Một vài biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng liên tưởng và tưởng tượng cho học sinh lớp 6 trong việc học môn ngữ văn - Pdf 43

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong
nhà trường đang là vấn đề rất được xã hội rất quan tâm. Mục đích của việc đổi mới
phương pháp là thay đổi lối dạy học thụ động sang phương pháp dạy học tích cực,
nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo ở người học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học Văn chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự tham
gia tích cực của giáo viên và học sinh qua từng giờ học cụ thể.Trong đó người giáo
viên với vai trò là người dẫn dắt, hướng dẫn học sinh trong giờ học, phải xác định
được những mục tiêu cơ bản, rõ ràng của giờ học. Hướng tới hình thành những
kiến thức chuẩn xác, các kĩ năng thành thục và những thái độ đúng đắn cho học
sinh.
Trong quá trình dạy học, bên cạnh việc hình thành kiến thức, thì việc rèn các kĩ
năng cho học sinh là rất quan trọng. Ở môn Ngữ văn, hình thành các kĩ năng liên
tưởng, tưởng tượng giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình hướng dẫn học
sinh tiếp nhận tác phẩm văn học và viết các bài Tập làm văn theo hướng tư duy tích
cực, chủ động và sáng tạo.
Đối với học sinh lớp 6, việc rèn luyện các kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng có
vai trò hết sức quan trọng. Bởi vì bắt đầu từ cấp học này, các em sẽ dần làm quen
với việc tiếp nhận và cảm thụ vẻ đẹp của các tác phẩm văn học, đồng thời tập viết
các bài văn miêu tả và tự sự theo hướng sáng tạo.
Kĩ năng liên tưởng tưởng tượng giúp học sinh hình dung ra đối tượng được gợi
ra trong tác phẩm văn chương một cách cụ thể, sinh động. Từ đó để hiểu giá trị của
tác phẩm. Còn trong các bài văn miêu tả và tự sự, nếu liên tưởng, tưởng tượng càng
lô-gíc, tự nhiên, phong phú thì sự sáng tạo càng cao. Ở lứa tuổi của các em, sự liên
tưởng, tưởng tượng là rất tự nhiên, phong phú và đáng yêu nhưng rất cần có sự định
hướng đúng đắn của giáo viên.
Nhận thức được vai trò quan trọng của các kĩ năng liên tưởng và tưởng tượng
trong việc dạy học môn Ngữ Văn, bản thân tôi đã có những tìm tòi, thử nghiệm một
vài biện pháp để hướng tới rèn luyện các kĩ năng này cho học sinh lớp 6 ở trường
THCS Minh Khai - thành phố Thanh Hóa - Thanh Hóa.


2


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận.
Liên tưởng, tưởng tượng trước hết là hiện tượng tâm lí. “Liên tưởng là nghĩ tới
sự việc, hiện tượng nào đó có liên quan nhân sự việc, hiện tượng đang diễn ra.
Tưởng tượng là tạo ra trong trí những hình ảnh không có ở trước mắt hoặc
chưa hề có” (Từ điển Tiếng Việt- Hoàng Phê, năm 2009).
Như vậy cơ chế của liên tưởng là dựa vào trí nhớ, chắp nối, liên kết các sự kiện,
để tạo hình ảnh đối lập hoặc tương đồng. Còn cơ chế của tưởng tượng là dựa trên
cơ sở các liên tưởng và sức sáng tạo để xây dựng biểu tượng mới. Cũng có nghĩa
liên tưởng nằm trong trí nhớ, là phương thức để nhớ, đồng thời liên tưởng cũng là
thao tác của tưởng tượng. Vì thế giữa liên tưởng và tưởng tượng có mối quan hệ
vừa là bộ phận vừa là nhân quả của nhau trong nhận thức và phản ánh đối tượng.
Sáng tác văn học là một hoạt động giao tiếp xã hội nhằm hướng tới sự đồng
cảm, tri âm nơi người đọc. Vì lí do “sinh tồn” ấy, người sáng tác bao giờ cũng gửi
gắm ý tưởng của mình qua hình tượng nghệ thuật của tác phẩm- mã hoá trong các
dạng thức kết cấu đặc biệt của ngôn ngữ. Tác phẩm văn học khi đã hiện diện bằng
văn bản, tức là trong nó đã kết tinh một quá trình lao động nghệ thuật - từ khâu
quan sát, bộc lộ cảm xúc, huy động những liên tưởng và tưởng tượng ... để khái
quát, kết cấu thành một chỉnh thể. Như vậy quá trình sáng tác là quá trình bằng xúc
cảm cá nhân, nhà văn hút dẫn và nhào nặn chất liệu đời sống để phục vụ một nhu
cầu bộc lộ, trong đó liên tưởng, tưởng tượng có một vai trò đặc biệt quan trọng.
Phương pháp dạy học tích cực xác định vai trò của học sinh là bạn đọc sáng
tạo của nhà văn. Có nghĩa là người học sinh là chủ thể trong giờ học, nhằm khơi
dậy và phát triển những năng lực tâm lí cảm thụ văn học một cách chủ động và
sáng tạo. Muốn đạt được hiệu quả trên, học sinh phải có kĩ năng liên tưởng, tưởng
tượng được những điều nhà văn thể hiện trong tác phẩm.

