SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
Phần I: MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Các biện pháp thực hiện 2
Phần II: NỘI DUNG 4
1. Cơ sở lý luận 4
2. Cơ sở thực tiễn 4
3. Các yêu cầu đối với học sinh và giáo viên 4
4. Kết quả đạt được 12
Phần III: KẾT LUẬN 13
Tài liệu tham khảo 14
Phần nhận xét, đánh giá của Hội đồng khoa học các
cấp
15
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 1
SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong chương trình ngữ văn ở bậc Trung học cơ sở, học sinh đã học về thể văn
nghị luận. ở lớp 7 các em học được phép lập luận chứng minh và phép lập luận
giải thích. Lớp 8 học tiếp khá kĩ về văn nghị luận, về cách nói và viết bài văn
nghị luận có sử dụng yếu tố biỂU cảm, tự sự và miêu tả. Ở lớp 9 đã có sự kế
thừa, nâng cao kiến thức về văn nghị luận. Các em học về nghị luận về tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ…
Trong quá trình giảng dạy môn ngữ văn lớp 9, giáo viên giúp học sinh nắm vững
các yêu cầu, cách làm bài nghị luận văn học ở từng kiểu bài, nhưng về kĩ năng
viết bài nghị luận về văn học của học sinh chưa thật thành thạo, còn lúng túng,
của tác phẩm văn học.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 3
SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
PHẦN II
NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Đất nước ta đang trên đà đổi mới, ngành giáo dục đang có những bước
chuyển mình theo nhịp bước của thời đại. Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy
học là vấn đề cần thiết và quan trọng trong tình hình hiện nay. Mà một trong
những biện pháp tối ưu trong quá trình dạy học là phương pháp dạy học tích cực
và dạy học theo chuẩn kiến tức và kĩ năng. Vì vậy, để nang cao hiệu quả giáo dục
ở bộ môn ngữ văn trong nhà trường hiện nay, giáo viên cần đặc biệt chú trọng
hơn nữa trong việc rèn luyện kĩ năng nói và viết cho học sinh, nhất là rèn luyện kĩ
năng viết văn nghị luận về tác phẩm văn học ở bậc Trung học cơ sở theo chuẩn
kiến thức và kĩ năng mà ngành yêu cầu.
2. Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình làm bài kiểm tra ở lớp cũng như ở kiểm tra học kì, thi
tuyển vào lớp 10 ở môn ngữ văn nhiều năm qua, học sinh làm bài văn nghị luận
về tác phẩm văn học: Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về
nhân vật, nghị luận về tác phẩm thơ, đoạn thơ; Nghị luận xã hội thì còn rất nhiều
hạn chế. Bài làm của học sinh thường sơ sài, chung chung, lan man, vừa thừa,
vừa thiếu, có khi xa đề, lạc đề. Có bài chỉ viết được 7 đến 8 dòng là hết, có nhiều
em không biết mở bài, không biết xây dựng luận điểm… Thực trạng ấy làm cho
đội ngũ thầy cô giáo chúng ta phải trăn trở, phải suy nghĩ, mà nguyên nhân chính
là học sinh không có kĩ nẵng viết bài, không có định hướng khi làm bài nghị luận
văn học. Do đó chúng ta cần phải có cách dạy như thế nào, học sinh cần phải có
cách học như thế nào để có hiệu quả giáo dực ngày một đi lên, đó là vấn đè mà
thầy cô giáo cần phải quan tâm và chú trọng.
3. Các yêu cầu đối với học sinh và giáo viên:
* Suy nghĩ: Là nhận xét, nhận định, phân tích về tác phẩm của người viết
ở gcs nhìn nào đó về chủ đề, đề tài, hình tượng nhân vật, nghệ thuật…
* Cảm nhận: Là cảm thụ của người viết về một hay nhiều ấn tượng mà tác
phảm để lại sâu sắc trong lòng người đọc về nội dung hay nghệ thuật hoặc cả nội
dung và nghệ thuật.
Như vậy, từ việc phân tích chỉ định về phương pháp, từ suy nghĩ nhấn
mạnh tới nhận định, phân tích, từ cảm nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của
người viết. nếu học sinh không hiểu thì đề bài yêu cầu gì đi nữa thì học sinh đều
phân tích hết.
