Một số kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 12 trong kỳ thi THPT quốc gia ở trường THPT hà văn mao - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN CHO
HỌC SINH LỚP 12 TRONG KÌ THI THPT QG Ở TRƯỜNG
THPT HÀ VĂN MAO

Người thực hiện: Bùi Văn Quỳnh
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn

Thanh Hóa, năm 2018


MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN 1: MỞ ĐẦU …………………………………………………… 3
1.1. Lí do chọn đề tài....................................................................................3
1.2. Mục đích nghiên cứu.............................................................................4
1.3. Phạm vi nghiên cứu...............................................................................4
1.4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................4
1.5. Đóng góp của đề tài...............................................................................4
PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ...................5
2.1. Cở sở lí luận của đề tài .........................................................................5
2.1.1. Đặc thù môn học ................................................................................5
2.1.2. Đối tượng tiếp cận ..............................................................................5
2.1.3. Đoạn văn trong nhà trường THPT................................................5-6
2.2. Thực trạng của vấn đề...........................................................................7
2.2.1. Thực trạng chung...............................................................................7

học là trung tâm được phát huy tối đa về tính tích cực chủ động trong quá
trình học tập, hoạt động học tập cũng gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với
hành. Bộ môn văn cũng có nhiều đổi mới, đổi mới trong kiểm tra đánh giá,
đổi mới trong thi cử đặc biệt thi THPT QG. Theo cấu trúc đề thi tham khảo,
đề thi chính thức năm 2017; cấu trúc đề thi thử năm 2018 THPT QG khác biệt
lớn nhất trong đề nghị luận xã hội là yêu cầu viết đoạn văn, thay vì một bài
hoàn chỉnh. Câu hỏi nghị luận xã hội yêu cầu viết đoạn văn khoảng 200 chữ
luận bàn về một vấn đề thể hiện qua một nhận định, một khái niệm, một bài
học trong một thông điệp…được rút ra từ ngữ liệu phần đọc hiểu. Đây là điểm
mới nên việc giảng dạy của giáo viên và đặc biệt là việc học tập của học sinh
còn gặp nhiều khó khăn.
Qua thực tế giảng dạy ở trường THPT Hà Văn Mao hiện nay, để học sinh
thực sự hứng thú và thu được kết quả khả quan trong bộ môn làm văn, đặc
biệt để học sinh tự viết được đoạn văn là điều rất khó đối với nhiều em, nhất
là những học sinh có học lực trung bình, yếu. Hơn nữa, để giúp các em học
sinh lớp 12 đạt điểm cao ở bộ môn văn trong các kì thi THPT QG . Vì vậy,
làm thế nào để nâng cao kĩ năng viết đoạn văn, đặc biệt là kĩ năng viết đoạn
văn nghị luận là điều tôi luôn trăn trở trong những năm gần đây. Bởi chỉ khi
nào làm được điều này người thầy mới thực sự làm tròn vai trò, chức năng
của mình trong giáo dục, từ đó mới có thể khẳng định được vị trí của mình
đối với học sinh. Và cũng chỉ khi đó học sinh mới hoàn thiện kĩ năng viết
đoạn văn nói chung và đoạn văn nghị luận nói riêng trong phần làm văn, môn
ngữ văn mới đạt được mục tiêu của mình trong giáo dục.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài này "một số kĩ năng
viết đoạn văn nghị luận cho học sinh Lớp 12 trong kì thi THPT QG ở
Trường THPT Hà Văn Mao", để nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường
nói chung, đem lại cho bản thân tôi và đồng nghiệp những cách làm cụ thể
giúp học sinh phát triển toàn diện về kĩ năng và nhân cách.

