ĐỀ TÀI
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN CHƯƠNG
CHO HỌC SINH LỚP 9 THCS
- Môn Ngữ Văn -
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI BÁO CÁO
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương
cho học sinh lớp 9 THCS
I. Lí do thực hiện nghiên cứu
1. Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản mà việc tạo lập là vô cùng khó đối với
học sinh THCS. Nó không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức chính xác sâu rộng, phong
phú; những suy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn chương, về đời sống xã hội, mà đòi
hỏi cả sự tư duy lôgíc, chặt chẽ, với những cách lập luận sắc sảo, thấu tình đạt lí thì
mới có thể hấp dẫn thuyết phục được người đọc người nghe.
2. Dạng bài mà học sinh phải tạo lập thì nhiều, mỗi dạng lại có những yêu cầu
cách thức nghị luận khác nhau. Nào là nghị luận văn chương, rồi nghị luận đời sống
xã hội. Trong đó, riêng nghị luận văn chương lại có những dạng cụ thể hơn nữa, kiến
thức lại phức tạp hơn.
Nghị luận văn chương gồm có nghị luận về một vấn đề văn học, một nhân vật
văn học, một tác phẩm hay đoạn trích văn học…Đó là chưa kể nhân vật thì có nhiều
kiểu, tác phẩm văn học thì có nhiều thể loại, với những đặc điểm không giống nhau.
3.Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập II, Ngữ văn 8- tập
II và Ngữ văn 9- tập II, có đưa ra những bài học về cách thức tạo lập văn bản nghị
luận, nhưng chưa đầy đủ cụ thể hệ thống để đáp ứng được việc tạo lập các văn bản mà
đề ra quá phong phú, đa dạng. Thời lượng dành cho việc học tập thực hành các dạng
bài nghị luận cũng là quá ít ỏi, không đầy đủ ở tất cả các dạng, nhất là ở lớp 9.
Lớp 7: Gồm 14 tiết, tìm hiểu chung về đặc điểm bài văn nghị luận, cách làm bài
trang bị qua chương trình sách giáo khoa, đề ra lại còn ngày càng mới lạ, vì ai ra đề
cũng không muốn lặp lại đề người khác ra rồi, năm trước làm rồi… Viết một bài nghị
luận đã được học đã khó, viết một bài không được hướng dẫn cụ thể trong chương
trình lại càng khó hơn.
4. Học sinh hiện nay, đa số không ham muốn học tập môn Ngữ văn, nhất là ngại
làm những bài văn. Thời gian các em chủ yếu đầu tư cho việc các môn thuộc khoa
học tự nhiên. Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một phần cũng do
làm văn quá khó, lại mất nhiều thời gian. “Công thức” làm văn cho các em lại không
được hình thành cụ thể. Các em không phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà
mình sử dụng. Càng ngày, kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh càng kém hơn, và rất
hiếm có những bài văn nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận
rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm luận cứ…Bài viết của các em
khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với nội dung
nghị luận của đề bài. Ví dụ, đề bài yêu cầu cảm nhận các em lại làm như một bài phân
tích, thiếu cảm xúc, thái độ tình cảm; đề bài yêu cầu nghị luận về một nội dung của
tác phẩm các em lại nghị luận về toàn bộ tác phẩm đó; các em không không phân biệt
được viết như thế nào là bài bình giảng, viết như thế nào là bài phân tích một đoạn thơ
bài thơ; hoặc khi nghị luận kết hợp giải quyết một ý kiến nào đó liên quan tới tác
phẩm, các em lại quên mất việc giải quyết ý kiến đó (quên giải thích ý kiến, quên
xoáy vào tác phẩm để làm rõ ý kiến) mà cứ sa vào nghị luận toàn bộ tác phẩm…
Nguyên nhân mấu chốt là học sinh thiếu kĩ năng hoặc còn non kém về kĩ năng
làm bài văn nghị luận.
Vậy nên, việc nâng cao mở rộng, luyện tập thêm cho học sinh kĩ năng làm bài
văn nghị luận là rất cần thiết.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
3
* Trong mỗi nội dung lớn nhỏ đều đã có ví dụ minh hoạ cụ thể. Phần cuối đề tài
là một số bài viết của các em học sinh đạt được trong và sau quá trình rèn luyện kĩ
năng làm văn này qua các năm học.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
4
NI DUNG BO CO
-------------* * *------------
Phn 1
Kĩ năng làm các dạng bài văn
nghị luận văn chơng
A. Mc tiờu cn t
Giỳp HS:
- Hiu v phõn bit c cỏc phộp ngh lun ( thao tỏc ngh lun) thng dựng trong
vn ngh lun: Gii thớch, chng minh, phõn tớch, cm nhn, bỡnh ging, bỡnh lun...
