến bảy luận cứ, trong đó
sáu luận cứ là các dẫn chứng về những gương tích cực tham gia kháng chiến
của mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, luận cứ thứ bảy là lí lẽ khái quát
đặc điểm chung của chín luận cứ trên :
- Luận cứ 1 : Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ
- Luận cứ 2 : Từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng bị tạm
chiếm
- Luận cứ 3 : Từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn


họ có gì hơn mình; tìm mọi cách chứng tỏ sự vượt trội của mình thậm chí đến lố
bịch...
*Ví dụ 3 : Tìm luận cứ cho luận điểm Vì sao chớ nên tự phụ ?
- Bị mọi người xa lánh, tự cô lập bản thân
- Khả năng giao lưu học hỏi bị hạn chế
- Khi gặp thất bại, ít người chia sẻ
- Tự phụ chỉ mang lại tác hại cho bản thân....
c/ Xây dựng lập luận
Xây dựng lập luận là trình bày lí lẽ và dẫn chứng theo một trình tự lôgic, chặt
chẽ nhằm thể hiện vấn đề một cách khúc chiết, giàu sức thuyết phục. Lôgic của
trình tự lập luận đòi hỏi cho cả toàn bài và ngay trong từng đoạn nghị luận.
*Ví dụ 1 : Phân tích trình tự lập luận trong văn bản Chống nạn thất học ở bài
18, SGK/7 tập II :
- Trước hết tác giả nêu lí do vì sao phải chống nạn thất học, chống nạn thất học để
làm gì : Khi xưa Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân. Chúng
hạn chế mở trường học, chúng không biết cho dân ta biết chữ để dễ lừa dối dân ta
và bóc lột dân ta. Số người Việt Nam thất học so với số người trong nướ là 95
phần trăm, nghĩa là hầu hết người Việt nam mù chữ. Như thế thì tiến bộ làm sao
được ?
- Có lí lẽ rồi mới nêu tư tưởng chống nạn thất học bằng cách khẳng định vai trò của
việc nâng cao dân trí : Nay chúng ta đã dành được quyền độc lập. Một trong những
việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí. Mọi người Việt Nam
phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có
thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết
viết chữ Quốc ngữ
- Nhưng chỉ nêu tư tưởng thì chưa trọn vẹn. Người ta sẽ hỏi : Vậy chống nạn thất
học bằng cách nào ? Phần tiếp theo của bài viết giải quyết việc đó bằng cách đưa ra
các biện pháp cụ thể chống nạn thất học : Những người đã biết chữ hãy dạy cho
những người chưa biết chữ, hãy giúp sức vào bình dân học vụ, như các anh chị em

nước, công việc kháng chiến
 Cách đưa luận điểm, dẫn chứng để dẫn tới kết luận như vậy gọi là lập luận.
Phần thực hành xây dựng lập luận của học sinh
*Ví dụ 1 : Cho đề văn Chớ nên tự phụ, hãy trình bày trình tự lập luận của em đối
với đề bài này.
Về nội dung, đề bài yêu cầu em bàn luận để làm rõ lời khuyên chớ nên tự phụ (tự
cho mình cao hơn người khác). Bài viết của em cần làm rõ :
- Tự phụ là gì ?
- Tự phụ có những biểu hiện nào ?
- Tự phụ đem lại hậu quả gì ?
- làm thế nào để tránh được thói tự phụ ?
Qua đó khẳng định Chớ nên tự phụ là lời khuyên cần thiết và đúng đắn. Chất liệu
để viết bài văn này là lí lẽ kết hợp với dẫn chứng lấy từ thực tế hoặc trong sách vở
Ví dụ 2: Em hãy xây dựng lập luận cho đề : Viết về môi trƣờng.
- Xác lập luận điểm : Tầm quan trọng của môi trường sống (môi trường tự nhiên)
đối với cuộc sống con người

GV: Mai Thị Thanh Duyên

8


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

- Giải thích vắn tắt khái niệm môi trường là gì ?
- Đưa dẫn chứng nêu vai trò của môi trường đối với đời sống con người :
+ Vai trò điều hoà khí hậu, cân bằng sinh thái
+Môi trường trong sạch rất có lợi cho sức khoẻ con người, đảm bảo chất lượng
cuộc sống
+ Tác hại của tình trạng môi trường bị ô nhiễm do khói bụi, ô nhiễm tiếng ồn,