- Đối với học sinh
Ở bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông, nhiều năm gần đây đã có
những đổi mới đáng kể về hoạt động kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên việc kiểm tra
đánh giá vẫn chưa đảm bảo yêu cầu khách quan, chính xác. Ra đề theo hướng mở
nhưng vẫn chấm điểm theo đáp án chứ chưa linh hoạt trong cho điểm sáng tạo.
Điều này khiến học sinh vẫn học tập thiên về ghi nhớ hơn là vận dụng kiến thức.
Nhiều học sinh vẫn học theo kiểu cũ: đọc thuộc, sao chép, nói lại ý của sách vở,
thầy cô. Các em chưa có sự sáng tạo khi tiếp xúc tác phẩm văn học.
Đối với học sinh lớp 6, vì mới bước đầu tiếp xúc và tìm hiểu các tác phẩm văn
học nên các em còn tỏ ra lúng túng. Mặt khác, trong chương trình Ngữ văn lớp 6,
học sinh lại được học các tác phẩm văn học dân gian. Thể loại này giàu yếu tố
tưởng tượng kì ảo nên đòi hỏi các em cũng phải có kĩ năng tưởng tượng tốt thì mới
hiểu sâu sắc được các tác phẩm văn học đồng thời thực hành viết bài được tốt hơn.
Bên cạnh đó thì kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của các em cũng còn hạn chế.
Trong kì thi khảo sát chất lượng đầu năm môn Ngữ văn lớp 6 - Trường THXS
Minh Khai năm học 2014-2015, thu được kết quả như sau:
Đề bài: Em hãy tả lại khu vườn mùa xuân vào một buổi sáng .
Điểm
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Sĩ số
SL
%
SL
%
SL
%
SL

2.5
Mặc dù ở bậc tiểu học, học sinh đã được làm quen với văn miêu tả nhưng yêu
cầu về dung lượng cũng như kĩ năng viết bài chưa cao.Vì vậy với đề văn trên, các
em không có khả năng mở rộng những liên tưởng, tưởng tượng để viết dài cũng
như có những cách diễn đạt hay, giàu hình ảnh.

