SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG
******************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT BÀI VĂN NGHỊ
LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
Người thực hiện: Trần Thị Hằng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Hà Trung
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Ngữ văn
Thanh Hóa, năm 2016
1
MỤC LỤC
Nội dung
Bìa
Mục lục
1. MỞ ĐẦU:
- Lí do chọn đề tài
- Mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1: Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2: Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3: Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc giải pháp đã sử dụng để
giải quyết vấn đề.
3
4
4
4
4
4
5
5
6
6
7
8
8
9
9
9
9
10
10
10
11
11
12
13
13
13
14
2
nhiều lúng túng, nhiều em chưa nắm vững phương pháp làm bài. Do đó, chất
lượng bài làm chưa cao. Đây chính là vấn đề mà người giáo viên dạy môn Ngữ
văn cần phải suy nghĩ.
Đứng trước một thực tế xã hội và thực tế của bộ môn như vậy, là một cán
bộ giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, tôi không thể không băn khoăn,
trăn trở, suy ngẫm tìm biện pháp tháo gỡ vướng mắc, tồn tại trong giảng dạy
môn Ngữ văn ở nhà trường. Đây chính là lí do để tôi chọn viết đề tài Rèn luyện
kĩ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 10 THPT.
- Mục đích nghiên cứu:
Tôi chọn vấn đề Rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp
10 THPT làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm với mong muốn giúp các em có khả
năng làm một bài văn nghị luận thành thạo ở bất cứ dạng nào ( nghị luận văn
học hay nghị luận xã hội ). Từ đó, giúp các em có lập luận vững chắc khi muốn
trình bày một vấn đề trong cuộc sống.
3
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn THPT
+ Học sinh lớp 10 Trường THPT Hà Trung
- Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã kết hợp nhuần nhuyễn nhiều
phương pháp. Song tiêu biểu là một số phương pháp sau:
+ Phương pháp điều tra, thống kê số liệu.
+ Phương pháp khảo sát, so sánh, đối chiếu.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1: Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Để tìm hiểu về văn nghị luận, trước hết ta phải nắm được khái niệm và đặc
điểm của nó.
4
theo khối D. Thế nhưng, qua các bài kiểm tra, tôi thấy rằng các em còn rất nhiều
hạn chế như: bố cục bài văn chưa rõ ràng; diễn đạt chưa mạch lạc, lưu loát; dùng
từ chưa chính xác; trình bày ý còn lộn xộn; chưa trình bày ý thành các luận
điểm. Đặc biệt đối với những đề cùng một tác phẩm nhưng có cách hỏi khác thì
các em chưa biết cách xử lí, chưa lập luận theo yêu cầu của đề.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi xin nêu một vài kinh nghiệm về rèn
luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận được đúc rút từ tấm lòng yêu nghề, mến trẻ
với mong muốn được trao đổi cùng đồng nghiệp và các em học sinh.
2.3: Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn
đề.
Thực ra vấn đề rèn luyện kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 10 Trung học Phổ
Thông, đặc biệt là kiểu văn nghị luận đã được rất nhiều giáo sư đầu ngành, các
thầy cô giáo có kinh nghiệm nghiên cứu và viết thành sách hay cẩm nang văn
học. Ở đây, với kinh nghiệm giảng dạy hơn mười năm, tôi mạnh dạn đưa ra một
số giải pháp sau nhằm giúp các em học sinh làm bài tốt hơn đối với kiểu văn
nghị luận.
2.3.1: Rèn kĩ năng biết cách đọc và xử lí đề bài.
Đây là việc làm không học sinh nào bỏ qua nhưng thường được thực hiện
một cách sơ sài hoặc không đúng phương pháp. Vì vậy, dẫn đến việc lập dàn ý
không đúng với yêu cầu của đề.
Có thể nói, kĩ năng nhận diện, phân tích đề là kĩ năng cần phải rèn luyện
đầu tiên. Bởi muốn bài văn đạt kết quả cao trước hết học sinh phải biết nhận
thức đúng vấn đề mà đề bài yêu cầu. Nghĩa là việc xác định vấn đề phải trúng.