- Bit phõn bit vi phng phỏp lp lun s dng trong mt bi ngh lun c
th: quy np, din dch, tng ng, tng phn, nhõn qu, tng phõn hp,
- K nng s dng cỏc thao tỏc ngh lun v phng phỏp lp lun thụng qua cỏc
dng bi ngh lun c th i vi tng i tng ngh lun vn chng.
B. Ni dung dy hc
I. Bn cht ca cỏc phộp ngh lun trong vn ngh lun
1. Cỏc phộp ngh lun trong vn ngh lun
* Gii thớch:
- T in: Gii thớch l lm cho hiu rừ
- SGK Ng vn 7- tp II vit: Gii thớch trong vn ngh lun l lm cho ngi
c hiu rừ cỏc t tng, o lớ, phm cht, quan hcn c gii thớch nhm nõng
- Từ điển: Bình giảng là vừa bình vừa giảng. Bình là tỏ ý khen chê, nhằm đánh
giá bình phẩm. Giảng là trình bày kiến thức cặn kẽ cho người khác hiểu (giảng giải,
giảng nghĩa)
- Bình giảng trong văn nghị luận: Trong bài “ Muốn trở thành cây bút bình thơ”(
tập 45 – 1999), TS Chu Văn Sơn viết : “ Nhìn sâu vào bình giảng thì có thể thấy ngay
nó gồm có giảng và bình. Hai thao tác song song và chuyển hoá lẫn nhau này làm
thành văn bình giảng đó thôi. Bình về cơ bản là phần bình, là khen chê ( chủ yếu là
khen), là biểu dương. Thực chất là bộc lộ sự rung động, say mê, sự cảm kích, cảm
phục của mình trước áng văn, bài thơ, trước tâm hồn và tài hoa tác giả. Bộc lộ sự đánh
giá đề cao chân thành và sâu sắc vÒ giá trị của các bình diện nào đó của tác phẩm hoặc
tác giả. Mà nói chung, ngọn nguồn của lời bình bao giờ cũng phải là sự đồng cảm.
Tiếng nói của người bình là tiếng nói tri âm, dù lời bình rất cần đến sự hoa mĩ của
ngôn từ. Còn giảng là giảng giải, là cắt nghĩa, lí giải. Bởi thế lời bình thường ngắn,
còn phần giảng lại phải dài. Nếu bình thiên về cảm, thì giảng thiên về hiểu. Bình
nghiêng về những rung động tâm hồn thì giảng nghiêng về nhận thức trí tuệ. Bình là
sự thăng hoa, sự cất cánh còn giảng là sự đào sâu làm cơ sở, làm điểm tựa, làm đòn
bẩy cho việc cất cánh. Giảng càng thông tuệ bao nhiêu, bình càng dễ thăng hoa bấy
nhiêu! Bởi thế trong hai thao tác này, giảng rất gần với phân tích. Người nào hay lẫn
với phân tích là do bình ít mà giảng nhiều.”
* Cảm nhận: - Từ điển: Cảm nhận là nhận biết bằng cảm tính hoặc bằng giác quan.