3.3.b. Hướng dẫn học sinh cách làm và viết đoạn văn nghị luận văn học:
Trong chương trình, học sinh học nghị luận văn học về tác phẩm truyện
hoặc đoạn trích; về một đoạn thơ, bài thơ. Riêng nghị luận về tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích) có thể đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau như: về chủ đề, sự
kiện, nhân vật, cốt truyện, nghệ thuật…. Giáo viên cần tập trung vào nghị luận về
nhân vật văn học theo yêu cầu của sách giáo khoa.
Hướng dẫn học sinh viết bài văn phải có bố cục đầ đủ gồm ba phần: mở
bài, thân bài, kết bài.
Đối với bài thơ học sinh phải xác định được bố cục. Phân tích theo lối cắt
ngang ở từng đoạn thơ, khổ thơ.
Từ văn bản thơ, học sinh tiến hành chia đoạn và tìm những ý chính của
mỗi đoạn. đối với từng khổ thơ, đoạn thơ, câu thơ vẫn có thể chia tách ra thành
các ý nhỏ được. sau khi tìm được ý chính cảu mỗi đoạn thì biến những ý chính ấy
thành các luận điểm.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 5
SKKN Cỏch vit vn ngh lun 9
Ban u tp cho hc sinh phõn tớch mt cõu, ri n hai cõu. T hai cõu ri
n mt kh th, t kh th (on th) ri n bi th.
Vớ d: Kh th u ca bi th on thuyn ỏnh cỏ ca Huy Cn:
Mt tri xung bin nh hũn la
hơng, thiên nhiên đất nớc, tự hào về tiếng nói của dân tộc
Ngi thc hin : Nguyn Th Hng Trang
Trang 6
SKKN Cỏch vit vn ngh lun 9
Các sáng tác văn học còn đề cao tinh thần nhân đạo - tình yêu thơng con
ngời - một truyền thống sâu đậm của văn học Việt Nam. Tất cả đều hớng về
khẳng định những giá trị tốt đẹp của con ngời, lên tiếng mạnh mẽ bênh vực cho
quyền sống của con ngời đồng thời nói lên khát vọng về hạnh phúc, mơ ớc về tự
do, lẽ công bằng. Nhiều tác phẩm hớng tinh thần nhân đạo vào những tầng lớp
nghèo khổ, tố cáo mạnh mẽ những bất công xã hội, những thế lực thống trị, áp
bức và lên tiếng đòi quyền sống xứng đáng cho con ngời. Các tác phẩm văn học
mới đặc biệt hớng vào khẳng định những phẩm chất tốt đẹp và sức mạnh giải
phóng của quần chúng nhân dân lao động, ngợi ca những tình cảm cộng đồng nh
tình đồng chí, đồng bào.
Nhiều tác phẩm đề cập đến những vấn đề gần gũi thiết thực trong đời sống
tinh thần của mỗi con ngời nh tình cảm gia đình, sự giật mình thức tỉnh của lơng
tâm trớc vòng xoáy cuộc đời, truyền thống uống nớc nhớ nguồn, những bài học
đạo đức nhẹ nhàng mà sâu sắc về cái đẹp, tình yêu thơng loài vật
Văn học Việt Nam có lịch sử lâu dài, gắn bó mật thiết với lịch sử, với vận
mệnh của nhân dân, lu giữ và toả chiếu tinh hoa, bản sắc tâm hồn dân tộc qua các
thời đại; là vốn quý của nền văn hoá dân tộc; nuôi dỡng và bồi đắp tâm hồn, tính
cách, t tởng cho các thế hệ ngời Việt Nam trong hiện tại và tơng lai. Tất cả các
nội dung đó đều mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc và đều có thể trở thành một đề
tài độc đáo cho các bài làm văn nghị luận, nhất là kiểu bài làm văn nghị luận xã
hội.
