RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 9 - Pdf 34

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU,ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

-Tên sáng kiến kinh nghiệm:
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN
CHO HỌC SINH LỚP 9

Trang 1


BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1.Lời giới thiệu:
Trong quá trình trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn THCS,tôi nhận thấy phân
môn Tập làm văn đối với học sinh là phần quan trọng và khó bởi qua nội dung
này sẽ giúp các em tạo lập văn bản.Trong phần tập làm văn,phần Nghị luận văn
học sẽ giúp các em hình thành,phát triển khả năng lập luận chặt chẽ,trình bày
những lí lẽ,dẫn chứng giàu sức thuyết phục khi bày tỏ ý kiên của mình về một
tác phẩm văn học nào đó.
Nhưng đối với học sinh THCS thì kĩ năng viết văn của các em còn nhiều hạn
chế như: bài viết rời rạc,khô khan,dùng câu từ chưa chính xác,bố cục chưa rõ
ràng,lập luận chưa có sức thuyết phục,vốn từ nghèo nàn nên diễn đạt lủng
củng,tối nghĩa,mắc lỗi chính tả….
Xuất phát từ thực trạng trên, bản thân tôi xin nêu một vài ý kiến kinh nghiệm
trong quá trình giảng dạy với mục đích trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp qua
sáng kiến: “Rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh lớp 9”.Với phạm
vi của sáng kiến kinh nghiệm ,tôi xin tập trung vào kiểu bài rèn luyện cho học
sinh kĩ năng viết bài văn nghị luận về tác phẩm văn học.
2. Tên sáng kiến: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN CHO
HỌC SINH LỚP 9.
3. Tác giả sáng kiến:

- Có phương pháp dạy lí thuyết Tập làm văn nghị luận văn học, chú trọng
cách làm bài, hướng nhiều vào việc thực hành để rèn luyện kĩ năng cho các em:
Kĩ năng phân tích đề, kĩ năng tìm ý, lập dàn ý, kĩ năng viết đoạn, kĩ năng liên
kết đoạn văn.
-Hướng dẫn học sinh cảm thụ tốt văn bản ,vận dụng tốt kiến thức tiếng
Việt để chuẩn bị tốt cho việc viết bài Tập làm văn .
- Khi dạy học sinh về thể văn nghị luận văn học, giáo viên cần chú trọng
cho học sinh khai thác cái đẹp, cái hay của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật,
thấy được chiều sâu tư tưởng của tác giả gửi gắm vào đấy để từ đó giúp học sinh
có kĩ năng sống phù hợp với xã hội hiện đại, sống có trách nhiệm với mọi người,
biết rung động cảm thụ để lĩnh hội kiến thức cơ bản.
- Người giáo viên cần giúp học sinh xác định được trọng tâm kiến thức để
học sinh nắm được vấn đề đặt ra trong tác phẩm mà từ đó có cách viết, cách thể
hiện cảm xúc của mình khi tạo lập văn bản.
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quy trình thực hành một bài viết về
nghị luận tác phẩm văn học: từ khâu mở bài, thân bài đến kết bài, từ nghị luận
được một câu thơ đến hai câu thơ rồi đến cả đoạn, các đoạn rồi viết thành bài, để
từ đó giáo viên nâng dần kĩ năng viết văn cho các em.
-Thực hiện tốt việc ra đề, chấm bài, thực hiện tốt và coi trọng tiết trả bài
7.2.2 . Đối với học sinh :
- Để viết tốt, viết hay, giáo viên cần giúp học sinh có ý thức yêu thích học
bộ môn Ngữ văn để từ đó các em có tâm thế, có thái độ tốt khi chiếm lĩnh tri
thức của tác phẩm văn học.
- Học sinh cần chuẩn bị tốt bài ở nhà, đọc kĩ văn bản, thuộc dẫn chứng,
nắm chắc kiến thức, nắm cách làm bài, viết bài, biết viết câu hay, ý hay qua quá
trình hướng dẫn rèn luyện kĩ năng thực hành của thầy cô giáo. Học sinh biết
sáng tạo khi làm bài, biết xây dựng đoạn, liên kết đoạn, biết xây dụng bố cục
mạch lạc, rõ ràng, chặt chẽ.
- Đọc sách báo để mở rộng kiến thức,nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt
Trang 3