4


Từ thực tế trên, bản thân tôi đã vận dụng một số biện pháp và cách thức tổ chức
để rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 6 trường THCS Minh Khai
- thành phố Thanh Hóa như sau.
2.3. Các biện pháp thực hiện.
a. Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ dạy tác phẩm văn
học
Trong cảm nhận tác phẩm văn học, người đọc phải dùng liên tưởng, tưởng
tượng để hình dung, để hiểu được ý đồ, quan niệm nghệ thuật, tư tưởng mà nhà văn
gửi gắm vào trong tác phẩm. Quá trình tiếp thu một giờ giảng văn trên lớp, học sinh
phải nhờ vào tài năng, kĩ năng hướng dẫn tìm hiểu của người thầy. Người giáo viên
phải dẫn dắt học sinh từng bước khám phá tác phẩm một cách tự nhiên, thoải mái,
qua đó giúp các em cảm nhận được cái hay, cái độc đáo của tác phẩm văn chương.
Trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi thấy rằng, để có một giờ dạy
trọn vẹn quả là khó, vì đó là cả một nghệ thuật. Giờ giảng Văn đòi hỏi học sinh
phải liên tưởng, tưởng tượng mới có sự sáng tạo trong lĩnh hội và tìm tòi. Trong khi
thời gian rất eo hẹp, sự liên tưởng, tưởng tượng ở học sinh lại không đồng đều. Tuy
nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn không có được những giờ
dạy thành công.Với những gì đã học hỏi và thử nghiệm, tôi thấy có thể rèn kĩ năng
liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh trong giờ dạy tác phẩm văn chương như sau:
Trước khi vào bài giảng, giáo viên vừa kết hợp lời dẫn với các tư liệu như tranh
ảnh, đoạn phim có liên quan đến bài dạy, để học sinh có một sự hình dung sơ bộ về

được nhân vật đi, đứng, khóc, cười… Cuộc sống đang chuyển động trước mắt các
em. Và từ đó có thể miêu tả lại những gì tác giả viết bằng ngôn ngữ của mình.
Ví dụ :
- Em tưởng tượng và miêu tả lại trận thuỷ chiến giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh ?
( Học bài : Sơn Tinh, Thủy Tinh)
- Bằng trí tưởng tượng, em hãy tường thuật lại cảnh Thánh Gióng đánh giặc Ân?
( Học bài : Thánh Gióng)
- Nếu được vẽ tranh minh họa cho truyền thuyết “ Con Rồng, cháu Tiên” em sẽ
lựa chọn những chi tiết nào để vẽ?
( Học bài : Con Rồng, cháu Tiên)
Câu hỏi liên hệ: Sự liên hệ là từ các chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm, học
sinh nghĩ tới các chi tiết, hình ảnh hoặc sự việc khác có nét tương đồng hoặc gần
gũi. Liên hệ không chỉ trong tác phẩm mà còn ngoài cuộc sống. Vì vậy đòi hỏi học
sinh phải huy động những hiểu biết của mình về văn chương và xã hội để sự liên hệ
có ý nghĩa. Đôi khi học sinh có những sự liên hệ không phù hợp, giáo viên phải có
sự điều chỉnh kịp thời để giúp học sinh hiểu đúng.
Ví dụ:
- Qua hình ảnh:
“Rồi Bác đi nhém chăn
Từng người, từng người một
Sợ cháu mình giật thột
Bác nhón chân nhẹ nhàng”
(Đêm nay Bác không ngủ- Minh Huệ)
Em cảm nhận được tình cảm của Bác dành cho các chiến sĩ giống với tình
cảm của ai dành cho chúng ta?
( Học bài : Đêm nay Bác không ngủ- Minh Huệ)
- Qua lời nói của thầy Ha- men vói các học sinh trong buổi học tiếng Pháp cuối
cùng ở vùng An-dát, em có liên hệ gì đến quá trình phát triển của tiếng nói dân tộc
ta?
( Học bài: Buổi học cuối cùng – An-phông-xơ Đô-đê)