Trong các kiểu làm văn, SGK Ngữ văn cũng đã thực sự chú ý đến kĩ
năng vận dụng kiến thức tác phẩm để phục vụ cho các bài làm văn nghị luận văn
học nh: chứng minh, giải thích, phân tích một đoạn thơ, đoạn truyện hoặc một
tác phẩm thơ, một tác phẩm truyện. Bên cạnh đó còn có kiểu bài nghị luận xã hội
giúp HS không chỉ rèn luyện tốt kĩ năng làm văn nghị luận mà còn có thêm cách
cóp khi làm bài, một hiện tợng nói tục, chửi bậy, thói ăn vặt xả rác, trẻ em hút
thuốc lá, đam mê trò chơi điện tử, bỏ bê học tập Các sự việc, hiện tợng nh thế
học sinh nhìn thấy hằng ngày ở xung quanh nhng ít có dịp suy nghĩ, phân tích,
đánh giá chúng về các mặt đúng - sai, lợi - hại, tốt - xấu Bài nghị luận về một
sự việc, hiện tợng xung quanh mà các em không xa lạ, từ những suy nghĩ của bản
thân mà viết những bài văn nghị luận nêu t tởng, quan niệm, đánh giá đúng đắn
của mình. Đó có thể coi là một hình thức nghị luận phù hợp với kinh nghiệm lứa
tuổi và trình độ suy luận của học sinh.
Hình thức nghị luận thứ hai là nghị luận về một vấn đề t tởng, đạo lí bàn về
một t tởng, đạo đức, lối sống có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con ngời.
Các t tởng đó thờng đợc đúc kết trong những câu tục ngữ, danh ngôn, ngụ ngôn,
khẩu hiệu hoặc khái niệm. Những t tởng, đạo lí ấy thờng đựơc nhắc đến trong đời
sống song hiểu cho rõ, cho sâu, đánh giá đúng ý nghĩa của chúng là một yêu cầu
cần thiết đối với mỗi ngời.
Bài nghị luận về một t tởng, đạo lí có phần giống với bài nghị luận về về
một sự việc, hiện tợng đời sống ở chỗ: sau khi phân tích sự việc, hiện tợng, ngời
viết có thể rút ra những t tởng và đạo lí đời sống. Nhng hai kiểu bài này khác
nhau về xuất phát điểm và lập luận. Về xuất phát điểm, bài nghị luận về một sự
việc, hiện tợng đời sống xuất phát từ sự thực đời sống mà nêu t tởng, bày tỏ thái
độ. Bài nghị luận về vấn đề t tởng đạo lí, sau khi giải thích, phân tích thì vận dụng
Ngi thc hin : Nguyn Th Hng Trang
Trang 8
SKKN Cỏch vit vn ngh lun 9
các sự thật đời sống để chứng minh nhằm trở lại khẳng định (hay phủ định) một t
tởng nào đó. Đây là nghị luận nghiêng về t tởng, khái niệm, lí lẽ nhiều hơn; các
phép lập luận giải thích, chứng minh, tổng hợp thờng đợc sử dụng nhiều.
Nh vậy, kiểu bài nghị luận xã hội trớc hết đợc dùng để bàn luận, đánh giá,
nhận xét về những vấn đề xã hội, những hiện tợng, sự việc hoặc những vấn đề t t-
ởng đạo lí trong đời sống xã hội, đời sống tinh thần của con ngời. Nh trên đã chỉ
ra, các tác phẩm văn học cũng trở thành một nguồn đề tài vô cùng phong phú, có
định trong nội dung bài học. Ví dụ: lí tởng của thanh niên ngày nay (đợc gợi ý từ
văn bản Lặng lẽ Sa Pa), ý nghĩa của gia đình và quê hơng trong đời sống con
ngời (đợc gợi ý từ văn bản Nói với con), mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể
(đợc gợi ý từ kịch Tôi và chúng ta, Mùa xuân nho nhỏ)
- Đề có thể mở để học sinh chọn lựa nội dung nghị luận, bàn sâu vào một
vấn đề nào đó đợc gợi ý từ văn bản đã học. Ví dụ: vẻ đẹp của đức tính khiêm nh-
ờng em học đợc trong ý thơ Thanh Hải trong bài Mùa xuân nho nhỏ, và cũng ở
đó có thể chọn nội dung nghị luận khác quan niệm về sự cống hiến của mỗi cá
nhân với quê hơng, với cuộc đời chung
d. Các nội dung chính trong bài viết:
- Trớc hết học sinh hiểu và phải trình bày đợc những ý hiểu của mình về nội
dung mà tác phẩm đề cập đến. Đây là ý phụ trong bài viết nhng không thể thiếu
và cũng không làm quá kĩ dễ lạc sang kiểu bài nghị luận văn học. Học sinh bằng
sự phân tích để đi đến khái quát nội dung xã hội cần nghị luận.
