PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong bối cảnh hiện nay, để đáp ứng yêu cầu xã hội, quá trình dạy học
đặc biệt chú ý đến tăng cường tính độc lập, tự lực trong học tập của người
học.
Để thực hiện được quá trình ấy, toàn ngành giáo dục đang nỗ lực thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học, “ phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học,
bồi dưỡng phương pháp dạy học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho
học sinh” (Luật Giáo dục 2005).
Quá trình dạy học hiện nay cần phải tích cực hoá các hoạt động của
học sinh, khơi dậy cho các em tính khao khát, tìm tòi, nghiên cứu, cố gắng
phát huy trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức.
Để giáo dục thế hệ trẻ trở thành những con người “Năng động sáng
tạo – Có năng lực giải quyết vấn đề”, đòi hỏi mỗi nhà trường, mỗi giáo
viên phải có những bước chuyển biến rõ nét trong việc cải tiến phương
pháp dạy và học. “ Từng bước áp dụng các phương pháp hiện đại vào quá
trình dạy học...”(Nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII).
- Hiện nay, trong chương trình đổi mới sách giáo khoa Địa lí lớp 9 gồm có 52 tiết học thì đã có 11 tiết thực hành (chiếm 21,15% tổng số tiết
học), trong đó có 6 tiết về vẽ biểu đồ hoặc liên quan đến biểu đồ hành
(chiếm 11,53% tổng số tiết học) và khoảng 15 bài tập về rèn luyện kỹ năng
vẽ và nhận xét biểu đồ sau các bài học của học sinh trong phần câu hỏi và
bài tập sách giáo khoa.
Điều đó chứng tỏ rằng bộ môn Địa lí lớp 9 hiện nay không chỉ chú
trọng đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức lí thuyết mà còn giúp
các em rèn luyện những kỹ năng địa lí cần thiết, đặc biệt như kỹ năng vẽ
1
biểu đồ. Bởi thông qua biểu đồ các em đã thể hiện được mối liên hệ giữa
kiến thức sinh động và phong phú, hấp dẫn về các vấn đề dân cư, kinh tế xã hội của Việt Nam, cũng như các vùng kinh tế riêng, dễ kích thích tính tò
mò ham hiểu biết của học sinh, tạo điều kiện cho việc hình thành động cơ,
nhu cầu nhận thức cũng như hứng thú học tập của học sinh.
Đồng thời với các kiến thức lí thuyết, như đã nói ở trên, còn có các
bài tập rèn luyện kĩ năng vẽ các dạng biểu đồ.
1.1: Khái quát về biểu đồ.
Biểu đồ là một hình vẽ có tính trực quan cao, cho phép mô tả:
- Động thái phát triển của một hiện tượng địa lý như “biểu về tình
hình phát triển dân số của nước ta qua các năm…”
- Thể hiện quy mô, độ lớn của môt đại lượng nào đó như “ biểu đồ
diện tích gieo trồng cây công nghiệp lâu năm và hàng năm…”
- So sánh tương quan về độ lớn giữa các đại lượng như “biểu đồ về
mức lương thực trên đầu người một năm của cả nước, ĐB sông Hồng và
ĐB sông Cửu Long…”
- Thể hiện tỉ lệ cơ cấu thành phần trong một tổng thể hoặc nhiều tổng
thể có cùng một đại lượng, như “Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp”
- Thể hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu các thành phần qua một số
năm “Biểu đồ cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế từ năm 1996 đến năm
2002 của nước ta”
Trong môn học địa lý, có thể nói, biểu đồ là một trong những ngôn
ngữ đặc thù của khoa học địa lý - ngôn ngữ đã được mã hóa. Chính vì vậy,
kĩ năng thể hiện biểu đồ đã trở thành một yêu cầu không thể thiếu đối với
việc dạy và học địa lý.
Kĩ năng vẽ biểu đồ địa lí của học sinh lớp 9 còn yếu, thường thì các
em không xác định được loại biểu đồ thích hợp và kĩ năng vẽ biểu đồ nói
3
chung cũng như phân biệt giữa biểu đồ hình tròn và biểu đồ miền nói riêng.
trình, động thái phát triển của một hiện tượng qua thời gian.