khi nói và viết.
Trong thực tế, học sinh thường chưa xác định được chính xác các phép tu từ,
lẫn lộn giữa các phép tu từ và khó khăn lớn nhất đối với các em là chưa hiểu hết
được giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của các phép tu từ. Từ đó khả năng vận
dụng rất hạn chế.
Từ thực tế đó, bản thân tôi đã thực hiện các bước cơ bản trong một giờ dạy về
biện pháp nghệ thuật là:
+ Giúp học sinh nắm vững khái niệm, hiểu được cơ sở hình thành các biện
pháp nghệ thuật thông qua việc phân tích các ngữ liệu mẫu. Chẳng hạn:
Cơ sở của so sánh và ẩn dụ là dựa trên sự liên tưởng giống nhau của hai đối
tượng khác loại. So sánh luôn có hai vế ( vế A và vế B), còn ẩn dụ thì sự vật, sự
việc được so sánh (vế A), từ so sánh, phương diện so sánh bị ẩn đi, chỉ còn sự vật,
sự việc được dùng để so sánh (vế B).
Cơ sở của hoán dụ là dựa trên sự liên tưởng kề cận của hai đối tượng mà
không so sánh.
Cơ sở của nhân hóa là từ những đặc điểm, hoạt động, tính chất của sự vật mà
liên tưởng đến những đặc điểm, hoạt động, tính chất giống con người và dùng các
từ vốn để chỉ hoạt động, tính chất, trạng thái… của con người để chỉ vật.
+ Nhận biết chính xác phép tu từ trong các ngữ liệu tiếp theo.
+ Tìm hiểu giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.
7


+ Vận dụng đặt câu hoặc viết đoạn văn có sử dụng biện pháp nghệ thuật.
Cụ thể khi dạy học phép tu từ so sánh:
- Cách nhận biết:
So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương
đồng để tạo nên những hình ảnh cụ thể, hàm súc cho sự diễn đạt. Nghĩa là qua cái
đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết.
Khi dạy bài này, bước đầu tiên giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện phép

+ Thông qua hình ảnh so sánh, tac giả muốn người đọc hình dung điều gì về
Dế Choắt?
-> Dế Choắt gầy ốm, quoặt quẹo, nhìn yểu tướng…
- Lời bình phép tu từ so sánh :
Phần lớn học sinh chỉ nêu ra phép tu từ và tác dụng của vế A và vế B mà thôi,
các em chưa biết dùng lời bình để làm rõ ý nghĩa của phép tu từ trong một đoạn
thơ, đoạn văn. Để giúp các em có kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng và dùng lời bình
trong phép tu từ so sánh, tôi đưa ra ví dụ sau:
8


Ví dụ: Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn
cuồn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa nghì trên ngọn
sào giống như một hiệp sĩ của trường Sơn oai linh hùng vĩ.
+ Thông qua các hình ảnh so sánh, em thấy dượng Hương Thư hiện lên như
thế nào?
Học sinh chỉ ra được tác dụng của các hình ảnh so sánh trong việc miêu tả
dượng Hương Thư trong cảnh vượt thác.
Giáo viên chốt ý và bình : Hình ảnh so sánh này gợi cho người đọc liên
tưởng đến vẻ đẹp thể chất và sự dũng mãnh của dượng Hương Thư như một người
anh hùng khi vượt thác. Đồng thời giúp ta hiểu được dụng ý của nhà văn: Trong
đời sống thường ngày, dượng Hương Thư nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì nhưng
khi vược thác , dượng trở thành con người hoàn toàn khác. Phải chăng khi đứng
trước khó khăn thử thách, con người Việt Nam vốn bình thường bỗng trở nên phi
thường.
Từ những lời bình của giáo viên, học sinh sẽ tập sử dụng những lời bình khi
tìm hiểu giá trị của các biện pháp tu từ. Và các em dễ dàng vận dụng vào tìm hiểu,
tạo lập văn bản đặc biệt là văn bản miêu tả.
- Vận dụng phép tu từ so sánh trong đặt câu:
Giáo viên nên chọn những hình ảnh gần gũi và cho học sinh tập đặt câu có sử