Vì thế, khâu tìm hiểu đề là hết sức quan trọng. Nó sẽ giúp cho học sinh tránh bị
lạc đề, xa đề.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường hướng dẫn cho học sinh khi tìm
hiểu đề cần trả lời bốn câu hỏi sau:
hỏi học sinh phải có vốn kiến thức sâu rộng, có tư chất thông minh mới có thể
phân tích đúng nội dung chính mà đề bài yêu cầu.
Ví dụ có đề bài như sau:
Nhà lí luận phê bình nổi tiếng Trung Quốc Viên Mai quan niệm: “ Thơ là
do cái tình sinh ra”.
Anh ( chị ) hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy phân tích bài thơ “ Độc
Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du để làm sáng tỏ ý kiến trên.
Với đề bài này, học sinh phải chỉ ra được cái tình là gì? Thực ra, nhận định
này muốn nói về nỗi niềm, tâm sự, tiếng nói, những rung động, cảm xúc của các
tác giả trong thơ nói chung. Từ đó, học sinh mới đối chiếu xem nó thể hiện như
thế nào trong bài thơ Độc Tiểu Thanh kí.
Như vậy, thông qua ba ví dụ trên và theo nguyên tắc chung của việc tìm hiểu
đề, học sinh phải làm được ba yêu cầu sau khi đọc và xử lí đề bài:
- Xác định nội dung bài làm: Vấn đề cần bàn luận trong bài văn là gì?
- Xác định hình thức bài làm: Nghị luận văn học hay nghị luận xã hội? Những
thao tác nào được sử dụng trong quá trình làm văn? Đâu là thao tác chính?
- Xác định phạm vi dẫn chứng cho bài làm: Dẫn chứng chính, dẫn chứng mở
rộng.
2.3.2: Rèn kĩ năng xác lập dàn ý cho bài văn:
Lập dàn ý là công việc lựa chọn và sắp xếp những nội dung cơ bản dự định
triển khai vào bố cục ba phần của văn bản. Việc lập dàn ý bài văn nghị luận giúp
cho người viết bao quát được những nội dung chủ yếu, những luận điểm, luận
cứ cần triển khai, phạm vi và mức độ nghị luận…nhờ đó mà tránh được tình
trạng xa đề, lạc ý hoặc lặp ý; tránh được việc bỏ sót hoặc triển khai ý không cân
xứng. Hơn nữa, có dàn ý người viết sẽ phân phối thời gian làm bài hợp lí, không
bị rơi vào tình trạng đầu voi đuôi chuột như đã thấy trong khá nhiều bài làm văn
ở nhà trường. Vậy để xác lập được dàn ý, học sinh cần phải hình thành luận
điểm cho bài văn và sắp xếp, xác định mức độ trình bày luận điểm.
* Hình thành luận điểm cho bài văn:
Văn nghị luận nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan
Cách 1: - Hai câu đề …..
- Hai câu thực……
- Hai câu luận……
- Hai câu kết……
Cách 2:
- Tâm sự, nỗi niềm của Nguyễn Du đối với Tiểu Thanh.
- Tâm sự, nỗi niềm của Nguyễn Du đối với những người tài hoa mà bạc mệnh.
- Tâm sự, nỗi niềm của Nguyễn Du đối với chính mình.
* Sắp xếp, xác định mức độ trình bày luận điểm:
Một bài văn thường có nhiều luận điểm, vì vậy học sinh phải biết sắp xếp
các luận điểm ấy theo một trình tự hợp lí, logic và sáng tạo để luận điểm trước
làm cơ sở cho luận điểm sau, luận điểm sau làm sáng tỏ thêm cho luận điểm
trước.
Ví dụ: Với đề 2, học sinh nên sắp xếp các luận điểm theo trình tự:
- Giải thích khái niệm nhân đạo và biểu hiện của tư tưởng nhân đạo trong văn
học cũng như trong thơ văn Nguyễn Du.
- Chứng minh tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện trong bài Độc Tiểu
Thanh kí .
7
+ Ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của con người qua việc ca ngợi tài sắc của nàng Tiểu
Thanh.