- Biểu đồ miền: được sử dụng để thể hiện đồng thời cả 2 mặt cơ cấu và
động thái phát triển của đối tượng.
- Biểu đồ kết hợp: thường gồm một biểu đồ hình cột và một đường
biểu diễn, để thể hiện động lực phát triển và tương quan về độ lớn giữa các
đại lượng.
Mỗi loại biểu đồ lại có thể được dùng để biểu hiện nhiều chủ đề khác
nhau, vì vậy, khi vẽ biểu đồ, việc đầu tiên là phải đọc kỹ đề bài để tìm hiểu
chủ đề định thể hiện trên biểu đồ (thể hiện động thái phát triển, so sánh
tương quan độ lớn hay thể hiện cơ cấu), sau đó căn cứ vào chủ đề đã được
xác định để lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất.
1.3: Các bước cần tiến hành khi vẽ biểu đồ.
Trước khi làm một bài tập thực hành về vẽ biểu đồ, giáo viên cần
hướng dẫn cho học sinh tiến hành các thao tác, các bước, các công việc cụ
thể để hoàn thành yêu cầu của bài thực hành.
Thông thường gồm 4 bước sau:
Bước 1: Nêu mục đích, yêu cầu của bài tập.
VD: Vẽ biểu đồ cơ cấu kinh tế nước ta.
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành các thao tác, các
bước, các công việc cụ thể thùy thộc vào nội dung bài tập.
VD: Phải xử lý số liệu thích hợp trước khi vẽ biểu đồ, chọn biểu đồ
thích hợp với chuỗi số liệu, các bước cần thiết khi vẽ một dạng biểu đồ cụ
thể.
Bước 3: Học sính thực hiện các công việc theo sự hướng dẫn của giáo
viên.
Bước 4: Tổng kết, đánh giá.
5
Tổng số
356
187
169
1
17
Trường THCS Đồng Thịnh đóng trên địa bàn xã Đồng Thịnh- huyện
Khối lớp
Tổng số
Nam
Nữ
Sông Lô- Tỉnh Vĩnh Phúc.
Do đặc trưng là nhà trường của xã nông thôn, học sinh chủ yếu là con
em nông nghiệp. Năm học 2014 - 2015, toàn trường có 16 lớp với tổng số
356 học sinh và 36 đồng chí cán bộ giáo viên, nhân viên. Trong những năm
gần đây dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp, ban ngành lãnh đạo và bằng sự
nổ lực cố gắng không ngừng của tập thể giáo viên và học sinh toàn trường,
nhà trường đã nhận được không ít những thành tích. Trường được công
nhận trường chuẩn Quốc Gia tháng 11 Năm 2009. Trong tập thể giáo viên
có nhiều thầy giáo, cô giáo nhiều năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua
và giáo viên giỏi cấp cơ sở, có nhiều học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh,
trong đó có nhiều em đạt giải cao không thua kém so với học sinh các
trường trung tâm về các môn: Thực hành Vật Lý, Hóa học, Sinh học,
TDTT,.....
2. 2: Những thuận lợi.
Trong giờ học thực hành địa lí, các tiết học vẽ biểu đồ nói chung và vẽ
đa phần các em thực hiện vẫn còn chậm, khiến cho việc so sánh, đánh giá
kết quả giữa các tổ, nhóm hoặc cá nhân với nhau còn rất hạn chế, ảnh
hưởng nhiều tới thời gian hoàn thành bài tập của học sinh.
7
- Một số học sinh chưa có ý thức chuẩn bị tốt các đồ dùng học tập như
thước kẻ, bút chì, compa, hộp màu… coi nhẹ yêu cầu của bài thực hành nên
cũng ảnh hưởng nhiều tới các bài tập về vẽ biểu đồ như: hình vẽ chưa đẹp,
vẽ chưa chuẩn xác.
- Khi giáo viên hướng dẫn các bước tiến hành, một số học sinh vẫn
chưa chú ý dẫn đến các em lúng túng khi tiến hành các thao tác: ví dụ cách
xử lý số liệu hoặc cách chọn tỷ lệ.