Trong bước này, giáo viên cho học sinh tập diễn đạt bằng cách: từ một hình ảnh,
một sự việc, có thể liên tưởng, tưởng tượng đến nhiều sự việc, hình ảnh khác nhau
và lựa chọn lấy những hình ảnh hợp lí, đặc sắc hơn cả.
Sau khi hoàn chỉnh bài văn, giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại để sửa chữa bài
viết. Ở phần này, đòi hỏi giáo viên phải rất chú ý đến những hình ảnh liên tưởng,
tưởng tượng chưa hợp lí, chưa hay để có những điều chỉnh kịp thời.
- Đổi mới phương pháp ra đề theo hướng mở.
Đối với văn tự sự: Bên cạnh những đề văn kể chuyện đời thường, giáo viên
nên tích cực tìm hiểu và ra những đề văn kể chuyện tưởng tượng sáng tạo, nhằm
kích thích khả năng liên tưởng, tưởng tượng phong phú ở học sinh, kích thích tư
duy sáng tạo ở các em.
Ví dụ:
- Tưởng tượng kết thúc khác cho một truyện cổ tích.
- Đặt ra những tình huống giả định khác với tình huống có sẵn trong truyện và
viết tiếp theo trí tưởng tượng của mình.
- Hình dung gặp gỡ các nhân vật trong truyện cổ dân gian
- Tưởng tượng gặp gỡ những người thân trong giấc mơ
- Tưởng tượng cuộc trò chuyện giữa các nhân vật là đồ vật, hay con vật...
- Cách làm:
+ Xác định được đối tượng cần kể là gì? ( Sự việc hay con người)
+ Xây dựng tình huống xuất hiện sự việc hay nhân vật đó
+ Tưởng tượng các sự việc, hoạt động của nhân vật có thể xảy ra trong không
gian cụ thể như thế nào?
Và giáo viên đặc biệt lưu ý học sinh là dù tưởng tượng theo hướng nào thì câu
chuyện cũng phải mang lại một ý nghĩa cho cuộc sống.
Đối với văn miêu tả: Những năng lực cần có khi làm văn miêu tả:
- Quan sát: nhìn nhận, xem xét sự vật.
- Nhận xét liên tưởng, hình dung về sự vật đặt trong tương quan các sự vật xung
quanh
- Ví von so sánh: Thể hiện sự liên tưởng độc đáo riêng của người viết hình dung,

chúng tôi đã tìm tòi và xây dựng bộ đề bài văn theo hướng mở và thống nhất các
định hướng xây dựng đáp án. Bộ đề này được sử dụng trong các tiết viết bài văn tự
sự và miêu tả. Đây cũng là tài liệu lưu hành nội bộ, đồng thời bộ đề sẽ được bổ
sung trong các năm học tiếp theo. Làm như vậy, cách thức kiểm tra đánh giá học
sinh được hệ thống và nhất quán. Đáp ứng được yêu cầu đổi mới hình thức kiểm
tra, đánh giá học sinh trong bộ môn Ngữ văn ở nhà trường THCS.
Sau đây là ví dụ về một giáo án tích hợp giữa ba phân môn Văn học- Tiếng
Việt và Tập làm văn mà tôi đã thực hiện.
4.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Với những gì đã làm, bản thân tôi nhận đã thấy được những hiệu quả khả quan
trong các giờ dạy. Học sinh tỏ ra rất hứng thú học bài, có những phát hiện mới mẻ
về giá trị của tác phẩm văn học. Chẳng hạn trong bài “Ông lão đánh cá và con cá
vàng” các em có nhận xét : “Những yêu cầu ban đầu của bà vợ ông lão là không
hề đáng trách. Vì cuộc sống của vợ chồng ông lão đã quá nghèo khổ, bây giờ có
điều kiện thì bà có quyền mong muốn một cuộc sống đủ đầy hơn. Đáng trách
chăng là thái độ cư xử của bà ta với chồng và tham vọng cuối cùng của bà ta”.
( Ý kiến của em Cao Hà Ngọc –Lớp 6B).
11


Sự lí giải của các em phải chăng cũng là có lí? Tuy nhiên giáo viên vẫn phải
định hướng cho các em rằng con người có quyền mơ ước một cuộc sống tốt đẹp .
Nhưng tất cả những giá trị vật chất phải do mình làm ra thì mới có giá trị bền vững.
Với những đề văn kể chuyện tưởng tượng, một số em đã thể hiện được năng
lực tưởng tượng khá phong phú và độc đáo của mình. Một số em thật sự hứng thú
với các kiểu đề văn như tưởng tượng mình trò chuyện với nhân vật văn học hoặc
tưởng tương cuộc trò chuyện giữa các đồ vật gần gũi quanh mình. Các em không
còn cảm thấy ngại viết bài nữa mà ngược lại rất háo hức đến giờ viết bài. Vì đây là
giờ để các em được thoải mái sáng tạo, được tập làm những “nhà văn nhí”. Đã xuất
hiện những đoạn văn hay, những bài văn mang cá tính sáng tạo.