1.2. Mục đích nghiên cứu.


2.1.1. Đặc thù môn học.
Trong bộ môn Ngữ văn, phân môn Làm văn có đặc thù riêng so với các
phân môn khác. Đặc thù riêng ấy được thể hiện ngay trong tên gọi của nó:
Làm văn, tức là thực hành là chủ yếu. Những năm gần đây, sự đổi mới của
chương trình giáo dục đã làm cho phần lí thuyết của phân môn này trở nên
đơn giản và dễ hiểu hơn rất nhiều đối với học sinh so với trước kia. Tuy lí
thuyết đã gần gũi và dễ hiểu nhưng từ lí thuyết làm văn đến với thực hành là
một khoảng cách xa, trong đó có phần quan trọng đó là viết đoạn văn . Để có
được sản phẩm thực hành của bộ môn này đòi hỏi sự vận dụng rất linh hoạt
của học sinh về mặt lí thuyết, về kĩ năng làm văn khi hoàn thiện một đoạn
văn cụ thể…
Làm văn nghị luận, nhất là viết đoạn văn nghị luận gắn với phần đọc
hiểu trong đề thi THPTQG hiện nay thì lại càng khó khăn hơn đối với các em.
Vì vậy, người giáo viên trong những tiết dạy làm văn nói chung và trong
phần thực hành viết đoạn văn nghị luận nói riêng, cần rèn luyện cho các em
một số kĩ năng viết đoạn văn để từ đó các em viết bài tốt hơn, giúp các em đạt
điểm cao trong các kì thi, nhất là học sinh khối 12 trong kì thi THPT QG và
nó còn là hành trang theo các em đến suốt cuộc đời
2.1.2. Đối tượng tiếp cận.
Đối tượng thứ nhất là người dạy - giáo viên. Trong giờ làm văn nói
chung và giờ dạy văn nghị luận nói riêng, người thầy cần cho học sinh nắm
vững phần lí thuyết, từ đó hướng dẫn các em thực hành cách viết đoạn văn cụ
thể đặc biệt là kĩ năng viết đoạn văn nghị luận qua ngữ liệu, trong các đề thi
khảo sát, thi THPT QG năm 2017, 2018 của Bộ GDĐT, các trường THPT
trong cả nước. Đây là cơ sở để người thầy thiết kế một giáo án hợp lí cho giờ
làm văn nhằm đạt kết quả tốt nhất trong dạy học.
Đối tượng thứ hai có tính chất quyết định đến hiệu quả của giờ học, đến
chất lượng của bài làm đó chính là học sinh. Người học vừa là chủ thể tiếp
cận tri thức, vừa là chủ thể sáng tạo. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên trên cơ

này, việc rèn luyện xây dựng đoạn văn càng trở nên mơ hồ, khó xác định vì
đoạn văn không được xây dựng trên một cơ sở chung nào vì hình thức bao giờ
cũng phải đi đôi với nội dung, bao chứa một nội dung nhất định và phù hợp
với nội dung mà nó bao chứa.
- Cách hiểu thứ ba (đoạn văn xét theo cả hai tiêu chí về ý và về lời): Đoạn văn
vừa là kết quả của sự phân đoạn văn bản về nội dung ( dựa trên cơ sở logic
ngữ nghĩa) vừa là kết quả của sự phân đoạn về hình thức ( dựa trên dấu hiệu
hình thức thể hiện văn bản). Về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở
một mức độ nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một
cách tương đối dễ dàng. Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có
mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi
đoạn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một
trật tự nhất định: đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản ( các
đoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn
kết thúc văn bản. Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối
của nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một
kết cấu nhất định. Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn
chỉnh đó thể hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn
nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức,
thể hiện bằng các phép liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn
bao giờ cũng được viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong
đoạn. Đây là cách hiểu hợp lí, thoả đáng hơn cả giúp người đọc nhận diện
đoạn văn trong văn bản một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời giúp
người viết tạo lập văn bản bằng cách xây dựng từng đoạn văn được rõ ràng,
rành mạch.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
2.2.1. Thực trạng chung:
6



đời và tuổi nghề nên có những mặt mạnh và hạn chế nhất định.
Thứ nhất là ưu thế: trẻ năng động dễ tiếp cận với cái mới về chuyên
môn nghiệp vụ. Trình độ chuyên môn đạt chuẩn, giáo viên có khả năng phát
triển cao về chuyên môn nghiệp vụ.
Thứ hai là hạn chế: kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, tâm lí không ổn
định do thuyên chuyển. Công tác tự học, tự nghiên cứu chuyên sâu chưa
thường xuyên. Tất cả những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc tìm
ra giải pháp giúp nâng cao hiệu quả dạy học.