- Thời gian một bài thực hành khá ngắn, khoảng có 45 phút, nhưng có
rất nhiều các bước cần thực hiện, nên giáo viên bị hạn chế rất nhiều về thời
gian để sủa chữa uốn nắn cho các em nhất là học sinh yếu.
- Trong thực tiễn, đa số học sinh có xu hướng xem nhẹ môn Địa Lí
và cho rằng đây là môn phụ, học thuộc lòng không cần đầu tư suy nghĩ
nhiều nên các em thờ ơ với môn học, học mang tính chất đối phó. Chính vì
vậy một số học sinh chưa biết đọc bản đồ, khai thác các bảng số liệu…, nói
chung kĩ năng địa lí của học sinh còn yếu.
3: Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
3. 1: Rèn luyện kĩ năng đọc bảng số liệu.
- Bảng số liệu của yêu cầu khi khi vẽ biểu đồ miền thường có nhiều
năm ( từ 04 năm trở lên ) và có nhiều đối tượng địa lí hoặc yếu tố địa lí
( thường có từ 02 đối tượng địa lí hoặc từ 02 yếu tố địa lí trở lên ). Đây là
nguồn tri thức Địa lí quan trọng đã được mã hóa.
Qua bảng số liệu, ta có thể thấy được động thái phát triển của từng
yếu tố Địa lí cũng như cơ cấu của các nhóm yếu tố đó.
100
29,9 27,2 25,8
25,4
23,3 23,0
23,8
28,9 28,8 32,1
34,5
38,1 38,5
35,7
41,2 44,0 42,1
40,1
38,6 38,5
Nông - lâm - ngư nghiệp 40,5
Công nghiệp xây dựng
Dịch vụ
100
100
100
Nông - lâm - ngư nghiệp 40,5
29,9 27,2 25,8
25,4
23,3 23,0
Công nghiệp xây dựng
23,8
28,9 28,8 32,1
34,5
38,1 38,5
Dịch vụ
35,7
41,2 44,0 42,1
40,1
nhằm tìm ra kiến thức mới.
3.3: Kĩ năng vẽ biểu đồ.
a. Nhận dạng biểu đồ miền:
Những căn cứ để xác định vẽ biểu đồ miền:
- Khi đề bài yêu cầu cụ thể: “ Em hãy vẽ biểu đồ miền...”
- Khi đề bài xuất hiện các cụm từ: “ thay đổi cơ cấu”; “chuyển dịch
cơ cấu”; “ thích hợp nhất để chuyển dịch cơ cấu...”
- Khi đề bài xuất hiện cụm từ “ cơ cấu” nhưng có từ 4 năm và 2 đối
tượng địa lí ( hoặc yếu tố địa lí ) trở lên.
Ví dụ 3: Cho bảng số liệu về số dân thành thị, nông thôn nước ta trong thời
gian 1990 - 2005.
(Đơn vị nghìn người.)
Năm
1990 1993 1995 1997 1999 2000 2001 2005
Tổng số 66016,7 69644,5 71995,5 74306,9 76596,7 77635,4 78685,8 82032,3
Thành thị 12880,3 13961,2 14938,1 16835,4 18081,6 18805,3 19481 21591,2
Nông thôn 53136,4 55488,9 57057,4 57471,5 58514,7 58830,1 59204,8 60441,1
Vẽ biểu đồ thể hiện rõ nhất sự thay đổi cơ cấu số dân thành thị và nông thôn
ở nước ta trong thời gian nói trên.
* Trong ví dụ trên, ta vẽ biểu đồ miền vì:
- Xuất hiện cụm từ: “ thể hiện sự thay đổi cơ cấu ”.
- Có 8 năm ( lớn hớn 4 năm - như cách nhận dạng) là: 1990; 1993;
1995; 1997; 1999; 2000; 2001; 2005.
- Có 2 yếu tố địa lí:
+ Số dân thành thị.
+ Số dân nông thôn.
11
% CCN lâu năm = 100 - 19.5 = 80.5 %.
+ Các năm khác ta cũng lần lượt làm như vậy.
