RÈN KỸ NĂNG VIẾT KIỂU BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 9 - Pdf 33

Phòng GD&ĐT Vĩnh Tờng
Trờng thcs thợng trng

Chuyên đề bồi bồi dỡng học sinh giỏi THCS
Môn: Ngữ văn

Rèn kĩ năng viết kiểu bài nghị
luận văn học cho học sinh giỏi lớp
9
GV : Lê Thị Minh Huệ

Năm học: 2015 - 2016
==================
A.

1


Chuyên đề “Rèn kĩ năng viết kiểu bài nghị luận văn học cho học sinh
giỏi lớp 9”
Người viết: Lê Thị Minh Huệ - giáo viên trường THCS Thượng Trưng
Đối tượng bồi dưỡng: học sinh giỏi lớp 9
Số tiết bồi dưỡng: 20 tiết
Cấu trúc chuyên đề
A. Đặt vấn đề
B.Nội dung chuyên đề
Phần I: Những vấn đề chung
1. Đặc trưng của bài nghị luận văn học.
2. Các dạng đề nghị luận văn học thường gặp trong đề thi HSG
3. Yêu cầu đối với học sinh giỏi khi viết bài nghị luận văn học
Phần II. Rèn kĩ năng viết kiểu bài nghị luận văn học cho học sinh giỏi lớp

trọng nhất. Điều này hoàn toàn phù hợp với vai trò, vị trí môn học. Kĩ năng viết
các kiểu bài nghị luận văn học đã được bàn luận đến rất nhiều trong các hội
thảo, trên nhiều diễn đàn. Hơn nữa bồi dưỡng học sinh giỏi không có một giáo
án, một mô típ chung nào mà hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm, sự nỗ lực tìm tòi
không ngừng của thầy cô. Hiểu được điều ấy cá nhân tôi rất phân vân khi đi sâu
vào vấn đề này. Song qua thực tế trải nghiêm tôi thấy trong khi viết bài nghị
luận văn học trong mỗi kì thi học sinh giỏi các em còn nhiều hạn chế. Vì vậy
3


trong chuyên đề, tôi muốn trao đổi cùng đồng nghiệp vấn đề “Rèn kĩ năng viết
kiểu bài nghị luận văn học cho học sinh giỏi lớp 9” để mong tìm được giải pháp
chung giúp học sinh viết bài tốt nhất, hiệu quả nhất trong mỗi kì thi.

B. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
4


Phần I. Những vấn đề chung.
1. Đặc trưng của bài nghị luận văn học.
- Văn nghị luận là dùng ý kiến lý lẽ, dẫn chứng và cách lập luận để bàn
bạc, phân tích, đánh giá một vấn đề nào đó. Vấn đề đó có thể là xã hội hoặc văn
học.
- Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận
là các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học,…
- Yêu cầu bài văn nghị luận: Phải đúng hướng, phải trật tự, phải mạch
lạc, phải trong sáng, phải sinh động, hấp dẫn, sáng tạo.
- Những thao tác chính của văn nghị luận văn học: giải thích, chứng minh,
phân tích, bình luận, bình giảng, so sánh,…
- Khi hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận văn học cần chú ý các

thức văn học sử, tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung, nghệ thuật… Điều này
tưởng như đơn giản và thừa đối với học sinh giỏi. Song đôi khi do sự chủ quan
cũng có học sinh nắm chưa chắc kiến thức nên dễ hiểu sai, hiểu chưa đúng
những nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật mà tác giả thể hiện nên dễ suy
diễn lệch lạc.
- Tích luỹ kiến thức về lý luận văn học trong những buổi bồi dưỡng của
thầy cô. Đối với đối tượng là học sinh giỏi, được trang bị kiến thức lý luận văn
học giúp học sinh có những bình luận, đáng giá, nhận xét chuẩn xác hơn về một
hiện tượng văn học nào đó, bài viết của các em trở nên sâu sắc hơn về ý tưởng,
chặt chẽ hơn về lập luận, thuyết phục hơn khi đưa ra luận cứ.
Thực tế các kỳ thi học sinh giỏi cho thấy đề thi có liên quan đến kiến thức
lý luận văn học chiếm một tỉ lệ khá lớn, dù với những dạng khác nhau.
Có những đề thi yêu cầu trực tiếp kiến thức lý luận để giải quyết vấn đề,
giải quyết một hiện tượng văn học. Có những đề thi yêu cầu vận dụng một tỉ lệ
kiến thức lý luận nhất định… Vì vậy trong quá trình giải quyết vấn đề cần có
kiến thức này để cho bài văn thêm vững vàng về luận điểm, chặt chẽ trong lập
luận, từ đó sẽ có sức thuyết phục hơn.