2.2.3. Về phía học sinh.

7


Trường đóng trên địa bàn 8 xã Quý Lương, Hồ Điền của huyện Bá
Thước. Học sinh của trường chủ yếu là người dân tộc Mường, năng lực học
tập và khả năng giao tiếp của các em có những hạn chế nhất định. Mặt khác,
đa số các em trọ học, chủ yếu sống tự lập xa gia đình nên không có được sự
kèm cặp thường xuyên của cha mẹ. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc
tự học của các em.
Một thực tế trong việc học tập của học sinh hiện nay là nhiều em không
học bài, không chịu làm bài tập ở nhà. Các em đến lớp với một tâm lí ngại
học, phải học theo yêu cầu của cha mẹ, điều đó khiến cho học sinh không chủ
động tiếp thu kiến thức, không chủ động thực hành. Trong các bài thi kiểm tra
ở trên lớp các em không thực sự nỗ lực tìm tòi, suy nghĩ, bài làm về nhà thì
các em chép lại những tài liệu có sẵn trong các bài văn mẫu, trên mạng
internet….Vì vậy các em chưa nắm vững kĩ năng viết đoạn văn nói chung và
kĩ năng viết đoạn văn nghị luận nói riêng.
2.3. Giải pháp và tổ chức thực hiện.
Để giúp học sinh viết đoạn văn, đoạn văn nghị luận tốt hơn, trong quá

2.3.2. Rèn luyện kĩ năng bằng thực hành.
2.1.Để viết được một đoạn văn hay, trước tiên các em cần xác định rõ yêu cầu
của đề: Đề bài yêu cầu viết về cái gì? ( nội dung của đoạn văn), viết trong bao
nhiêu dòng? (dung lượng ), sau đó tiến hành tìm ý cho đoạn văn. Tức là chúng
ta xác định sẽ viết những gì? Tuỳ thuộc yêu cầu của đề , các em có thể ghi ra
giấy nháp những ý chính của đoạn văn. Việc tìm ý cho đoạn văn sẽ giúp học
sinh hình dung được những ý chính cần viết, tránh tình trạng viết lan man dài
dòng, không trọng tâm.
Ví dụ:
Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn
hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con
mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên
làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong
kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó
có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không? ( Trích Vợ nhặtKim Lân)
Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tình mẫu tử.
Hướng dẫn: Đoạn văn cần đảm bảo các ý:
– Dẫn ý bằng chính dòng độc thoại nội tâm xúc động của bà cụ Tứ.
– Tình mẫu tử là gì? Biểu hiện của tình mẫu tử?
– Ý nghĩa của tình mẫu tử?
– Phê phán những đứa con bất hiếu với mẹ và nêu hậu quả.
– Bài học nhận thức và hành động?
2.2. Viết đoạn văn theo yêu cầu của đề
+ Sau khi tìm được những ý chính cho đoạn văn, chúng ta tiến hành viết câu
mở đầu. Câu mở đầu có nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề. Đối với đoạn văn trong đề
đọc hiểu, các em nên dẫn dắt từ nội dung của văn bản được trích dẫn. Đoạn
văn có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cách đơn giản nhất là

9


đừng làm mẹ khóc – Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không”.
Lưu ý: câu mở đoạn phải có từ khóa :”đức hi sinh” . Câu kết phải rút ra bài
học hoặc chiêm nghiệm triết lý.
10