- Nội dung chính của bài viết là các em cần trình bày những hiểu biết của
bản thân về vấn đề xã hội đợc nhắc đến trong văn bản bằng vốn kiến thức thực tế
trong cuộc sống, thực trạng của vấn đề với các mặt tốt - xấu, đúng - sai, cũ -
mới Từ đó bày tỏ thái độ, quan điểm và đa ra những giải pháp, liên hệ mở rộng
vấn đề , giải quyết vấn đề sâu sắc và thuyết phục.
e. Hình thức của bài viết:
- Bài viết đảm bảo bố cục thông thờng một bài văn nghị luận: mở bài, thân
bài và kết luân. Các đoạn văn trong bài có tính liên kết chặt chẽ cả về nội dung và
hình thức.
- Diễn đạt bằng các hình thức lập luận của văn nghị luận: giải thích, chứng
minh, phân tích, tổng hợp. Dẫn chứng của kiểu bài này có phạm vi rộng, nhiều
nhất là trong đời sống xã hội và có thể trong cả văn học, lịch sử
3.3.d. Hng dn c th tng phn:
* Ngh lun vn hc
** M bi:
Giỏo viờn trỡnh by quy trỡnh on vn phn m bi v nhõn vt vn hc
* Ví dụ minh họa phần mở bài:
Đề 1: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”
của Nguyễn Thành Long.
Nguyễn Thành Long là một cây truyện ngắn. truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”
được sáng tác vào mùa hè năm 1970, trong một chuyến đi lên Lào Cai của tác
giả. Nhân vật chính trong truyện là anh thanh niên. Dù được miêu tả nhiều hay ít,
trực tiếp hay gián tiếp, anh thanh niên vẫn hiện lên trong lòng người đọc với bao
vẻ đẹp đáng yêu, đáng khâm phục. (Câu cuối có thể viết: Anh thanh niên nỏi bật
những phẩm chất tốt đẹp của con người trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã
hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ).
Đề 2: Phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Hữu Thỉnh vốn rất gắn bó với cuộc sống nông thôn. Ông có nhiều bài thơ
hay về con người và cuộc sống nông thôn, về mùa thu. Bài thơ “Sang thu” được
Hữu Thỉnh sáng tác gần cuối năm 1977, giới thiệu lần đầu tiên trên báo Văn
nghệ. Bài thơ là những cảm nhận, suy tư của nhà thơ về sự biến chuyển của đất
trời từ hạ sang thu.
Từ hai đề trên, giáo viên cho học sinh đối chiếu với phần mở bài ở tùng
kiểu bài thì học sinh dễ dàng viết đoạn mở bài. Cách mở bài này dành cho đối
tượng học sinh từ trung bình trở xuống.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 11
SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
** Thân bài:
- Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc trích:
Giáo viên hướng cho học sinh viết đoạn theo cách trình bày nội dung đoạn
văn theo lối diễn dịch hoặc quy nạp. Giáo viên cho học sinh nắm cáh trình bày
nội dung diễn dịch hoặc quy nạp bằng sơ đồ để học sinh dễ nhậ biết hơn.
+ Diễn dịch: (1) (câu chủ đề nêu luận điểm)
(2) (3) (4) …
Các câu (2), (3), (4) là các câu nêu các ý chi tiết, cụ thể để làm sáng tỏ câu
Học sinh xác định được đặc điểm, tính cách của nhân vật theo trình tự diễn
biến của truyện thì học sinh lần lượt viết được đoạn văn ở phần thân bài.