6


- Biết so sánh đối chiếu nét tương đồng và khác biệt giữa hai tác giả, tác
phẩm ở cùng thời đại hoặc khác thời đại… Đây là kĩ năng khó. Vì vậy người
viết không chỉ cần hiểu kĩ, hiểu sâu mà cần cả độ cảm nhận sâu sắc, tinh ý để
thấy được điểm gặp gỡ tương đồng hay khác biệt ở các tác giả, tác phẩm.
b. Về kĩ năng
- Tổng hợp các kĩ năng nghị luận để lập luận chặt chẽ thuyết phục.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận (luận đề) và hệ thống luận điểm, luận cứ
để có kết cấu bài rõ ràng, khoa học. Biết phân tích và đưa dẫn chứng tiêu biểu
phù hợp với hệ thống luận điểm để nổi bật trọng tâm bài viết, tránh trùng lặp.

Yêu cầu về kiến thức: Học sinh phải nắm được kiến thức về lý luận văn
học, về văn học sử, về tác phẩm, về phong cách tác giả, quan điểm sáng tác…
Kiến thức có được là nhờ vào cả một quá trình tích luỹ, tổng hợp trong cả
quá trình học tập, từ sách giáo khoa, từ các bài giảng của thầy cô…
Yêu cầu về phương pháp: Phải hiểu đúng toàn diện nội dung, tinh thần
của ý kiến, nhận định để xác định đề bài đề cập đến vấn đề gì, bản chất của vấn
đề là gì?
Khi phân tích, chứng minh nhận định, học sinh phải biết nhìn nhận xem ý
kiến, nhận định đó xác đáng chưa, sâu sắc chưa, có khía cạnh nào phải bàn thêm
không, nếu có chúng ta cũng có thể sử dụng thao tác bình luận để làm sáng rõ
quan điểm của mình.
Kĩ năng cho từng kiểu bài:
- Nghị luận về một giai đoạn văn học( thường là dạng đề tổng hợp)
Nghị luận về một giai đoạn văn học: thường là các ý kiến bàn bạc, nhận
định, khái quát chung về văn học Việt Nam, về các giai đoạn văn học, về các tác
giả văn học,… Để lập ý và viết tốt bài văn thuộc dạng đề này, học sinh cần nắm
được các yếu tố về hoàn cảnh lịch sử của giai đoạn văn học hoặc đặc điểm thời
đại và hoàn cảnh sống của tác giả, lý giải được tại sao có những đặc điểm đó,
nêu những biểu hiện của đặc điểm đó trong các tác phẩm, thấy đóng góp của vấn
đề trong tiến trình phát triển của văn học. Với kiểu bài này học sinh phải có kiến

8


thức tổng hợp về văn học, về lịch sử…Tuy nhiên, vài trở lại đây, đề học sinh
giỏi ít ra dạng đề này.
Ví dụ:
Đề: Đánh giá về thành tựu của văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng
Tám - 1945 có ý kiến cho rằng:
“ Về nội dung tư tưởng, văn học thời kì này đã phát huy được những nét lớn