- Trong văn nghị luận: Cảm nhận là phép nghị luận vừa trình bày những nhận
thức, hiểu biết, suy nghĩ về đối tượng bằng cảm tính hoặc bằng giác quan; vừa trình
bày những cản xúc, đánh giá về đối tượng ấy.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
6
Nghĩa là hiểu một cách nôm na rằng cảm nhận là phép lập luận có kết hợp giữa
phân tích và phát biểu cảm nghĩ ( học ở lớp 7), nhưng việc phân tích ở đây không đòi
dịch, tổng phân hợp….) để làm cho văn bản có sức thuyết phục, dễ hiểu…
TS Chu Văn Sơn đã viết trong bài “Muốn trở thành cây bút bình thơ” đăng trên
báo “Văn học & Tuổi trẻ” ( Tập 45 năm 1999) như sau: “ Thao tác cơ bản nhất của
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
7
văn nghị luận là phân tích. Bởi như bạn biết đấy, phân tích nếu chiết tự ra thì “phân”
hay “tích” đều có nghĩa là “cắt xẻ, tách ra”. Song tách ra không phải là để tách ra
mà như Từ điển đã định nghĩa “ Phân tích là cơ sở để tổng hợp, tổng hợp là mục tiêu
của phân tích”…Bởi đây là thao tác thông dụng nhất nên có thể định nghĩa cực
đoan: văn nghị luận là văn phân tích. Các thể văn cơ hồ chỉ khác nhau ở tính định
hướng, ở mục đích của việc phân tích thôi. Nếu phân tích nhằm minh hoạ, làm sáng
tỏ một vấn đề nào đó, ấy là bạn đang làm văn chứng minh. Còn phân tích nhằm cắt
nghĩa, lí giải một vấn đề nào đó thì sẽ là giải thích. Và tất nhiên, việc phân tích để
hướng vào bàn bạc tranh luận, trao đổi, đánh giá một vấn đề nào, thì tức là bạn đang
làm văn bình luận rồi…”
Như vậy muốn làm tốt các dạng bài nghị luận cần nắm vững kĩ năng phân tích,
vận dụng phân tích để luận điểm bài nghị luận đưa ra được rõ ràng, cụ thể,thuyết phục.
- Một số lưu ý cho việc phân tích:
a. Đối với một đoạn thơ, bài thơ: Phân tích là thường chia ra từng câu, từng
đoạn để xem xét nghệ thuật, nội dung. Cũng có trường hợp phân tích theo từng
phương diện nội dung của bài thơ, đoạn thơ.
VD: Phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận)
b. Đối với một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: Phân tích lại thường chia ra hai
phương diện nội dung và nghệ thuật để xem xét. Khi phân tích từng phương diện ấy
lại cần thiết xem xét kĩ sâu sắc ở từng nhân vật sự việc, từng đặc sắc nghệ thuật…
Cũng có khi phân tích theo bố cục, cuối cùng tổng hợp lại đặc sắc về nội dung và
d. Đối với một phương diện của tác phẩm đoạn trích:Tuỳ theo nội dung đề yêu
cầu phân tích, mà chia tành từng yếu tố, từng biểu hiện nhỏ để xem xét, chứng minh,
làm rõ
* Tổng hợp:
- Là quá trình ngược lại với phân tích, là phép rút ra những điểm chung, khái
quát từ những đặc điểm, phương diện riêng lẻ vừa phân tích
- Có phân tích thì mới có tổng hợp. Nếu phân tích mà không tổng hợp thì sự phân
tích sẽ mất đi nhiều ý nghĩa. Tổng hợp khái quát mà không dựa vào phân tích thì sẽ
thiếu cơ sở, không thuyết phục. Chỉ có thể rút ra những kết luận đúng khi dựa trên sự
phân tích sâu sắc kĩ càng, xem xét sự vật hiện tượng một cách toàn diện, cụ thể…
- Tổng hợp thường diễn đạt bằng những câu cuối đoạn, những đoạn cuối bài và
thường có thể dùng các từ ngữ chuyển tiếp từ phân tích đến tổng hợp: Tóm lại, như
vậy, rõ ràng, nói một cách tổng quát,…
- Một số cách thức tổng hợp:
+ Tổng hợp sau khi phân tích một đoạn thơ, bài thơ, tác phẩm truyện…: là khái quát
lại toàn bộ những nét giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc nhất của bài thơ đoạn thơ.
VD: Tổng hợp sau khi phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” ( Truyện KiềuNguyễn Du)
“ Kiều ở lầu Ngững Bích” là một trong những đoạn thơ tả chảnh ngụ tình thành công
nhất trong “Truyện Kiều”. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ đáng thương của Thuý Kiều trong
những ngày đầu sau khi bán mình cho Tú Bà, Mã Giám Sinh, đồng thời ngợi ca tấm lòng thuỷ
chung, hiếu thảo, vị tha của nàng .”
+ Tổng hợp sau khi phân tích một nhân vật là khái quát lại về cuộc đời, đặc điểm
phẩm chất của nhân vật.
+ Tổng hợp sau khi phân tích một sự việc hiện tượng thì cần khái quát lại tất cả
những điều đã phân tích một cách ngắn gọn (chú ý ở nguyên nhân, lợi hại ).