9


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

(Phạm Tuyên, Các bạn trẻ đến với âm nhạc, NXB Thanh niên 1992)
*Ví dụ 2 : Thiên nhiên là gì ? Thế nào là môi trường thiên nhiên ?
Thiên nhiên là toàn bộ thế giới tự nhiên bao gốm ánh sáng, không khí, nguồn
nước, đất đai, rừng núi, sông biển, tài nguyên dưới lòng đất,. . . Mỗi hiện tượng
thiên nhiên có sự sống riêng, vận động, phát triển và thay đổi dưới sự tác động của
tự nhiên và con người. Ví dụ, rừng gắn với núi đồi, cây cối, suối, thảm thực vật và
động vật hoang dã; rừng có thể thay đổi theo thời gian và những tác động của địa
chất, khí hậu và con người
Thiên nhiên bao quanh ta trong cuộc sống hàng ngày. Mặt trời ban ngày cho
ta ánh sáng để học tập, lao động và đi lại. Ánh trăng ban đêm cho ta ánh sáng
huyền diệu để ta vui chơi. Hoa lá cho ta sắc màu để nhìn ngắm. Nước cho ta đồ
uống, tắm giặt, tưới khắp ruộng đồng cho hoa màu cây cối, bội thu. Ánh đện nơi ta
làm việc, ăn nghỉ và học tập được thắp sáng từ các nhà máy thuỷ điện và nhiệt
điện. Bàn ghế ta ngồi học làm từ gỗ của rừng. Biển cho ta nghĩ dưỡng. Rừng núi,
hang động kì thú cho ta cảnh đẹp tham quan,... Từ xưa đến nay, thiên nhiên luôn là
người bạn gần gũi và chia sẻ, ban tặng cho ta rất nhiều thứ quý giá để ta hưởng
thụ
(Bài làm của học sinh)
b/ Lập luận theo quan hệ qui nạp
Đây là cách lập luận ngược lại của lập luận theo quan hệ diễn dịch. Nghĩa là,
ta sẽ đi từ luận cứ đến luận điểm, từ luận điểm mở rộng đến luận điểm chính.
*Ví dụ 1: Văn bản Hai biển hồ (Bài 18, SGK/10 Tập 2) Từ các luận điểm
trình bày trong ba đoạn đầu, tác giả đi đến khẳng định luận điểm chính trong đoạn
thứ tư :

trình vày này, luận điểm trình bày trong phần mở phải mang tính khái quát cao và
có quan hệ chặt chẽ với luận điểm chính được trình bày trong phần kết. Nghĩa là,
luận điểm chính là sự phát triển của luận điểm xuất phát. Lập luận theo cách này
thường câu đầu và câu kết sẽ chứa luận điểm.
*Ví dụ 1 : Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ
các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài
đến những đồng bào ở vùng bị tạm chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi,
ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận
chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở
hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng co đi tòng
quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc
yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân
thi đua tăng gia sản xuát, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến,
cho đến những đồngnbào đền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ,... Những cử chỉ
cao quí đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn
yêu nước.
(Tinh thần yêu nước của nhân ta, Hồ Chí Minh, Ngữ văn 7 tập 2)
*Ví dụ 2 : Người lớn khuyên ta dùng thời gian một cách khôn ngoan, đó là hãy
biết quý thời gian. Mỗi giây phút chỉ đến một lần và những gì chỉ đến một lần đều
quý. Điều quan trọng là thời gian khi bạn còn trẻ thì quý giá hơn tới ba bốn lần
lúc bạn đã già. Khi còn trẻ, cách sử dụng thời gian của bạn sẽ quyết định chất
lượng và tiêu chuẩn cho phần đời còn lại. . Nếu sử dụng thời gian hữu hiệu thì
cuộc đời sẽ đủ dài để làm được điều gì đó vĩ đại. Cuộc sống con người không thể
nói là dài. Nếu lãng phí thời gian chính chúng ta đã làm cho nó thêm ngắn lại.
“Thời gian là tài sản quý báu nhất nhưng cũng dễ mất nhất”. (I. R. Rca-nô-kê)