Đối với đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ.
Khi viết đoạn văn 200 chữ, thí sinh cần chú ý trình bày đúng quy tắc một
đoạn văn là không ngắt xuống dòng. Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3
tờ giấy thi, tương đương khoảng 20 dòng viết tay.
Học sinh nên linh hoạt lựa chọn hình thức đoạn văn phù hợp, có thể là
diễn giải, quy nạp, tổng phân hợp… Tuy nhiên, nên ưu tiên sự lựa chọn hình
thức tổng phân hợp để tạo ấn tượng về một văn bản hoàn chỉnh, độc lập, đầy
đặn.
Cần lưu ý nguyên tắc viết đoạn, tránh kể lể bàn luận lan man trùng lặp.
Phần mở đoạn và kết đoạn chỉ nên viết trong một câu ngắn gọn. Trong đó mở
đoạn giới thiệu vấn đề nghị luận, thân đoạn triển khai nội dung nghị luận, kết
đoạn viết về bài học cho bản thân…
Trong phạm vi một đoạn văn ngắn, chỉ nên chọn một dẫn chứng mang tính
tiêu biểu, điển hình và phù hợp làm nổi bật vấn đề nghị luận. Tuyệt đối tránh
kể chuyện lan man dông dài.
Ví dụ 1:
Chẳng hạn : Đề bài yêu cầu đọc hiểu về đoạn thơ trong Trường ca “Những
người đi tới biển” – Thanh Thảo, sau đó yêu cầu viết đoạn văn khoảng 200
chữ về trách nhiệm của thanh niên với đất nước.
Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
Tuổi hai mươi làm sao không tiếc?
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ Quốc?
(Trường ca “Những người đi tới biển” – Thanh Thảo)
Đoạn văn có các ý sau :

ngày nay, xu thế toàn cầu là xu thế hội nhập, khoa học kĩ thuật phát triển với
tốc độ cao, vậy thế hệ trẻ cần phải học tập tích lũy tri thức để góp phần phát
triển đất nước theo kịp thời đại, hội nhập với xu thế phát triển chung của quốc
tế. Bên cạnh đó, phải rèn luyện sức khỏe để có khả năng cống hiến và bảo vệ
đất nước. Đồng thời thanh niên cũng cần quan tâm theo dõi đến tình hình
chung của đất nước, tỉnh táo trước hành động của mình không bị kẻ xấu lợi
dụng. Về vấn đề chủ quyền biển đảo, thanh niên cần hưởng ứng và tích cực
các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên Internet,
khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời
kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi vi phạm xâm
phạm chủ quyền biển, hải đảo thiêng liêng của Tổ Quốc. Như vậy, xây dựng
và bảo vệ tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng của thanh niên nói riêng và của
mỗi con người Việt Nam nói chung.
12


Ví dụ 2:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới:
Người ta thường chia thời gian mỗi ngày thành ba phần: Tám giờ làm
việc, tám giờ ngủ và tám giờ nhàn rỗi, mặc dù không phải ai cũng có được tỉ
lệ đều đặn như thế. Hai tiếng "nhàn rỗi" gây cho ta ấn tượng tám giờ không
làm gì, có vẻ "vô thưởng vô phạt", không quan trọng. Kì thực thời gian nhàn
rỗi là cực kì quý báu. Đó là thời gian để mỗi người sống cuộc sống riêng của
mình. Đó là thời gian để đọc sách báo, tự học, xem ti vi, chơi thể thao, đàn
hát, nhảy múa, vẽ tranh, làm thơ, đi mua sắm, giao lưu với bạn bè, thăm viếng
những người ruột thịt,... Thời gian nhàn rỗi làm cho người ta giàu có hơn về
trí tuệ, tăng cường thêm về sức khỏe, phát triển thêm về năng khiếu, cá tính,
phong phú thêm về tinh thần, quan hệ. Thiếu thời gian nhàn rỗi, đời sống con
người sẽ nghèo nàn, thậm chí là không có cuộc sống riêng nữa!
Đánh giá đời sống của mỗi người cao hay thấp hãy nhìn vào thời gian