VD: Phân tích cái hại của việc hút thuốc lá.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
bài thơ, ta như gặp lại người bà dấu yêu của mình, và được trở về với những ngày xưa tưởng
như đã ngủ quên trong kí ức.”
3 . Phân biệt phép nghị luận và phương pháp lập luận
a. Phép nghị luận ( cßn gäi lµ thao t¸c nghÞ luËn):
- Phép nghị luận có thể hiểu là phương pháp bàn và đánh giá cho rõ về một vấn
đề nào đó. Như đã trình bày ở trên thì mỗi phép nghị luận có những yêu cầu khác
nhau về mức độ, tính chất của việc bàn luận đánh giá một vấn đề. Chính phép nghị
luận đã chi phối tới ngôn ngữ, nội dung của bài nghị luận.
- Phép nghị luận thường được thể hiện rõ ngay ở yêu cầu đề bài nghị luận. Đó
chính là những mệnh lệnh đề.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
10
b. Phương pháp lập luận
- Từ điển Tiếng Việt viết: “Lập luận là trình bày lí lẽ một cách có hệ thống, có
logic nhằm chứng minh cho một kết luận về một vấn đề.”
- Lập luận là một trong ba yếu tố cơ bản của bài văn nghị luận. SGK Ngữ Văn 7tập 2, trong bài “Đặc điểm của bài văn nghị luận” có viết: “ Mỗi bài văn nghị luận
đều phải có luận điểm, luận cứ và lập luận”. “ Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn
đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài văn mới có tính thuyết phục.”
- Nếu phép nghị luận là yêu cầu chung cho tất cả những bài văn nghị luận có
cùng một dạng, thì phương pháp lập luận lại yêu cầu cụ thể cho từng bài văn, cho
từng đoạn văn, và bài văn đoạn văn nào cũng có thể lựa chọn sử dụng linh hoạt những
phương pháp lập luận (mỗi bài văn, đoạn văn là trình bày một luận điểm). SGK Ngữ
Văn 7- tập 2 viết ở bài “ Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận”
như sau: “Để xác lập luận điểm trong từng phần và mối quan hệ giữa các phần ta có
thể sử dụng các phương pháp lập luận khác nhau như suy luận nhân quả, suy luận
tương đồng…”. Nghĩa là, ta có rất nhiều cách trình bày luận cứ để làm thuyết phục
+ Giọng điệu chủ đạo của bài thơ, đoạn thơ như thế nào?
+ Bài thơ, đoạn thơ gợi liên tưởng đến đoạn thơ, bài thơ nào?
+…
- Tuỳ theo yêu cầu về thao tác nghị luận và đối tượng nghị luận cụ thể để có cách
khai thác, lập luận và diễn đạt phù hợp. Khi làm bài có thể vận dụng phép so sánh đối
chiếu với những câu thơ, đoạn thơ khác của tác giả hoặc của tác giả khác. Nếu là đề
mở, cần vận dụng linh hoạt các thao tác nghị luận phù hợp, có hiệu quả, nhất là thao
tác giảng bình.
2. Kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ
- Khi nghị luận cần đặt đoạn thơ trong mạch cảm xúc chung của toàn bài để có
những lí giải phù hợp.
- Sau khi phân tích, bình giá những khía cạnh nội dung và nghệ thuật, cần đánh
giá vẻ đẹp riêng của đoạn thơ đó và vai trò vị trí của đoạn thơ đối với cả bài. Thậm
chí từ một đoạn thơ, cần bước đầu thấy được phong cách nghệ thuật của tác giả.
- Dàn bài :
a. Mở bài:
+ Giới thiệu khái quát về tác giả (chỉ nên giới thiệu vị trí văn học của tác giả,
không đi sâu vào các phương diện khác)
+ Giới thiệu về bài thơ
+ Dẫn đoạn thơ cần nghị luận và nêu khái quát những ấn tượng chung về đoạn
thơ đó ( hoặc nên khái quát nội dung đoạn thơ)
b.Thân bài: Tiến hành nghị luận về các yếu tố nghệ thuật, các phương diện nội
dung của đoạn thơ. Chú ý làm nổi bật và nhấn mạnh hơn ở những đặc sắc về nội dung
và nghệ thuật. Mức độ phân tích, đánh giá, nhận xét, và bày tỏ cảm xúc, tình cảm của
mình về đoạn thơ cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu về thao tác nghị luận
cơ bản của từng đề ra.
c. Kết bài: Đánh giá vai trò ý nghĩa của đoạn thơ trong việc thể hiện chủ đề tư
tưởng của toàn bài. Nêu những cảm nghĩ, ấn tượng sâu đậm nhất về đoạn thơ.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
b. Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về đoạn thơ trên.