( Khi xử lí số liệu, ta có thể làm tròn số liệu sau dấu phấy (,) như quy định
trong toán học ).
- Điền số liệu % đã xử lí vào bảng số liệu:
Bảng cơ cấu số dân thành thị và nông thôn nước ta trong thời gian
1990 - 2005. ( Đơn vị: % )
Năm
1990 1993 1995 1997 1999 2000 2001 2005
Thành thị 19,5 20,0 20,7 22,7 23,6 24,2 24,8 26,3
Nông thôn 80,5 79,7 79,3 77,3 76,4 75,8 75,2 73,7
12
c. Vẽ biểu đồ:
Biểu đồ miền là dạng biểu đồ vừa bao gồm đồ thị vừa bao gồm biểu
đồ cột chồng 100 % (cột cơ cấu) nhưng thể hiện rõ rệt hơn, về tình hình
phát triển của từng nhóm ngành kinh tế.
Lưu ý: Biểu đồ miền khi vẽ có khác so với biểu đồ đồ thị ở những
điểm sau:
- Dùng số phần trăm ( % ) ( vì diễn tả cơ cấu ), đôi khi người ta cũng
dùng số liệu tuyệt đối ( số thực ).
- Trục đơn vị bằng 100% và được đóng khung chữ nhật.
- Yếu tố đầu tiên vẽ giống như đồ thị, yếu tố thứ hai thì khác: ta vẽ lên
trên bằng cách cộng số liệu của yếu tố thứ hai với yếu tố thứ nhất, rồi mới
dựa vào kết quả đó ta lấy mức số lượng ở trục tung. Vì thế hai đường của
biểu đồ miền không bao giờ cắt nhau (ở dạng đồ thị thì có thể cắt nhau) .
- Số ghi trên biểu đồ giống cách ghi ở biểu đồ cột chồng (ghi ở
khoảng giữa miền)
e. Giải thích:
Dựa vào kiến thức đã học để giải thích, dựa trên các mối liên hệ Địa
lí.
14
Ví dụ 6:
Từ các ví dụ 3 và 4, sau khi vẽ biểu đồ, ta nhận xét và giải thích như
sau:
+ Nhận xét:
* Nếu nhận xét về cơ cấu:
Cơ cấu dân số nông thôn và thành thị ở nước ta trong giai đoạn 1009 2005 có nhiều biến động:
- Tỉ lệ dân số thành thị tăng nhanh, từ 19.5% lên 26,3%, tăng 6,8%.
- Tỉ lệ dấn số nông thôn giảm từ 80.5% xuống 73.7%, giảm 6,8%.
- Tuy nhiên trong cơ cấu dân số nông thôn và thành thị thì tỉ lệ dân số
nông thôn vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất.
* Nếu nhận xét cả về cơ cấu và sô dân thì ta nhận xét:
+ Về cơ cấu:
Cơ cấu dân số nông thôn và thành thị ở nước ta trong giai đoạn 1009 2005 có nhiều biến động:
- Tỉ lệ dân số thành thị tăng nhanh, từ 19.5% lên 26,3%, tăng 6,8%.
- Tỉ lệ dấn số nông thôn giảm từ 80.5% xuống 73.7%, giảm 6,8%.
- Tuy nhiên trong cơ cấu dân số nông thôn và thành thị thì tỉ lệ dân số
nông thôn vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất.
+ Về số dân:
- Tổng số dân ở nước ta trong giai đoạn 1990 - 2005 tăng khá nhanh,
từ 66016,7 triệu người lên 82032,3 triệu người, tăng 16015,6 triệu người,
tăng 1,2 lần.
- Số dân nông thôn tăng từ 53136,4 triệu người lên 60441,1 triệu
người, tăng 7304,7 triệu người, tăng 1,14 lần.
16
+ Miền còn lại là miền cuối cùng.
Ví dụ 6:
Cho bảng số liệu 16.1: Cơ cấu GDP của nước ta thời kì 1991- 2002
( Đơn vị: % )
Năm
Tổng số
1991 1993 1995 1997 1999 2001 2002
100
Nông - lâm - ngư nghiệp 40,5
100
100
100
100
100
100
29,9 27,2 25,8
17
- Từ 1991 – 2002 tỉ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp giảm mạnh từ
40,5% ( 1991) xuống 23% (2002) điều đó cho ta thấy nước ta đang từng
bước chuyển từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp.