GV: Mai Thị Thanh Duyên

11


người ta nói rằng ở những miền đất nhiều gió bão là nơi sản sinh ra những cây cổ
thụ tầm cỡ
(j. Cô-men-xki – Thiên đường của trái tim)
Và đây cũng là một cách lập luận thú vị nữa, lập luận bằng cách nêu câu hỏi,
trả lời rồi phản bác : Tuổi thanh xuân có nghĩa là gì ? Có người nói : Hoa đẹp
hiếm khi thấy. Tuổi xuân không dài mấy. Bởi vậy, tuổi thanh xuân có nghĩa là truy
tìm hoan lạc. Tuổi thanh xuân có nghĩa là gì ? Lại có người nói : Chén rượu và
đàn ca, đời người được mấy ta. Bởi vậy, tuổi thanh xuân có nghĩa là chạy theo
hưởng thụ. Chúng ta nói : Không ! Chính vì đời người thì tuổi thanh xuân là tràn

GV: Mai Thị Thanh Duyên

12


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

trề nhựa sống. Bởi vậy tuổi xuân thực sự phải có nghĩa là : toả sáng nhiều hơn,
toa3nhie6t5 mạnh hơn để cống hiến càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân loại
(Bài làm của học sinh)
Như vậy, văn nghị luận có nhiều cách lập luận như trên. Để tạo một bài văn
nghị luận có sức hấp dẫn thì nên phối hợp sử dụng nhiều cách lập luận khác nhau
trong từng phần của bài.
3. Phƣơng pháp hành văn trong văn nghị luận
Như ta đã biết, yêu cầu lời văn trong văn nghị luận phải sáng sủa, mạch lạc,
nhiều khi phải đanh thép, hùng hồn. Vậy nên, loại từ khẳng định, phủ định, câu có
mệnh đề chính, phụ (hô - ứng) thường xuyên được sử dụng để tạo nên nét đặc sắc
của lời văn nghị luận
Nhưng văn nghị luận không chỉ thuyết phục người đọc lí lẽ và lập luận chặt
chẽ, đúng đắn, sâu sắc hùng hồn mà còn phải lay động tình cảm, cảm xúc nữa. Viết

mình.
(Bài làm của học sinh)
- Lúa không chỉ có màu xanh ở sắc lá thời con gái. Còn có hương thơm khi lúa lên
đòng và lúa trổ hoa. Và còn có vị ngọt, màu vàng tươi khi lúa chín trên cánh đồng
mênh ông bát ngát. Con người là hương hoa của đất trời. Một đời người phải như
một đời lúa. Lúa nhân hậu vì lúa không thoái hoá thành cỏ dại. Lúa phải được
chăm bón mới tốt tươi. Người cũng bva6y5, phải có nhân cách văn hoá. Muốn thế
phải tu dưỡng, phải học, học hết mình, học vì một mục đích cao đẹp mới có thể trở
nên tài giỏi, thành đạt
(Theo Tạ Đức Hiền, Nâng cao Ngữ văn 7, NXB Hà Nội, 2003)
3.2. Sử dụng từ ngữ biểu cảm, vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao ...
Trong văn nghị luận, khi cần thiết, chúng ta cũng phải biết phát huy hiệu quả
của lớp từ có tính biêu cảm cao trong tiếng Việt. Tránh kiểu viết như nói. Ngôn
ngữ không chỉ chính xác, trong sáng mà còn phải giàu hình ảnh nữa thì mới dễ tác
động tới nhận thức và tình cảm của người đọc. Việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ,
ca dao, ngôn ngữ thi ca ... hoà vào trong văn nghị luận cũng là một trong những
cách có hiệu quả cao để làm tăng tính hình tượng, tính biểu cảm cho lời văn
*Ví dụ 1 : Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi
nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy
hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước
(Hồ Chí Minh)
*Ví dụ 2 : Thế rồi, khi đất nước thống nhất, nhân dân ta lại say sưa lao động để
hàn gắn vết thương chiến trnh. Ở nơi đâu có bàn tay con người, ở đó hố bom bị
lấp, mìn bị phá. Bàn tay lao động hăng say như một liều thuốc xoa dịu, xoá đi mọi
vết tích hoang tàn. Những cánh đồng ngập trắng nước ngày xưa bây giờ đã bát
ngát màu xanh. Còn đâu “chiêm khê mùa thối”, “đồng trắng nước trong”
(Bài làm của học sinh)
*Ví dụ 3 : Chúng ta ai cũng hiểu rằng : là người sống trong xã hội , không ai sống
lẻ loi, đơn độc được mà phải tập hợp thành đoàn thể, cộng đồng. Trong gia đình,