Tham khảo:
“ …Vẫn là nắng mưa, sấm chớp, bão giông như mùa hạ, nhưng mức độ đã khác rồi. Để
ý sẽ thấy cái gì cũng bắt đầu đi vào chừng mực, vào thế ổn định. Và cái “đứng tuổi” của cây
là một cái chốt cửa để mở sang một thế giới khác: Thế giới sang thu của hồn người. Vẻ chín
chắn điềm tĩnh của cây trước sấm sét bão giông hay đó chính là sự từng trải chín chắn của
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
13
con người sau những dâu bể của cuộc đời?Ở vào cái tuổi ấy, con người một mặt sâu sắc thêm,
mặt khác lại khẩn trương gấp gáp hơn vì quỹ thời gian không còn nhiều nữa. Thì ra trước mắt
việc đi mãi, ngoảnh đầu thu đến rồi. Bốn mùa luân chuyển vô hình, lặng lẽ: bỗng chợt thu.
Đời người vất vả, tất bật bận rộn, lo toan bỗng chốc thấy mái tóc pha sương: sững sờ nhìn
mình cũng đã sang thu. Hiểu như vậy ta càng thấy trân trọng biết bao với tâm hồn nhạy cảm
trước những đổi thay của thiên nhiên đất trời, với tình yêu thiên nhiên, niềm tha thiết yêu cuộc
sống của nhà thơ. Và cũng thực sự cảm ơn nhà thơ đã đem đến cho người đọc chúng ta
những triết lí sâu sắc về sự từng trải của đời người.
b. Phân tích đoạn thơ trên.
Tham khảo:
“ Sang thu, cảnh vật thời tiết thay đổi. Tất cả còn những dấu hiệu mùa hạ nhưng đang
giảm dần mức độ, cường độ từ gay gắt chuyển hoá thành êm dịu. Phép tiểu đối giữa “nắng”
và “mưa”, “vẫn còn” và “đã vơi” “ cũng bớt” thể hiện sự phân hoá mong manh giữa hai
mùa.Bởi vì làm sao có thể đong đếm đầy vơi những dấu hiệu của thiên nhiên lúc giao mùa.
Khi đất trời sang thu, những hàng cây lâu năm không còn bất ngờ trước những tiếng sám
chuyển mùa nữa. “ Sấm” và “ hàng cây đứng tuổi” là những hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ sử
dụng một cách có chọn lọc. “Sấm” chỉ những vang động sóng gió của cuộc đời. Còn “hàng
cây đứng tuổi” chỉ những con người từng trải, thường điềm tĩnh hơn, chín chắn thêm trước
những vang động sóng gió cuộc đời. Rõ ràng, từ những thay đổi của mùa thu thiên nhiên, khổ
a. Mở bài
+ Giới thiệu khái quát về tác giả ( vị trí văn học, phong cách nghệ thuật của tác
giả mà không đi sâu vào những phương diện khác).
+ Giới thiệu bài thơ, nội dung bao trùm bài thơ
+ Bước đầu đánh giá về bài thơ đó (tuỳ theo đề bài và nội dung cụ thể của bài thơ
mà đưa ra những đánh giá, nêu ấn tượng cho phù hợp…)
b.Thân bài
+ Có thể nêu sơ qua hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
+ Tiến hành thuyết minh, phân tích, bình giảng, nêu cảm xúc về lần lượt từng
khổ thơ đoạn thơ (theo bố cục) các phương diện cụ thể của bài thơ. Chú ý, làm nổi bật
được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật. Trong khi trình bày, có thể liên hệ so
sánh với những bài thơ, đoạn thơ, câu thơ khác để ý được nổi bật, thuyết phục.
c.Kết bài:
+ Đánh giá vai trò vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp văn học của tác giả, đối với
văn học dân tộc nói chung
+ Khẳng định lại những cảm xúc, những suy nghĩ tâm đắc nhất về bài thơ.
Ví dụ: Cảm nhận về bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của
Nguyễn Khoa Điềm.