Do đặc điểm của môn Ngữ văn, học sinh phải tự học, tự tìm tòi là chính.
Chuẩn bị bài, đọc tác phẩm, xem chú thích, trả lời các câu hỏi ở sách giáo khoa,
tham khảo sách, vận dụng kiến thức cũ. Về nhà suy ngẫm, chiêm nghiệm, làm
phong phú cho nhận thức của mình… Đây cũng chỉ là cách học thích hợp cho
học sinh khá, giỏi nhưng đối với học sinh trung bình trở xuống thì các em khó
thự hiện được như thế.
Do đó, giáo viên cần tập trung chỉ cho học sinh không những biết cách
học mà còn biết cách làm bài. Từ khâu tìm hiểu đề, tìm ý – lập dàn bài – viết bài
(cách tổ chức triển khai luận điểm thành đoạn văn). Trong các khâu ấy, học sinh
cần nắm được kĩ năng viết đoạn văn.
7.4.2. Đối với giáo viên:
Cần định hướng trong việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong việc viết
đoạn văn ở từng phần khi làm bài nghị luận văn học. Trong các khâu tự tìm
Trang 4


hiểu đề cho đến viết bài, học sinh yếu – kém thường bỏ qua khâu tìm hiểu đề,
tìm ý, lập dàn ý. Cho nên đọc xong đề là các đối tượng học sinh này bắt tay vào
việc làm bài ngay. Do đó, giáo viên cần cho học sinh hiểu cách trình bày khi đọc
xong đề. Xem đề bài yêu cầu phân tích hay suy nghĩ, cảm nhận mà từ đó có định
hướng khi làm bài. Giáo viên phải cho học sinh hiểu và nắm được yêu cầu của
đề bài.
7.5. Hướng dẫn học sinh các bước chuẩn bị cho viết bài văn :
7.5.1.Tìm hiểu đề và tìm ý :
a. Hướng dẫn tìm hiểu đề :
Đề bài nghị luận không bao giờ đồng nhất một dạng đề đơn điệu, thường có
ba dạng cơ bản sau :
* Kiểu bài phân tích: Nói tới phân tích tức là nói tới việc mổ xẻ, chia tách đối
tượng ra thành các phương diện, các bộ phận khác nhau để tìm hiểu, khám phá,
cắt nghĩa. Cái đích cuối cùng là nhằm để tổng hợp, khái quát, chỉ ra được sự

nghiệp sáng tác? Có nét riêng gì về phong cách cá nhân ?
-Tác phẩm được trích từ đâu ?Sáng tác trong hoàn cảnh nào ? Tác phẩm được
đánh giá như thế nào?
( ? ). Câu hỏi tìm hiểu giá trị nội dung :
-Đề bài gồm mấy ý? Ý nghĩa cụ thể và khái quát là gì? Ý nào tập trung thể hiện
chủ đề, tư tưởng của tác phẩm? Có giá trị nhân văn như thế nào ?
-Nhân vật chính của truyện ?Nhân vật ấy đại diện cho tầng lớp nào? Có nét tính
cách nào nổi bật? Nét tính cách ấy được thể hiện như thế nào?
-Cảm xúc chủ yếu được thể hiện qua từng đoạn thơ, khổ thơ? Cảm xúc ấy được
biểu hiện như thế nào?
(? ) .Câu hỏi tìm hiểu giá trị nghệ thuật :
-Tác phẩm được viết theo phong cách nào? Có nét gì sáng tạo trong nghệ thuật?
-Tác phẩm đó có tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả không ?
( ? ).Câu hỏi gợi mở những hướng xem xét mới:
-Có thể so sánh với tác giả ,tác phẩm nào để phân tích tác phẩm được sâu rộng?
-Tác phẩm có ảnh hưởng tích cực như thế nào đối với thời đại (cuộc sống).
* Với ngần ấy câu hỏi,giáo viên không thể nào giảng giải một cách cặn kẽ, tỉ mỉ
trong quá trình phân tích một đề bài trên lớp. Do đó, đòi hỏi giáo viên phải biết
lựa chọn những câu hỏi tìm ý cho phù hợp để từ đó kích thích hứng thú ,tư duy
làm bài của các em được sau sắc và tinh tế nhất.
7.5.2. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý :
- Lập dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước tìm ý theo một trình tự hợp lí và
xác định mức độ trình bày mỗi ý theo tỉ lệ thỏa đáng giữa các ý. Có thể hướng
dẫn học sinh sắp xếp các ý theo trình tự nội dung đến nghệ thuật rồi rút ra nhận
xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân (thường dành cho tác phẩm truyện). Có thể
đan xen giữa nội dung, nghệ thuật và nhận xét, đánh giá, suy nghĩ ( thường dành
cho tác phẩm thơ). Dàn bài nghị luận về tác phẩm văn học thường theo trình tự:

a. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm(đoạn trích), nêu ý kiến đánh giá nhận xét sơ
bộ của mình.

Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồn cùng gió khơi.
Giáo viên tâp cho học sinh phân tích câu thơ thứ nhát, rồi đến câu thơ thứ
hai. Phân tích một lượt hai câu (một và hai). Trong khi hướng dẫn học sinh phân
tích lưu ý cho học sinh không thể cắt ngang câu 3 vì câu thơ thứ 3 và câu thứ 4
cùng nói về hoàn cảnh đoàn thuyền ra khơi, còn câu 1 và 2 là cảnh thiên nhiên
khi đoàn thuyền ra khơi. Cho nên để tách thành các ý nhỏ chỉ cắt câu thơ 1 và 2
ở khổ thơ trên.
Phân tích nghệ thuật cũng là nhằm biểu đạt nội dung, một ý tưởng nào
đấy mà tác giả muốn gửi gắm.
Lưu ý là tránh diễm nôm các câu thơ thành văn xuôi. Khi tiến hành diễn
thành văn xuôi, thuật lại ý, tứ của câu chỉ trong trường hợp cái ý, tứ ấy rất mơ
hồ, mỗi người hiểu một cách khác nhau.
7.7. Hướng dẫn viết cụ thể ở từng phần trong bài văn nghị luận :
Trang 7


7.7.1. Cách viết phần mở bài:
Giáo viên trình bày quy trình ở đoạn văn phần mở bài về nhân vật văn học
và về đoạn thơ, bài thơ để học sinh nhận biết qua đối chiếu sau:
Về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

Về đoạn thơ, bài thơ

(1) Giới thiệu tác giả -> (2) Tên tác
phẩm -> (3) Thời điểm, hoàn cảnh
sáng tác -> (4) Nhân vật chính -> (5)
Nêu ý kiến, đánh giá sơ bộ của mình

hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, anh thanh niên vẫn hiện lên trong lòng người đọc
với bao vẻ đẹp đáng yêu, đáng khâm phục. (Câu cuối có thẻ viết: Anh thanh
niên nỏi bật những phẩm chất tốt đẹp của con người trong giai đoạn xây dựng
chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ).
+ Đối với kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ :
Đề : Phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Trang 8


Hữu Thỉnh vốn rất gắn bó với cuộc sống nông thôn. Ông có nhiều bài thơ
hay về con người và cuộc sống nông thôn, về mùa thu. Bài thơ “Sang thu” được
Hữu Thỉnh sáng tác gần cuối năm 1977, giới thiệu lần đầu tiên trên báo Văn
nghệ. Bài thơ là những cảm nhận, suy tư của nhà thơ về sự biến chuyển của đất
trời từ hạ sang thu.
Đề : Phân tích bài thơ “Ánh trăng’’ của Nguyễn Duy.
Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến
chống Mĩ. Vừa mới xuất hiện nhưng Nguyễn Duy đã nổi tiếng với bài thơ “Tre
Việt Nam ”. Bài thơ “Hơi ấm ổ rơm’’ của anh đã từng đoạt giải thưởng báo văn
nghệ. Hiện nay, Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác. Anh viết đều và khỏe. “ Ánh
trăng’’là một trong những bài thơ của anh được nhiều người ưa thích bởi bài thơ
có tìn cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ, mới lạ.
Từ các đề trên, giáo viên cho học sinh đối chiếu với phần mở bài ở tùng kiểu
bài thì học sinh dễ dàng viết đoạn mở bài. Cách mở bài này dành cho đối tượng
học sinh từ trung bình trở xuống.
7.7 2. Cách viết phần thân bài:
a. Đối với kiểu bài Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc trích:
Giáo viên hướng cho học sinh viết đoạn theo cách trình bày nội dung
đoạn văn theo lối diễn dịch hoặc quy nạp. Giáo viên cho học sinh nắm cách trình
bày nội dung diễn dịch hoặc quy nạp bằng sơ đồ để học sinh dễ nhận biết hơn.
+ Diễn dịch:

Câu (1) là câu chủ đề luận điểm
Câu (2) là câu chuyển để đưa dẫn chứng
Câu (3), (4) là dẫn chứng gián tiếp từ tác phẩm
Câu (5) và (6) là những câu phân tích, nhận xét từ dẫn chứng

của người viết.
Ví dụ 2: Vẻ đẹp của Phương Định được toát lên qua lời tự đánh giá
và nhận xét về mình. Là cô gái Hà Nội vào chiến trường cũng như các cô gái
mới lớn Phương Định nhạy cảm và quan tâm đến hình thức của mình ,nhưng cô
lại không hay biểu lộ tình cảm mà tỏ ra kín đáo đến kiêu kì. Cô tự đánh giá: “Tôi
là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc
dày, tương đối mềm , một cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Con mắt tôi
thì các anh lái xe bảo tôi có cái nhìn xa xăm” Cô biết mình được nhiều người
nhất là các anh lính để ý và có thiện cảm . Điều đó làm cô thấy vui và tự hào
nhưng cô chưa dành tình cảm cho ai. Như vậy:
Câu (1) là câu chủ đề luận điểm
Câu (2) là câu chuyển để đưa dẫn chứng
Câu (3), (4) là dẫn chứng gián tiếp từ tác phẩm
Câu (5) và (6) là những câu phân tích, nhận xét từ dẫn chứng của người viết.
Cái khó là học sinh không biết phân tích, nhận xét nên giáo viên cho học
sinh đặt câu hỏi để trả lời. như: Vì sao anh lại giới thiệu những con người khác ở
Sa Pa? Anh nghĩ điều gì mà giới thiệu như vậy? Học sinh trả lời đúng, nghĩa là
học sinh đã biết nhận xét, đánh giá.
*Quy nạp là cách trình bày ngược với cách diễn dịch. Giới thiệu cách quy
nạp để học sinh biết và viết đúng nhằm thay đổi thao tác lập luận trong khi làm
bài.
Học sinh xác định được đặc điểm, tính cách của nhân vật theo trình tự
diễn biến của truyện thì học sinh lần lượt viết được đoạn văn ở phần thân bài.
( Nếu học sinh trung bình thì nên viết theo cách diễn dịch )
b. Đối với kiểu bài : Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”

(3) Nhà thơ muốn làm con chim hót để làm vui cho cuộc đời, muốn làm
một cành hoa để khoe sắc và tỏa ngát hương thơm làm đẹp cuộc đời, muốn làm
một nốt trầm trong bản hòa ca đẻ làm tăng ý nghĩa cuộc đời. (4) Nhà thơ đã
dùng những hình ảnh đẹp của tự nhiên như bông hoa, con chim,một mùa xuân
nho nhỏ… để nói lên ước nguyện của mình. Những hình ảnh ấy được lặp lại,
trở lại mang một ý nghĩa mới: niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến có
ích cho đời. Cũng trong thời gian này, nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Một
khúc xuân” những suy ngẫm tưng tự:
Trang 11


Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.
Nét riêng trong những câu thơ của Thanh Hải là ở chỗ nó đề cập đến một
vấn đề lớn nhân sinh quan – vấn đề ý nghĩa của đời sống cá nhân trong mối quan
hệ với cộng đồng – một cách thiết tha, nhỏ nhẹ, khiêm nhường được thể hiện
qua những hình tượng đơn sơ mà chưa đựng nhiều xúc cảm.
(4’) Nếu khi bắt đầu vào bài thơ, nhà thơ xưng tôi “Tôi đưa tay tôi hứng”
thì giờ đây, tác giả đã chuyển sang ta. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Với

níu lấy tay cha, lúc thì sà vào lòng mẹ. Điệp ngữ “bước tới” gợi bước chân chập
chững của đưa con, sự mong chờ, vui mừng đón nhận của đôi vợ chồng trẻ. Nhà
thơ đã tạo một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt, hạnh phúc.
Ví dụ 3 : Phân tích khổ thơ :
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Nguyễn Duy – Ánh trăng)
Viết đoạn: Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều
sâu tư tưởng triết lí:
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
“Tròn vành vạnh” là trăng rằm, tròn đầy, một vẻ đẹp viên mãn. “Im phăng
phắc” là im như tờ, không một tiếng động nhỏ. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng
lẽ “kể chi người vo tình”. “Trăng cứ tròn vành vạnh” như tượng trưng cho quá
khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, cho sự bao dung độ lượng, của
nghĩa tình thủy chung trọn vẹn. “Ánh trăng im phăng phắc” là hình ảnh nhân
hóa, chính là người bạn – nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở
nhà thơ (và cả mỗi chúng ta). Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng
thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn luôn tròn đầy, bất diệt.
7.7.3 .Cách viết phần kết bài:
Theo sách giáo khoa phần kết bài ở mỗi kiểu bài như sau:
Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích): Nhận định đánh giá chung
của mình về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ bài
thơ. Phần này giáo viên cần cụ thể hơn để học sinh hiểu:
a. Đối với kiểu bài : Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích):