+ Đồng cảm với nỗi đau khổ của con người thông qua số phận của nàng Tiểu
Thanh và những kiếp hồng nhan, tài hoa bạc mệnh.
+ Gián tiếp lên tiếng tố cáo những thế lực gây nên nỗi đau khổ cho con người…
Hoặc ở đề 3, học sinh nên sắp xếp các luận điểm theo trình tự sau:
- Giải thích câu nói Thơ là do cái tình sinh ra của nhà lí luận phê bình nổi tiếng
Trung Quốc – Viên Mai.
+ Thơ là sự bộc lộ trực tiếp ý thức của con người về thế giới và chính mình, con
kí cần tập trung phân tích sâu và chiếm dung lượng chủ yếu trong bài làm.
2.3.3: Rèn kĩ năng huy động và sử dụng kiến thức cho bài văn.
* Kĩ năng hồi cố và tái hiện kiến thức:
8
Đây là việc nhớ lại những kiến thức đã học, đã đọc. Những kiến thức ấy
được lưu giữ trong đầu học sinh bằng cách ghi nhớ máy móc hoặc ghi nhớ có ý
nghĩa từ nhà trường hay từ các nguồn tài liệu khác. Giờ đây các em cần phải nhớ
lại và sử dụng.
Ví dụ: Với ba đề bài đã nêu trên, học sinh cần tái hiện lại những kiến
thức như:
- Bài thơ Độc Tiểu Thanh kí ( hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, văn bản, nội dung,
nghệ thuật chính…)
- Tác giả Nguyễn Du ( con người, sự nghiệp…)
- Truyện Kiều và một số tác phẩm về đề tài người phụ nữ trong văn học trung
đại.
* Kĩ năng định hướng kiến thức vào chủ điểm bài văn:
Trong khuôn khổ của một đề bài và thời gian làm bài bị giới hạn, bắt buộc
học sinh phải hướng vào những yêu cầu cần và đủ cho một đề bài. Những yêu
cầu có tính hạn chế của đề bài buộc học sinh phải gạt bỏ những kiến thức không
cần thiết, để giữ lại những kiến thức cần thiết. Vì vậy, các em phải sàng lọc, tập
trung, tổng hợp và khái quát hóa những kiến thức cần thiết nhất.
Ví dụ: Với đề 2, học sinh nhất thiết phải tập trung vào vấn đề tư tưởng
nhân đạo của Nguyễn Du qua bài thơ Độc Tiểu Thanh kí với ba biểu hiện rõ nét
như đã minh họa ở trên.
* Kĩ năng lựa chọn, vận dụng kiến thức liên môn, liên phân môn trong bài
làm văn:
Muốn bài văn viết phong phú về nội dung, thể hiện trình độ am hiểu, học
tiếp…) sẽ tạo được sự phong phú, độ hấp dẫn cho bài văn, tránh trích dẫn theo
cùng một kiểu khiến bài văn nhàm chán, không có dấu ấn.
* Kĩ năng dựng đoạn và liên kết đoạn:
Trên thực tế có rất nhiều học sinh không biết viết và tách đoạn văn khiến các
ý trong bài chồng chéo, trùng lặp… Vì vậy, giáo viên phải hướng dẫn các em
trình bày theo ý, mỗi ý tương đương với một đoạn và phải biết liên kết các đoạn
bằng thao tác chuyển đoạn một cách nhuần nhuyễn, uyển chuyển, tinh tế. Để các
câu và các đoạn liên kết chặt chẽ với nhau, học sinh phải vận dụng kiến thức của
phân môn Tiếng Việt đó là phép liên kết.
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Muốn viết được bài văn hay đã mô
hình hóa bài văn dưới dạng:
Mở bài
Ý 1 - Đoạn 1
Liên kết
Ý 2 – Đoạn 2
………………….
Kết bài
Đây là một mô hình rất hợp lí để trình bày một bài văn nghị luận nói chung.
* Sử dụng giọng văn:
10
Đây là yếu tố quan trọng để phân biệt bài văn của người này khác với bài
bản tuyên ngôn hòa bình của nhà nước Đại Việt.
* Phân tích, chứng minh nhận định đó qua bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn
Trãi.