1. Mở bài: Giới thiệu bài thơ và nêu những ấn tượng chung về bài thơ
2. Thân bài:
- Cảm nhận chung về hình thức kết cấu bố cục của bài thơ: chia ba đoạn, với ba khúc ru,
ba khúc ru có sự đan xen lời ru của tác giả và lời ru của người mẹ dành cho em bé. Ba khúc
ru được lặp lại những câu đầu, được sắp xếp theo trình tự tăng tiến, với sự mở rộng về không
gian, về tính chất công việc người mẹ làm, đặc biệt về sự nâng cao phát triển trong tình cảm,
ước mơ của người mẹ…Nhờ thế vẻ đẹp của hình tượng người mẹ cũng như tình cảm của tác
giả dành cho mẹ cũng được nhấn mạnh, tô đậm hơn lên.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
15
- Dàn bài :
Mở bài: Giới thiệu bài thơ và phương diện nội dung hay nghệ thuật mà đề bài
yêu cầu nghị luận. Đồng thời nêu ấn tượng chung về giá trị của phương diện đó trong
toàn bài thơ.
Thân bài: Bám vào bài thơ để tìm các hình ảnh, câu từ liên quan đến vấn đề
nghị luận để khai thác trình bày.
Kết bài: Khẳng định giá trị chung của cả bài thơ nói chung và của nội dung vừa
nghị luận nói riêng. Có thể liên hệ mở rộng.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
16
Ví dụ 1: Vẻ đẹp của tình bà cháu trong bài thơ “Bếp lửa” ( Bằng Việt)
a. Mở bài: giới thiệu tình bà cháu trong bài thơ và ấn tượng chung về tình cảm đó.
b. Thân bài:
* Vẻ đẹp của tình bà thiêng liêng, cao cả
- Bà đã hết lòng yêu thương, dạy bảo, chăm sóc cháu, sẻ chia những buồn vui cùng
cháu. bà vừa là người bà của cháu, đồng thời cũng là người mẹ người cha, người bạn của
cháu vậy.
- Bà đã thắp sáng lên ngọn lửa của tình yêu thương, của ý chí nghị lực, của sức sống
mãnh liệt và niềm tin tưởng trong lòng cháu
-> Bà là người chuẩn bị cho cháu đầy đủ hành trang để vào đời, để cháu lớn khôn
trưởng thành; là người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa cho bao thế hệ cháu con…
* Vẻ đẹp của tình cháu dành cho bà: Sâu nặng, chân thành…
- Cháu thương bà vất vả, khó nhọc, lo lắng và quan tâm bà…
- Biết nghe lời bà
- Cháu yêu quý, tự hào, ngợi ca, biết ơn bà
- Khi xa bà cháu đã nhớ bà da diết khôn nguôi, nỗi nhớ mang nặng cả tình thương yêu,
lòng biết ơn, quý trọng…
( GV có thể đọc bài viết của Nguyễn Minh Trang- Lớp 9,
THCS Chu Văn An- Hải Phòng, đăng trên “Văn học & Tuổi trẻ”cho HS tham khảo)
Dạng 3: Nghị luận về nhân vật trữ tình trong bài thơ
- Nhân vật trữ tình ở đây là người bày tỏ thể hiện cảm xúc, chứ không phải là
nhân vật là đối tượng trữ tình trong bài thơ. Vậy nên, nghị luận về nhân vật này là
nghị luận về diễn biến tâm trạng, tình cảm cảm xúc của nhân vật thể hiện trong bài
thơ. Có nhân vật trữ tình trực tiếp (thường là tác giả, tự xưng) và nhân vật trữ tình
nhập vai ( nhập vai vào một nhân vật khác, nhưng đằng sau đó vẫn là tâm tư tình cảm
của tác giả gửi gắm thể hiện).
- Tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình luôn có sự vận động, phát triển thay
đổi. Muốn nắm bắt được điều này, thường chúng ta nên phân chia bài thơ ra từng
phần đoạn tương ứng với tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của tâm trạng được thể hiện
trong đó.
- Lần theo mạch cảm xúc đó để phân tích, trình bày những suy nghĩ, nhận xét của
mình.Khi trình bày cần cùng lúc phải chú ý hai điểm: Một là các tín hiệu nghệ thuật
tiêu biểu ( chi tiết, hình ảnh, cách ngắt nhịp, cách dùng từ, biện pháp tu từ… ). Hai là,
tâm tư tình cảm mà tác giả thể hiện qua những tín hiệu nghệ thuật đó.
- Sau khi phân tích cần tổng hợp, khái quát nâng cao theo cách định danh, gọi tên
cho tâm trạng, cảm xúc, tình cảm.