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
Đầu tiên, giáo viên phải hình thành cho học sinh quy trình xây dựng đoạn
khi phân tích một đoạn thơ, khổ thơ như sau:
(1) Nhận xét khái quát về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ ấy (câu này gọi
là câu dẫn) -> (2) Dẫn chứng đoạn thơ, khổ thơ -> (3) Giảng giải, cắt nghĩa (từ,
ngư, câu thơ) -> (4) Liên hệ, mở rộng, so sánh -> (5) Nhậ xét cách sử dụng nghệ
thuật và phân tích nghệ thuật ấy (chú ý vào các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, mà ở
đó, các ý nghĩa độc đáo, tài năng nghệ thuật của tác giả được bộc lộ - lựa chọn
chi tiết không dàn trải) -> (6) Nhận xét, đánh giá về nội dung của đoạn thơ, khổ
thơ (phần này có thể về cảnh, về tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trực
tiếp hoặc nhân vật trữ tình nhập vai).
Các câu (1), (2), (5), (6) thường bắt buộc phải có khi phân tích. Câu (3), (4)
tùy theo đoạn thơ, khổ thơ mà thực hiện. Riêng câu (4) học sinh khá, giỏi thường
dùng đẻ mở rộng ý.
Ví dụ 1: Phân tích khổ thơ:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
(Thanh Hải – Mùa xuân nho nhỏ)
Viết đoạn:
(1) Từ cảm nhận về mùa xuân của thiên nhiên, đát nước, nhà thơ đã có ước
nguyện:
(2) “Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
(3) Nhà thơ muốn làm con chim hót để làm vui cho cuộc đời, muốn làm
Câu (6) là nhận xét, đánh giá về nội dung.
Đối với học sinh yếu thì không thể thực hiện những câu (4), (4’) mà dành
cho học sinh khá, giỏi. Khi học sinh đã quen thì hướng dẫn cho đối tượng trung
bình, yếu thực hiện những câu (4), (4’).
Ví dụ 2: Phân tích các câu thơ sau:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười.
(Y Phương – Nói với con)
Viết đoạn : Những câu thơ mở đầu đã thể hiện tình yêu thương cảu cha mẹ
đối với con :
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 14
SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười.
Những hình ảnh cụ thể về một em bé đang tập đi, tập nói. Lúc thì bước tới
níu lấy tay cha, lúc thì sà vào lòng mẹ. Điệp ngữ “bước tới” gợi bước chân chập
chững của đưa con, sự mong chờ, vui mừng đón nhận của đôi vợ chồng trẻ. Nhà
thơ đã tạo một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt, hạnh phúc.
Ví dụ 3 : Phân tích khổ thơ :
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Nguyễn Duy – Ánh trăng)
Viết đoạn: Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới
Vớ d: Phõn tớch nhõn vt Phng nh trong truyn Nhng ngụi sao xa
xụi ca Lờ Minh Khuờ.
Truyn Nhng ngụi sao xa xụi ó thnh cụng v cỏch k chuyn, c bit
l ngh thut khc ha tõm lớ nhõn vt. Truyn ó lm sng li trong lũng ta hỡnh
nh tuyt p v nhng chin cụng phi thng ca t trinh ỏt mt ng. Chin
cụng thm lng ca Phng nh v ng i l bi ca anh hựng. Nhng ngụi
sao y luụn ta sỏng hn ta vi bao ngng m, bit n.
- Ngh lun v mt on th, bi th:
+ Khỏi quỏt giỏ tr, ý ngha: cú th v ngh thut, ni dung hoc v
trớ ca on th, bi th trong dũng vn hc y.
+ Hoc rỳt ra ý ngha giỏo dc.
Vớ d: Phõn tớch bi th Núi vi con ca Y Phng.
Bng t ng, hỡnh nh giu sc gi cm, nh th th hin tỡnh cm gia ỡnh
m m, ca ngi truyn thng cn cự, sc sng mnh m ca quờ hng v dõn
tc mỡnh. Bi th giỳp ta hiu thờm v sc sng v v p tõm hn ca mt dõn
tc min nỳi, gi nhc tỡnh cm gn bú truyn thng, vi quờ hng v ý chớ
vn lờn trong cuc sng.
Nhng ni dung trong phn kt bi ch l nh hng, khụng bt buc
pahir trỡnh by y khi vit bi. Giỏo viờn lu ý cho hc sinh, khi ht gi lm
bi cú th trỡnh by ngn gn v cm nhn ca mỡnh v nhõn vt (on th, bi
th) cng c.