- Tỉ trọng khu vực công nghiệp xay dựng tăng nhanh nhất từ 23,8%
(1991) nên 38,5% (2002). Thực tế này phản ánh quá trình công ghiệp hóa
của nước ta đang tiến triển.
- Tỉ trong ngành dịch vụ tăng nhẹ 1991 ( 35,7%) nên 38,5% (2002) do
chủ yếu phụ thuộc vào thị trường trong và ngoài nước.
4: Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
4.1: Khái quát.
Trong quá trình triển khai, áp dụng qua học kì I, là năm học 2014 –
2015, tôi đã nhận thấy có những kết quả bước đầu:
+ Thầy đã tự tin hơn trong giảng dạy và có cách rèn luyện kỹ năng vẽ
biểu đồ nói chung và biểu đồ miền nói riêng cho học sinh ngày càng có hiệu
quả, giúp học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu kiến thức đồng thời giúp cho việc đổi
mới phương pháp hiệu quả hơn.
+ Ngày càng có nhiều em học sinh yêu thích học bộ môn nhất là các
em có tâm lý ngại học thuộc lòng.
+ Nhiều em từ việc lười học môn Địa lí, nay đã yêu thích môn học.
+ Nhiều học sinh từ chỗ không biết vẽ biểu đồ, đến nay các em đã biết
vẽ biểu đô nói chung và biểu đồ miền nói riêng.
Từ đó, chất lượng môn học cũng tăng lên rõ rệt.
4.2: Kết quả cụ thể.
18
T
%
9A
35
7
20
15
42,9
13
37,1
S
0
9B
30
3
2
3,07
0
b. Sau khi thực hiện đề tài ( Kết quả học kì I năm học 2012 – 2013):
Lớp
Số
Kết quả
lượng
Giỏi
Khá
TS
%
TS
%
Trung
Yếu
30
6
20
12
40
12
40
0
0
65
15
23,1
28
43,1
9
- Ngày nay, giáo viên cũng có thể áp dụng công nghệ thông tin để rèn
kỹ năng vẽ biểu đồ cho học sinh trên máy tính.
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình dạy học nhưng sẽ
không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Kính mong nhận được những ý
kiến đóng góp quý báu của các đồng nghiệp để những kinh nghiệm của bản
thân được hoàn thiện và có giá trị thực tiễn cao hơn.
2: Kết luận.
Trong phạm vi nội dung của chuyên đề, tôi chỉ giới thiệu thêm một số
cơ sở để phân biệt và cách vẽ biểu đồ miền chủ yếu ở bậc THCS nói chung
và ở lớp 9 nói riêng.
Tóm lại, thực hiện được một số phương pháp nhận biết và vẽ các
dạng biểu đồ trong việc dạy học môn Địa ý trong nhà trường là hết sức cần
20
thiết và quan trọng, hơn thế nữa nó còn góp phần thay đổi phương pháp dạy
học truyền thống bằng phương pháp mới nhằm phát huy tích cực, tự giác,
tính độc lập, sáng tạo của học sinh. Đồng thời nó cũng góp phần làm thay
đổi cách kiểm tra, đánh giá bằng lý thuyết suông sang kiểm tra, đánh giá cả
kỹ năng và khả năng vận dụng kiến thức.
Từ nhận thức đó trong học kì I năm học 2014 - 2015, tôi đã đúc kết và
áp dụng tương đối thành công nội dung theo chuyên đề đã chọn này để
giảng dạy môn Địa Lý tại trường THCS.
Mặc dù vậy, đây mới chỉ là kinh nghiệm của bản thân, hơn thế nữa
trong quá trình thực hiện chuyên đề tuy hết sức cố gắng nhưng do thời gian
và khả năng có hạn nên không thể nào tránh khỏi những thiếu sót nhất định,
rất mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp.
Trong điều kiện thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế vì vậy đề tài