(Hồ Chí Minh)
*Ví dụ 2 : Nhưng tại sao ta vẫn nghe tiếng kêu cứu khẩn thiết từ đại ngàn vọng lại
? Vâng, lại bắt đầu từ chính những tham vọng của con người. Tất nhiên, không
phải là tất cả nhưng dù chỉ một bộ phận nhỏ thôi cũng gây nên bao đau đớn cho
người bạn của chúng ta. Chỉ vì lợi nhuận, một số kẻ không chiến thắng nổi lòng
tham đã tàn phá sức vóc cường tráng của rừng. Thiên nhiên cũng muốn yên bình.
Nhưng con người lại không để thiên nhiên yên ổn. Thiên nhiên nổi dậy, giận dữ,
điên cuồng chính là sự trừng phạt cho hành động phản bội, thiếu ý thức đựng xây
của chính con người đó thôi ! ....
(Bài làm của học sinh)
C. Các kiểu bài nghị luận
1. Phép lập luận chứng minh
Trong văn nghị luận, chứng minh là một phép lập luận dùng những lí lẽ, bằng
chứng chân thực đã được thừa nhận để chứng tỏ luận điểm mới (cần được chứng
minh) là đáng tin cậy.
a/ Phƣơng pháp sử dụng lí lẽ, dẫn chứng trong lập luận chứng minh

GV: Mai Thị Thanh Duyên

15


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

Trong phép lập luận chứng minh, các lí lẽ, bằng chứng phải được lựa chọn,
thẩm tra, phân tích thì mới có sức thuyết phục. Muốn vậy, các em phải tuân thủ
những yêu cầu thao tác sau :
a.1. Xác định vấn đề chứng minh
Xác định vấn đề chứng ming nghĩa là nhận biết đề ra thuộc yêu cầu chứng minh
một vấn đề chính trị, xã hội hay chứng minh một vấn đề văn học. Bởi, điều này chi


16


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

a.3.Phân tích và trình bày dẫn chứng
 Phân tích dẫn chứng
Có dẫn chứng phong phú, tiêu biểu, toàn diện, sát hợp vấn đề chưa đủ mà còn
phải biết phân tích dẫn chứng. Phân tích dẫn chứng là dùng ngôn từ, lí lẽ của mình
để cắt, chẻ các dẫn chứng, chỉ rọ các giá trị của dẫn chứng trong việc thể hiện luận
điểm. Biết phân tích dẫn chứng không chỉ góp phần làm sáng tỏ luận điểm một
cách thấu đáo, thuyết phục mà còn góp phần rất lớn trong việc tạo ra chất văn cho
bài nghị luận. Và cần nhớ là phân tích phải gắn với tổng hợp, nhận xét, đánh giá
khái quát
Tất nhiên, không cứ phải đưa ra dẫn chứng nào là phải phân tích dẫn chứng đó
mà đòi hỏi người viết cần phải linh hoạt, uyển chuyển trong việc trích dẫn và phân
tích dẫn chứng để có thể đạt được hiệu quả cao nhát trong lập luận
 Sắp xếp dẫn chứng
Dẫn chứng không thể đưa ra một cách tuỳ tiện. Trái lại, cần được sắp xếp theo
một trình tự nhất định. Có thể :
-Theo trình tự hệ thống luận điểm.
- Theo trình tự hệ thống sự việc.
- Theo trình tự hệ thống thời gian.
- Theo trình tự hệ hống không gian
b. Lập dàn ý trong lập luận chứng minh
Dàn ý chung gồm có ba phần
 Mở bài
- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề ần chứng minh
- Trích dẫn câu chứa vấn đề (nếu có)

trong cấu trúc của luận đề. Thông thường, ta có thể dùng những cách giải thích sau
cho loại câu hỏi này :
- Nêu định nghĩa :
*Ví dụ : Khiêm tốn là gì ? Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhúng
nhường, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào khuôn thước của cuộc
đời, bao giờ cũng không ngừng học hỏi. Hoài bão lớn nhất của con người là tiến
mãi không ngừng, nhưng không nhằm mục đích tự khoe khoang, tự đề cao cá nhân
mình trước người khác
(Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)
- So sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác :
*Ví dụ 1 :
Tự phụ là đánh giá bản thân quá cao, không dựa trên những khả năng thực
sự của mình và luôn xem thường người khác. Những người tự phụ thường lầm
tưởng mình là tự tin nhưng thực sự người tự tin phải là người đánh giá đúng năng
lực của mình trong cuộc sống, lấy đó làm điểm tựa để hành động quyết đoán
*Ví dụ 2 :
Trái ngược với tự phụ là tự ti. Tự ti là sự đánh giá không đúng về năng lực của
bản thân, từ đó dẫn đến sự thụ động trong việc làm của mình. Tự ti khác với
khiêm tốn, người khiêm tốn hiểu rõ về mình, nhưng trước mọi người, luôn khiêm
nhường, tự hạ mình

GV: Mai Thị Thanh Duyên

18


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

(Bài làm của học sinh)
a.2. Câu hỏi “Vì sao ?”