Vớ d:
- Nhõn vt anh thanh niờn trong truyn ngn Lng l Sa Pa ó gi lờn trong
lũng ngi c v v p v ý ngha cu nhng cụng vic thm lng, cng hin
sc mỡnh cho cụng cuc xõy dng t nc.
- Th ca Vit Nam cú nhng cõu th, bi th hay vit v mựa thu. n lt
mỡnh, Hu Thnh li lm cho mựa thu cú mt hng sc mi.
*. Một số đề văn nghị luận xã hội từ các văn bản.
Đề số 1: Trong bài thơ Con cò nhà thơ Chế Lan Viên có viết:
Ngi thc hin : Nguyn Th Hng Trang
những việc vi phạm pháp luật để mẹ lo lắng, đau lòng Có thể phê phán tới cả
những hiện tợng mẹ ruồng rẫy, vất bỏ con, cha làm tròn trách nhiệm của ngời cha,
ngời mẹ
+ Liên hệ, mở rông đến những tình cảm gia đình khác: tình cha con, tình
cảm của ông bà và các cháu, tình cảm anh chị em để khẳng định đó là những tình
cảm bền vững trong đời sống tinh thần của mỗi ngời. Vì vậy mỗi chúng ta cần gìn
Ngi thc hin : Nguyn Th Hng Trang
Trang 17
SKKN Cỏch vit vn ngh lun 9
giữ và nâng niu. Tình cảm gia đình bền vững cũng là cội nguồn sức mạnh dựng
xây một xã hội bền vững, đẹp tơi.
Đề số 2: Lấy tựa đề Gia đình và quê h ơng - chiếc nôi nâng đỡ đời con,
hãy viết một bài nghị luận nêu suy nghĩ của em về nguồn cội yêu thơng của mỗi
con ngời. - Đề bài
này đợc dựa trên nội dung, ý nghĩa của bài thơ Nói với con của nhà thơ Y Ph-
ơng, một bài thơ đã viết rất thành công về gia đình và quê hơng bằng phong cách
rất riêng của một nhà thơ dân tộc.
- Bài viết của học sinh trên cơ sở kiến thức văn bản đó cần đảm bảo các yêu
cầu sau:
+ Khẳng định ý nghĩa của gia đình và quê hơng trong cuộc sống của mỗi
con ngời: Gia đình là nơi có mẹ, có cha, có những ngời thân yêu, ruột thịt của
chúng ta. ở nơi ấy chúng ta đợc yêu thơng, nâng đỡ, khôn lớn và trởng thành.
Cùng với gia đình là quê hơng, nơi chôn nhau cất rốn của ta. Nơi ấy có mọi nguời
ta quen biết và thân thiết, có cảnh quê thơ mộng trữ tình, có những kỉ niệm ngày
ấu thơ cùng bè bạn, những ngày cắp sách đến trờng Gia đình và quê hơng sẽ là
bến đỗ bình yên cho mỗi con ngời; dù ai đi đâu, ở đâu cũng sẽ luôn tự nhắc nhở
hãy nhớ về nguồn cội yêu thơng.
+ Mỗi chúng ta cần làm gì để xây dựng quê hơng và làm rạng rỡ gia
đình? Với gia đình, chúng ta hãy làm tròn bổn phận của ngời con, ngời cháu:
giúp học sinh có kĩ năng làm bài, gỡ bí cho học sinh nhất là đối tượng học sinh từ
trung bình trở xuống, đã từng bước nâng cao chất lượng học tập của học sinh ở
bộ môn Ngữ văn.
Tuy nhiên, đó chỉ là kinh nghiệm mang tính chất chủ quan, rất mong sự
đóng góp ý kiến, trao đổi, bổ sung của bạn đồng nghiệp
Lời cam đoan
Y kiến nhận xét của nhà trường Tân Ước, ngày 12 /10/2012
NGƯỜI VIẾT
Nguyễn Thị Hồng Trang
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 19
SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn – 8;
2. Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn – 9;
3. Phương pháp dạy học tích cực;
4. Tài liệu dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng;
5. Học tốt môn Ngữ văn 8, 9.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 20
SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
PHẦN NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 21
SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang
Trang 22
SKKN “ Cách viết văn nghị luận 9”
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Trang