+ Nhưng xét về mặt tích cực, nhàn rỗi với những hình thức thư giãn lại thể
hiện chính nền văn hóa và sự phát triển của đất nước đó.
+ Câu nói khuyên chúng ta nên đưa ra những lựa chọn văn hóa để thời gian
nhàn rỗi không trở nên vô nghĩa.
+ Lí giải, chứng minh, phê phán hiện tượng trái với ý nghĩa câu nói:
+ Lí giải: Thời gian cuối tuần và những khi rảnh rỗi họ có thật nhiều sự lựa
chọn khác nhau: có thể ngồi nhâm nhi chút cà phê và đọc sách, đánh cờ, đi bộ
thư giãn ở công viên, thăm vườn bách thú đến bảo tàng nhà hát hay các câu
lạc bộ. Xã hội nào càng phát triển thì những hình thức thư giãn kể trên ngày
càng nhiều. Những thú vui của chúng ta khi rảnh rỗi thể hiện chính văn hóa
của bản thân. Có những người tiêu tốn thời gian của mình vào những việc vô
bổ như nghiện game online,, nghiện Facebook.
- Chứng minh: Trong một khảo sát của trang web Global WebIndex vào tháng
10/2014, Việt Nam đứng thứ 10 trong top 10 nước nghiện Facebook nhất thế
giới.
- Bác bỏ: Những thứ đó không những không giúp ta phát triển mà nó còn đưa
ta vào con đường của những sai lầm của mù quáng không thể bứt ra được, và
nó còn làm nền văn hóa của đất nước tụt hậu với sự kìm hãm của các tệ nạn
xã hội.
- Mở rộng: Ngược lại nếu con người ta có thói quen đọc sách, vui chơi khám
phá, hòa mình vào chăm sóc thiên nhiên, thì tâm hồn con người ta trở nên nhẹ
nhàng thanh thoát; có thời gian bên gia đình, chăm sóc gia đình sẽ gắn kết
tình cảm các thành viên hình thành nên một tổ ấm, một tế bào tốt của xã hội.
c. Kết đoạn: Tất cả những thói quen nhàn rỗi đó sẽ góp phần xây dựng, khẳng
định một xã hội văn minh, văn hóa.
Ví dụ 3:
Đọc ngữ liệu dưới đây và trả lời câu hỏi:
NHỮNG ĐIỂM SUY NGẪM VỀ ĐOÀN KẾT
Đoàn kết là sự hài hòa bên trong mỗi người và giữa các cá nhân trong
cùng một nhóm. Tình đoàn kết được xây dựng từ thái độ vô vị lợi, ánh nhìn sẻ

+ Mang đến tinh thần hợp tác; quy tụ được lực lượng lớn mạnh về trí tuệ, tài
năng
+ Khi được tôn trọng, tin tưởng, phát huy tối đa phẩm chất, năng lực, chúng
ta sẽ hứng khởi, lạc quan, tự nguyện tự giác tận tâm tận lực với công việc
chung
+ Khi cùng đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp,... toàn tâm toàn ý với công việc
chung, lí tưởng chung, chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc, sẽ có thêm động lực,
năng lượng để vượt mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
- Chứng minh: ngắn gọn, xác thực, tiêu biểu, thích hợp (thực tế đời sống, lịch
sử, văn học...).
- Mở rộng:
+ Nêu một số biện pháp xây dựng, phát huy tinh thần đoàn kết (có thể lấy ý
từ ngữ liệu hoặc đề xuất riêng của người viết).

15


+ Phê phán những cá nhân, tổ chức có biểu hiện trái với tinh thần đòan kết,
hợp tác.
+ Liên hệ bản thân.
c. Kết đoạn: Khẳng định chủ đề, nêu bài học nhận thức và hành động. [0,25]
Ví dụ 4:
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
"Cả một thế giới rộng lớn ngoài kia đang chờ bạn, mặc dù con đường tới
đó không hiện ra cho những ai chỉ muốn đi trên các lối mòn quen thuộc và
làm những công việc quen thuộc. Với những người này thì thế giới cũng chật
hẹp giống như những lối mòn quen thuộc của họ và công việc của họ cũng
hạn chế như những thói quen của họ vậy. Còn với những người tiên phong
quyết tâm đi trên những con đường mới và thử làm những cái mới với tinh
thần cầu tiến và chấp nhận thử thách, thế giới thật sự là một địa bàn rộng lớn

luận, cách nêu dẫn chứng, cách diễn đạt của đoạn văn, đồng thời thấy được
hạn chế trong cách làm bài của mình, từ đó mà các em rút ra bài học cho bản
thân.