- “Bình Ngô đại cáo” là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của nước Đại
Việt.
+ Trong lịch sử dân tộc, bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt được
đánh giá là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên. Tiếp theo đó, tác phẩm Bình Ngô
đại cáo của Nguyễn Trãi chính là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai trong lịch
sử nước ta.
+ Bình Ngô đại cáo thể hiện một nhận thức toàn diện, sâu sắc về quyền dân tộc,
quốc gia, thể hiện ý thức tự cường, tự chủ của dân tộc Đại Việt. Nó toàn diện
hơn vì ngoài yếu tố chủ quyền lãnh thổ ( đã nêu trong bài Nam quốc sơn hà), bài
11
cáo còn thêm những yếu tố cơ bản, quan trọng khác: văn hiến, phong tục tập
quán, lịch sử và nhân tài. Nó sâu sắc hơn vì tác giả coi văn hiến và lịch sử là hạt
nhân cơ bản để xác định độc lập dân tộc của Đại Việt; đặt dân tộc ta sánh ngang
với phương Bắc – đều làm đế một phương, tự hào vì có lịch sử và văn hiến lâu
đời.
- “Bình Ngô đại cáo” là bản tuyên ngôn nhân đạo:
+ Tư tưởng nhân nghĩa sáng ngời việc gì yên dân nên làm, kẻ bạo tàn hại dân
nên trừ đã được nêu cao trong tác phẩm như là mục đích của cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn.
+ Tư tưởng nhân nghĩa đã trở thành phương châm chiến đấu của cuộc khởi
nghĩa Đem đại nghĩa để thắng hung tàn- Lấy chí nhân để thay cường bạo.
+ Tư tưởng nhân đạo tha thiết được biểu hiện trong nỗi đau xót trước thảm họa
của nhân dân, là bản cáo trạng đanh thép về tội ác của quân xâm lược. Đồng
thời, nó còn được thể hiện ở việc ta mở đường hiếu sinh cho hàng chục vạn quân
giặc khi chúng đã thất bại, đầu hàng.
Chính vì những tồn tại trên cho nên chất lượng bài kiểm tra rất thấp. Cụ thể
như sau:
Sĩ số
42
Số lượng
Tỉ lệ %
Giỏi
Khá
0
0%
3
7.14%
Trung
bình
17
40.48%
Yếu
Kém
15
35.71%
Trung
bình
15
35.71%
Yếu
Kém
0
0%
0
0%
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
- Kết luận:
Nói tóm lại, với đề tài này, tôi mong rằng mỗi giáo viên giảng dạy môn
Ngữ văn nói chung và giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn THPT nói riêng thấy
được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận. Bởi ở bậc
Trung học Cơ Sở, học sinh đã được học về các kiểu văn bản cụ thể như văn biểu
cảm, văn nghị luận. Vì thế, cách làm bài văn nghị luận ở bậc THPT phải có sự
kế thừa, nâng cao kiến thức, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước. Sự kế thừa,
nâng cao này thể hiện rõ nhất việc nhấn mạnh tính tổng hợp của tri thức về rèn
luyện kĩ năng và tăng cường tính thực hành của học sinh.
Khi làm đề tài này, bản thân tôi dựa trên cơ sở thực tiễn của học sinh hiện
nay với mục đích giúp các em có sự nhìn nhận đúng đắn hơn về văn nghị luận
nói riêng và yêu thích hơn môn Ngữ văn nói chung. Đồng thời, tôi cũng mong
rằng, với đề tài này, các đồng nghiệp dạy môn Ngữ văn THPT có thêm tài liệu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bản tin dạy và học trong nhà trường - Viện nghiên cứu- Trường Đại học sư
phạm Hà Nội.
2. Báo điện tử giáo dục
3. Báo văn học tuổi trẻ
4. Báo tạp chí giáo dục
5. Muốn viết được bài văn hay của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh.
6. Sách giáo khoa Ngữ văn 10 - Tập 2 – NXB Giáo dục.
7. Tuyển tập đề thi Olympic Ngữ văn – NXB Đại học Sư Phạm.
15