12


lúc tung cao, bọt trắng xóa. Những ngày ấy dòng sông không bao giờ ngủ, nó luôn
nhăm nhe, dọa nạt con người. Nó khiến con người luôn sống trong lo sợ. Con đê có
sứ mệnh phải ngăn chặn những cơn tức giận của dòng sông, vậy mà có chỗ đã
không thể kháng cự được, mình nó đã bị sóng ăn nham nhở, có nguy cơ vỡ. Ai ai
cũng hoảng sợ. Trước nguy cơ đó Ban chỉ huy phòng chống lụt bão đã huy động
rất nhiều người mang theo những bao tải đổ đất và giúp sức cho đê bảo vệ được
cuộc sống của dân lành.
Đối với lũ trẻ chúng tôi, dòng sông lúc này không còn đáng yêu như trước.
Chiều chiều chúng tôi chẳng còn đắm mình trong vòng tay êm ả của dòng sông.
Chúng tôi cũng như bao người khác lo lắng cho ngôi nhà, cho ngôi làng thân yêu
của mình.
Những ngày mưa lũ mẹ tôi không ra đồng được, mẹ ngồi trước cửa nhà, mắt
dõi ra xa đầy lo âu. Tôi ngồi bên mẹ lặng im. Mẹ ôm tôi vào lòng an ủi và cũng
chính là tự nhủ với mình:
- Rồi sẽ qua thôi con ạ. Chắc chỉ chiều nay nước sẽ rút.
Và thật bất ngờ cứ như có phép lạ. Đến trưa mưa bắt đầu ngừng rơi, nước
sông cũng không dâng lên cao nữa. Và chẳng mấy chốc nước sông đã rút hẳn cảnh
vật lại trở về như cũ nhưng xơ xác như sau một trận đánh. Hôm sau nắng đã trải
dài trên sông.
Dòng sông lại trở về bản chất hiền lành. Người dân quê tôi lại vui vẻ trở về với
công việc thường ngày. Sau lũ, người ta thi nhau vớt củi, vớt gỗ trôi từ thượng
nguồn về, và cá tôm cũng như nhiều hơn. Đất đai cũng màu mỡ hơn báo hiệu một
mùa bội thu sắp tới. Tàu thuyền lại tấp nập trên bến bãi. Bọn trẻ chúng tôi lại đưa
nhau ra bãi bồi đá bóng, tắm sông. Dòng sông quê tôi dẫu có lúc nổi giận và khó
hiểu song với chúng tôi đó là một nơi vô cùng lí tưởng, mai này dù có xa quê bao
lâu chắc tôi vẫn không thể quên được con sông này và sẽ nhớ nhất là dòng sông
những ngày mưa lũ.