17


- Cho học sinh đọc và nhận xét bài làm của nhau: chỉ ra được những thế mạnh
và hạn chế trong bài làm của bạn. Làm như thế các em có cơ hội đối chiếu bài
làm của bạn với của mình, tư đó biết cách tự đánh giá bài làm của mình.
2.3.4. Bài tập về nhà.
Để nâng cao kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh thì tự học là
biện pháp không thể thiếu đối với các em. Hình thức để nâng cao tinh thần tự
học cho học sinh là thầy cô cần giao bài tập về nhà với nhiệm vụ cụ thể, tránh
hiện tượng giao chung chung. Viết đoạn văn 7,8 dòng, đoạn văn 200 chữ với
các đề cụ thể theo chủ đề trong tháng đã quy định…
Sau khi giao bài tập về nhà giáo viên cần phải kiểm tra việc làm bài của
các em. Thầy cô nhận xét đánh giá và sửa lỗi cho các em, giúp các em hoàn
thiện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận đặc biệt đối với học sinh lớp 12 đạt
điểm cao trong kì thi THPT QG. Để làm tốt được công việc này đòi hỏi giáo
viên phải có sự kiên trì, có hình thức thưởng phạt hợp lí, sẽ kích thích được sự
hứng thú và cố gắng của các em hoàn thành tốt công việc của mình.
2.3.5. Kiểm tra và đánh giá.
Kiểm tra đánh giá là việc làm thường xuyên của các thầy cô trong các
tiết học. Các thầy cô có thể vận dụng linh hoạt trong khâu kiểm tra đánh giá
như kiểm tra kĩ năng viết đoạn văn của các em trong bài lấy điểm 15 phút,
hay vận dụng kiến thức để viết đoạn văn trong bài kiểm tra thường xuyên chứ
không nên máy móc, cứng nhắc ở một loại bài kiểm tra cụ thể nào…
Chấm, trả bài thực sự là một khâu quan trọng trong việc giúp các em
nhận ra những ưu nhược điểm của mình, và chính việc kiểm tra đánh giá của

văn, đặc biệt là đoạn văn nghị luận.
+ Bài làm được các em trình bày khoa học và hợp lí hơn. Hạn chế bớt lối viết
tự do, tuỳ tiện, lối trình bày rườm rà, luẩn quẩn, thiếu ý, sót ý.
2.4.2. Những kết quả cụ thể:
Có sự thay đổi qua các năm học như sau:
Năm học
2016- 2017

Lớp
12a5
12a7

Năm học
2017- 2018

Lớp

Học sinh biết cách
viết đoạn văn nghị
luận
40%
45%

Học sinh không
biết cách viết đoạn
văn nghị luận
60%
55%

Học sinh biết cách

25%
30%
Tỉ lệ hs yếu
10%
15%

Tỉ lệ hs
trung bình
55%
52%

Tỉ lệ hs khá trở
lên
20%
18%

Tỉ lệ hs
trung bình
65%
63%

Tỉ lệ hs khá trở
lên
25%
22%

19


2.4.3. Bài học kinh nghiệm.

Qua nghiên cứu đặc điểm học sinh trường THPT Hà Văn Mao, tôi mạnh
dạn áp dụng một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao kĩ năng viết đoạn văn
nghị luận cho học sinh. Đây là vấn đề không mới, đã bàn nhiều trong những
năm gần đây, song nó lại là vấn đề rất thiết thực đối với học sinh mà tôi đang
trực tiếp giảng dạy trong thời điểm hiện tại. Đặc biệt là đối với học sinh lớp
12 trong kì thi THPT QG sắp tới và những năm tiếp theo.
Trong quá trình áp dụng những giải pháp này tôi đã thu được những kết
quả khả quan đối với những lớp tôi được phân công giảng dạy. Đề tài sáng
kiến kinh nghiệm về "Một số kĩ năngviết đoạn văn nghị luận cho học sinh
Lớp 12 trong kì thi THPT QG ở trường THPT Hà Văn Mao" đã được tổ
chuyên môn góp ý, tôi tin rằng đề tài này sẽ được triển khai áp dụng trong tổ
bộ môn Văn, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong những năm tới.
Đây là một kinh nghiệm nhỏ của tôi trong quá trình giảng dạy, vì thế
không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến nhận xét,
đánh giá và góp ý của Hội đồng khoa học nhà trường cũng như các đồng
nghiệp để đề tài từng bước hoàn chỉnh và áp dụng có hiệu quả hơn nữa.
Xin chân thành cảm ơn !

Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Bá Thước, ngày 04 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh
nghiệm này do tôi tự viết, không sao
chép nội dung của người khác
Người thực hiện
Bùi Văn Quỳnh

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status