thiêng liêng,sáng ngời nó được gắn bó với tình yêu Tổ Quốc.
Ví dụ 3: Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm Lặng
lẽ Sa pa :
- Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa đã gợi lên
trong lòng người đọc về vẻ đẹp và ý nghĩa của những công việc thầm lặng, cống
hiến sức mình cho công cuộc xây dựng đất nước
b. Đối với kiểu bài : Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
+ Khái quát giá trị, ý nghĩa: có thể về nghệ thuật, nội dung hoặc vị trí của đoạn
thơ, bài thơ trong dòng văn học ấy.
+ Hoặc rút ra ý nghĩa giáo dục.
Ví dụ 1: Phân tích bài thơ “Nói với con” cuả Y Phương.
Bằng từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm, nhà thơ thể hiện tình cảm gia
đình đầm ấm, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và
dân tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một
dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó truyền thống, với quê hương và ý chí
vươn lên trong cuộc sống.
Trang 14


* Những nội dung trong phần kết bài chỉ là định hướng, không bắt buộc
phải trình bày đầy đủ khi viết bài. Giáo viên lưu ý cho học sinh, khi hết giờ làm
bài có thể trình bày ngắn gọn về cảm nhận của mình về nhân vật (đoạn thơ, bài
thơ) cũng được.
Ví dụ 2 :

Cảm nhận của em về bài thơ Sang thu ( Hữu Thỉnh )

- Thơ ca Việt Nam có những câu thơ, bài thơ hay viết về mùa thu. Đến
lượt mình, Hữu Thỉnh lại làm cho mùa thu có một hương sắc mới.
Ví dụ 3 : Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ ( Thanh Hải)


Không.
Trang 15


9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Phòng học,bảng,bàn ghế,học sinh…
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến :
10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
-Số học sinh khá và giỏi tăng lên,số học sinh trung bình và yếu giảm đáng
kể,đặc biệt là tỉ lệ học sinh yếu -ở lớp khá hơn(9A) không còn.
-Nhờ có việc đổi mới phương pháp dạy và học nên chất lượng bài viết văn nghị
luận của học sinh được nâng cao:
-Đa số bài làm của các em đáp ứng yêu cầu của đề về nội dung và thể loại .
-Nắm vững hơn về phương pháp làm bài văn nghị luận (đặc biệt là nghị luận về
tác phẩm văn học).
-Biết xây dựng luận điểm,trình bày luận cứ rõ ràng,trình tự, thuyết phục.
-Học sinh yêu thích học văn hơn.
-Nhiều em tránh được lỗi diễn đạt rườm rà,không rõ ràng .
* KẾT QUẢ KHẢO SÁT HỌC TẬP CỦA HỌC SINH (TRƯỚC KHI
THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM )
KẾT QUẢ XẾP LOẠI
Giỏi

Trung
bình

Khá

3,84

6

23,1

15

57,6

4

15,3

9D

25

2

8

8

32

13

52



%

TS

%

9A

33

6

18,1

16

48,4

11

33,3

0

0

9D

28

trong phương pháp dạy học mới hiện nay.
Kinh nghiệm trên là rút từ thực tế khi hướng dẫn học sinh trong giảng dạy
và tiếp tục hướng dẫn học sinh kĩ năng làm bài văn nghị luận. Kinh nghiệm đã
giúp học sinh có kĩ năng làm bài, gỡ bí cho học sinh, đã từng bước nâng cao
chất lượng học tập của học sinh ở bộ môn Ngữ văn 9 .
Tuy nhiên, đó chỉ là kinh nghiệm mang tính chất chủ quan, rất mong sự
đóng góp ý kiến, trao đổi, bổ sung của bạn đồng nghiệp. Tôi xin trân trọng cảm
ơn!
11. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp
dụng sáng kiến lần đầu:
Số Tên tổ chức/cá nhân
TT

Địa chỉ

Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến

1 Tạ Thu Hương

Trường THCS Lũng Hòa.

Viết văn nghị luận cho
HS lớp 9

2 Đinh Thị Thuận

Trường THCS Lũng Hòa.

Viết văn nghị luận cho

Trang 19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status