- Có thể liên hệ tới tâm trạng của những nhân vật khác tương đồng hoặc tương
phản để bài viết sâu sắc hơn.
- Nên có những lời bình, bày tỏ thái độ nhận xét của mình về nhân vật để bài viết
có dấu ấn riêng.
Tóm lại, có thể đặt ra và trả lời những câu hỏi sau:
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
18
đất nước, trước sức trỗi dậy vươn lên, sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc ta trong thời kì đổi
mới.( phân tích dẫn chứng)
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
19
- Càng yêu mến, tự hào về quê hương đất nước, nhà thơ càng thiết tha, khao khát được
cống hiến, đóng góp một phần nhỏ bé của mình- một mùa xuân nho nhỏ, mong muốn nhắn nhủ
mọi thế hệ chúng ta hãy chung tay vào góp sức xây dựng đất nước để cho mùa xuân đất nước
sẽ càng tươi đẹp hơn. ( phân tích dẫn chứng)
- Cả bài thơ là một khúc ca xuân, một khúc ca tự hào, ngợi ca đất nước quê hương
( phân tích kĩ hơn ở khổ cuối) của nhà thơ, của những con người yêu đất nước thiết tha.
c. Kết bài:
- Khẳng định: Tình yêu thiên nhiên, đất nước với những cảm xúc chân thành thiết tha
của Thanh Hải chính là một nội dung cơ bản làm nên giá trị, sức sống lâu bền của bài thơ.
- Cảm nghĩ, rút ra bài học cho bản thân, cho thế hệ trẻ về lí tưởng sống, cống hiến…
*** Lưu ý: Nếu nhân vật là đối tượng trữ tình thì phân tích, khai thác như nhân
vật trong tác phẩm tự sự ( theo từng đặc điểm, từng biều hiện về ngoại hình, về cuộc
đời, cuộc sống, về cử chỉ, hành động….khái quát lên phẩm chất tính cách nhân vật).
II.2. Kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm truyện(đoạn trích)
1. Kĩ năng chung
- Đối với một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, khi nghị luận ta cần chú ý khai
thác những yếu tố hình thức như nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tình huống truyện,
nghệ thuật miêu tả xây dựng nhân vật ( thông qua ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời
nói, nội tâm…), việc sáng tạo những chi tiết, những hình ảnh giàu ý nghĩa, hay việc
sử dụng các biện pháp tu từ…Từ đó làm toát lên giá trị nội dung của tác phẩm ( nội
dung hiện thực, nội dung tư tưởng).
thực đời sống, số phận con người, hay hiện thực bức tranh xã hội đất nước…).Từ nội
dung hiện thực, chuyển qua nghị luận về giá trị nội dung tư tưởng (tư tưởng nhân đạo,
tư tưởng yêu nước, những triết lí suy ngẫm của tác giả thể hiện qua tác phẩm, sức
sống mãnh liệt của con người…)
+ Cần khái quát được những nét nghệ thuật thành công của tác phẩm, chọn và
phân tích chứng minh một số nét nghệ thuật tiêu biểu nhất như nghệ thuật xây dựng
nhân vật, tạo tình huống… (có dẫn chứng).
Trình tự trình bày giữa các các ý, các đoạn là do người viết lựa chọn sao cho
phù hợp, dễ lập luận…
- Đánh giá khái quát được giá trị, vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của
tác giả và sự đóng góp của tác giả vào nền văn học nước nhà.
- Trong qua trình nghị luận có thể dùng phương pháp so sánh với những tác
phẩm tác giả khác để bài viết sâu sắc hơn.
- Dàn bài chung:
a. Mở bài:
+ Giới thiệu về tác phẩm, đoạn trích ( xuất xứ, giá trị)
+ Nêu ấn tương chung về tác phẩm, đoạn trích
b. Thân bài: Nên lần lượt trình bày các ý cơ bản sau
+ Tóm tắt thật ngắn gọn nội dung hoặc cốt truyện của tác phẩm đề làm nền cho
việc nghị luận về giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm.
+ Nghị luận về giá trị nội dung (thường tiến hành trước): Mỗi nội dung trình bày
một đoạn, có phân tích nhân vật, sự việc để làm rõ.