GV: Mai Thị Thanh Duyên

19


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

- Đều là văn nghị luận.
- Dùng lí lẽ và dẫn chứng để trình bày ý kiến, tư tưởng nhằm thuyết phục người
đọc, người nghe.
+ Khác nhau:
Chứng minh

Giải thích

- Dùng những lí lẽ, dẫn - Bằng cách nêu khái niệm các từ khó, kể các
chứng chân thật để chứng tỏ
biểu hiện, so sánh, đối chiếu với các hiện
luận điểm mới.
tượng khác, chỉ ra mặt lợi, mặt hại, nêu
nguyên nhân, hậu quả, cách đề phòng hoặc noi
theo.
- Dẫn chứng là chủ yếu.
- Lí lẽ là chủ yếu.
Tóm lại, việc hình thành cho các em học sinh ở lớp 7 kỹ năng làm văn nghị luận
là một việc làm tuy khó so với độ tuổi của các em. Tuy nhiên nếu bước đầu người
đứng lớp có quyết tâm cao thì kết quả sẽ khả quan, tạo tiền đề cho những lớp sau
này, giúp các em sẽ đạt kết quả cao trong thi cử đồng thời sẽ là những con người có
chính kiến, có bản lĩnh trong cuộc sống.

14%

6%

(Trƣớc khi thực hiện đề tài)
2014 – 2015
(Trƣớc khi thực hiện đề tài)

GV: Mai Thị Thanh Duyên

20


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

*So sánh kết quả trước và sau khi áp dụng đề tài :

Kết quả khả quan nhất về học tập và vận dụng văn biểu cảm của học sinh thể
hiện rõ rệt hơn ở các phương diện :
1. Bài làm văn nghị luận
Số lượng học sinh có kĩ năng làm văn nghị luận tốt khá nhiều Dấu ấn đặc trưng
để nhận ra sự tiến bộ trong bài làm của các em là thể hiện được cách viết súc tích,
rõ ràng với giọng văn sôi nổi hùng hồn. Nội dung bước đầu thể hiện được những
nhận định của riêng bản than về các vấn đề có liên quan đến thực tế cuộc sống
2. Trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày
- Học sinh bước đầu có sự chuyển biến về nhận thức được thể hiện qua các hành
động cụ thể trong sinh hoạt và học tập như ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm, sự
nỗ lực học tập. Đó là kết quả của cả quá trình khổ luyện của thầy trò trong một thời
gian dài
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

- Hướng dẫn và tạo cho con em thói quen đọc sách; chia sẻ tư vấn, định hướng, bồi
dưõng cho con kỹ năng sống để các em có nhiều thuận lợi trong việc bộc quan
niệm, suy nghĩ của mình cuộc sống
- Phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm để
tìm hiểu, nắm bắt kịp thời tình hình học tập của con em mình
Kết luận
Dạy văn là dạy người. Có lẽ trong nhà trường không có môn khoa học nào có
thể thay thế được môn Văn. Đó là môn học vừa hình thành nhân cách vừa hình
thành tâm hồn.Trong thời đại hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển rất nhanh, môn
Văn sẽ giữ lại tâm hồn con người, giữ lại những cảm giác nhân văn để con người
tìm đến với con người, trái tim hòa cùng nhịp đập trái tim. Sau khi nghiên cứu,
tham khảo sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân người dạy và người học sẽ có cái
nhìn mới mẻ, tích cực hơn về phương pháp dạy và học văn nghị luận. Từ đó, rất hi
vọng kết quả học Văn của các em sẽ tốt hơn; các em sẽ yêu thích, đam mê môn
Văn hơn nữa.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 7 tập 2
2. Tài liệu Chuẩn kiến thức – kĩ năng môn Ngữ văn THCS, NXB Giáo dục

GV: Mai Thị Thanh Duyên

22


Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

3. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004–2007)
môn Ngữ văn – quyển 1 và 2 – NXB Giáo dục
3. Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp và tích cực –
Đoàn Thị Kim Nhung - NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status