ông! Tôi đi!”
Tờ giấy trên tay ông lão từ từ rơi xuống. Nơi góc mắt lão hình như ươn ướt.
Lão ngồi thụp xuống, đôi mắt xa xăm nhìn sâu vào biển cả. Đầu lão tê dại, miên
man. Lão ngồi đó suốt một ngày đêm. Nhưng rồi lão bật dậy, quay mũi thuyền lão
lại ra khơi.
- Cá vàng ơi! Cá vàng ơi! Đời này ta không dám quên ơn cá. Mụ vợ nhà ta đã
biết lỗi rồi. Ta xin cá hãy đưa mụ trở về với ta. Ta hứa từ nay sẽ không bao giờ làm
phiền cá nữa.
Cá vàng nhìn lão rồi lặng lẽ lặn xuống biển sâu. Lão buồn bã, thất vọng trở về.
Nhưng vừa đặt chân lên bờ cát, thì...
Ai đang đứng trước mặt lão thé này? Vẫn bộ quần áo rách tươm, đầu không
quấn khăn chân đi đất. Khuôn mặt nhăn nhúm, gầy sọp đi. Dù tóc đã bạc hơn, lão
vẫn nhận ra, đó chính là vợ lão.
Vợ chồng gặp nhau trong lặng im và nước mắt. Rồi họ cùng đi về căn lều rách
nát nhưng đã gắn bó với họ suốt mấy chục năm qua.
Và ngoài kia gió đại dương thổi vào mát rượi và biển xanh vỗ sóng êm đềm.
(Bài của Phạm Khánh Ngân lớp 6D- Trường THCS Minh Khai - thành phố
Thanh Hóa)
Quả thật trí tưởng tượng của các em khá phong phú, ngộ nghĩnh nhưng rất có ý
nghĩa. Đọc những đoạn văn như vậy, tôi bỗng thấy lòng thật vui vì công việc mình
làm đã cho quả ngọt.
Kết quả bài viết số 6 năm học 2014-2015.
Tiết 121-122: Viết bài Tập làm văn miêu tả sáng tạo.
14


Đề bài: Hình dung những đổi mới của trường em sau mười năm em có dịp quay
về thăm trường.
Đề bài: Em hãy tả lại khu vườn mùa xuân vào một buổi sáng .
Điểm

6
15
0
0
6C
40
18
45
16
40
6
15
0
0
Có thể thấy, chất lượng bài làm của học sinh đã được nâng lên đáng kể. Các
em đã có những câu văn diễn đạt có hình ảnh liên tưởng, tưởng tượng độc đáo.
Từ những bài học tác phẩm văn học với các bài học Tập làm văn, học sinh thực
sự thấy hứng thú với việc học văn, bản thân giáo viên cũng nhận thấy mỗi giờ học
là một giờ sáng tạo. Và giáo viên cũng cần luôn trao đổi với đồng nghiệp về chuyên
môn, nhất là phương pháp ra đề theo hướng mở. Kết hợp với trau dồi kiến thức
thực tế để giúp học sinh thấy rằng môn Ngữ văn là một môn học gắn với thực tế và
phát triển tư duy sáng tạo. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà
trường.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
- Kết luận:
Bất cứ môn học nào, việc nắm vững các tri thức mới đòi hỏi sự nỗ lực cố
gắng của học sinh. Trong sự nỗ lực đó, các kĩ năng được rèn luyện sẽ phát triển
những đức tính sáng tạo, kiên trì, tỉ mỉ, thận trọng... Học tập môn Ngữ văn là để
học sinh có vốn sống, vốn hiểu biết, hình thành nhân cách của người lao động có
văn hoá.

2. Chất lượng học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông – Bộ giáo dục và đào tạo
( 2014)
3. Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục- Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh- Nhà
xuất bản Đại học Sư phạm ( 2014)
4. Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi – Sở GD & ĐT Thanh Hóa (2015).
5. SGK Ngữ văn lớp 6 Tập 1, Tập 2- NXB Giáo dục (2014)
6. Dạy học làm văn theo hướng mở - Trần Đình Sử, Văn học và tuổi trẻ, số tháng 1
năm 2012.
7.Tài liệu tập huấn chuyên môn do phòng giáo dục đào tạo tổ chức
Trên đây là kinh nghiệm của bản thân tôi, rất mong được sự đóng sự đóng góp ý
kiến của các bạn đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để việc dạy - học môn
Ngữ văn đạt hiệu quả cao hơn. Do kiến thức và kinh nghiệm bản thân còn có hạn,
Tôi rất mong các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp góp ý xây dựng , chỉ ra
những sai sót còn tồn tại đề tài được hoàn chỉnh hơn.

Tôi xin cam đoan SKKN là do tôi
viết, không sao chép.
Thành phố Thanh Hóa, ngày 26 tháng 03 năm 2017
Người thực hiện:

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Trịnh Thị Phương

16


17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status