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
21
+ Nghị luận về nghệ thuật: Chỉ cần trình bày một đoạn, tập trung phân tích kĩ ở nét
nghệ thuật thành công nhất, còn những nghệ thuật khác có thể chỉ cần liệt kê ra mà thôi.
c. Kết bài: Khẳng định, nâng cao về giá trị tp, tài năng nghệ thuật, tư tưởng tình
về vấn đề, về tác phẩm…
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
22
Ví dụ 1( Nghị luận về một phương diện nghệ thuật): Hãy phân tích đoạn trích “ Kiều
ở lầu Ngưng Bích” để thấy được ngòi bút tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du.
Gợi ý: Phải biết chọn những câu, những hình ảnh tiểu biểu có sử dụng nghệ thuật tả
cảnh ngụ tình để phân tích chứng minh.
a. Mở bài: Giới thiệu: Tả cảnh ngụ tình là một biện pháp nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn
Du trong “ truyện Kiều” nói chung và đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” nói riêng.
b. Thân bài:
- Giải thích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: Là một biện pháp nghệ thuật mà thông qua việc
tả cảnh, người viết muốn gửi gắm thể hiện tâm tư tình cảm của con người
- Hầu hết các câu thơ tả cảnh trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du đều sử dụng biện
pháp nghệ thuật này. Chính Nguyễn Du đã từng viết: “ Người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ”.Đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn tả cảnh ngụ tình hay
nhất của tác phẩm.
- Bốn câu đầu đoạn trích, từ việc dùng nghệ thuật liệt kê, đối ngữ, dùng từ ngữ gợi hình
gợi cảm tác giả miêu tả khắc hoạ một khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích thãm đẫm
tâm trạng nhân vật. Hình ảnh cảnh vật thì ngổn ngang “ Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm
kia…” như sự ngổn ngang trăm nỗi tơ vò của Thuý Kiều . Không gian bát ngát bốn bề, sắc
màu đậm như loang ra, hình ảnh con người hiện ra trở nên bé nhỏ…đó chính là khung cảnh
gợi sự cô đơn, lẻ loi, tâm trạng thẫm đẫm nỗi buồn của Kiều trong cảnh ngộ lưu lạc tha
hương, xa người yêu, xa gia đình…Cảnh như thế, lòng người như thế và Nguyễn Du đã khái
quát thật chính xác trong câu cuối đoạn: “ Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”.
- Tám câu cuối: Cảnh được miêu tả dưới cái nhìn rất buồn của Thuý Kiều, cho nên cảnh
mang đậm nỗi buồn nhân vật.Đặc biệt qua mỗi hình ảnh thiên nhiên khác nhau,tác giả gợi
một cảnh ngộ, một nỗi buồn riêng của nàng Kiều.
tặng con gái. Và khi bị thương trong một trận càn, trước lúc nhắm mắt ra đi, ước nguyện lớn
nhất của ông Sáu là nhờ đồng chí của mình chuyển cây lược ấy tới tận tay con, như thể gửi
trao tấm lòng, trái tim mình cho con vậy.
+ Suy nghĩ về tình cảm cha con nói riêng và những mất mát của nhân dân ta trong
hoàn cảnh chiến tranh éo le; suy nghĩ về tình cảm gia đình, tình cha con trong cuộc sống thời
hiện đại.
c. Kết bài: Khẳng định tình cảm cha con sâu sắc, thiêng liêng, bất tử; rút ra bài học về
tình cảm gia đình…
Dạng 3. Nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm, đoạn trích
- Phải xác định được nhân vật cần nghị luận thuộc kiểu loại nhân vật nào (nhân
vật chính hay phụ, có phải là nhân vật tư tưởng không…), có vai trò như thế nào trong
tác phẩm?
- Tuỳ từng kiểu loại nhân vật để khai thác phân tích cho phù hợp; nhưng cơ bản
đều dựa vào những biểu hiện về nguồn gốc lai lịch, về hoàn cảnh cuộc sống, về ngoại
hình, ngôn ngữ, hành động, và nội tâm để phát hiện ra những đặc điểm tiêu biểu về
cuộc đời, phẩm chất…
- Khi nghị luận về nhân vật, chú ý khái quát, nâng cao nhân vật ấy xem nhân vật
có đại diện, tiêu biểu cho tầng lớp, thế hệ nào không.
- Dàn bài:
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
24
a. Mở bài:
+ Giới thiệu nhân vật
+ Nêu ấn tượng chung về nhân vật (tránh nêu ra cả những đặc điểm của nhân vật
khi trong đề bài không giới hạn trước).
25