luận văn học như tiếp nhận văn học, phong cách nghệ thuật,… Để viết được bài
văn hay và đúng cho kiểu bài này, học sinh cần có kiến thức lí luận sâu sắc để
giải thích, cắt nghĩa và làm nổi bật vấn đề nghị luận. Đồng thời khi lập ý cho bài
viết, học sinh cần xác định rõ vấn đề nghị luận, bàn đến vấn đề gì, thuộc phạm
vi nào? Tại sao lại nói như thế? Nội dung ấy được biểu hiện như thế nào qua tác
phẩm văn học tiêu biểu?
Ví dụ:
Đề: Trong văn bản ” Tiếng nói của văn nghệ”, Nguyễn Đình Thi viết:
“Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn
ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói
một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh
muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh”.
( Ngữ Văn 9, Tập II, Tr 12,13- NXB GD 2005)
Qua “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, em hãy làm sáng tỏ “ điều mới
mẻ”, “lời nhắn nhủ” mà nhà thơ Phạm Tiến Duật muốn đem “góp vào đời
sống”.
Với đề trên, học sinh cần huy động kiến thức lí luận văn học về tác phẩm văn
học để giải thích sơ lược tinh thần đoạn văn của Nguyễn Đình Thi từ đó rút ra
vấn đề nghị luận. Đồng thời qua quá trình lập luận người viết dùng kiến thức lí
luận để làm sáng tỏ vấn đề trong “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
+ Nội dung của một tác phẩm nghệ thuật là hiện thực cuộc sống và những
khám phá, phát hiện riêng của người nghệ sĩ.
+ Những khám phá, phát hiện ấy chính là điều mới mẻ góp phần quan
trọng tạo nên giá trị của một tác phẩm nghệ thuật và mang theo thông điệp của
người nghệ sĩ.

10


Giải thích được như vậy học sinh sẽ làm sáng tỏ “ điều mới mẻ”, “lời



vấn đề đó trong từng tác phẩm; lý giải nguyên nhân vì sao có sự giống nhau và
khác nhau đó.
Ví dụ:
Đề : Nét tương đồng và khác biệt trong cảm hứng trữ tình của Bằng Việt
và Nguyễn Duy qua hai bài thơ “Bếp lửa” và “Ánh trăng”.
Với đề trên cần giúp học sinh:
- Giải thích được trữ tình và cảm hứng trữ tình
- Chỉ ra và phân tích được tương đồng và khác biệt trong cảm xúc của
Nguyễn Duy và Bằng Việt được thể hiện trong hai bài thơ.
- Đánh giá được sự tương đồng, khác biệt ấy thể hiện tài năng, cá tính và
sự sáng tạo của các tác giả…
( Minh họa cụ thể ở phần III, đề 2)
2. Kĩ năng viết bài cụ thể.
a. Tìm hiểu đề và tìm ý
Đây là một thao tác quan trọng và việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh là
điều vô cùng cần thiết để giúp học sinh không lạc đề, xa đề và làm chủ được vấn
đề nghị luận. Thực ra đây là một thao tác mà các bài lý thuyết văn nghị luận đã
đề cập tới nhưng sự quan tâm của học sinh chưa nhiều và các em chưa có ý thức
rèn nó thành một kĩ năng.
Hơn nữa đề học sinh giỏi bao giờ cũng gắn với một nhận định(nhận định
về tác phẩm, nhận định lý luận văn học… ). Vì vậy vấn đề nghị luận( luận đề)
nằm trong nhận định ấy. Nếu không tìm hiểu, phân tích kĩ đề học sinh sẽ không
xác định đúng vấn đề nghị luận.
Việc đầu tiên là giáo viên yêu cầu học sinh đọc thật kĩ đề, gạch dưới
những từ ngữ quan trọng để “hiểu ý người ra đề”.
Ví dụ - đề: “Một tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc
chính là xây dựng thành công tình huống truyện và nghệ thuật miêu tả nội
tâm nhân vật”.

trạng phơi phới nghe tin thắng trận, giữa lúc ông đang ngóng vọng, tự hào về làng.

14


+ Tâm trạng đau xót, tủi hổ dằn vặt, day dứt, lo lắng, bế tắc, tuyệt vọng.
Từ chỗ yêu làng trở nên thù làng. Từ chỗ không muốn xa làng đến chỗ không
muốn về làng… Đặt nhân vật vào tình huống đầy căng thẳng, thử thách ấy nhà
văn muốn bộc lộ các mối quan hệ riêng chung trong con người của nhân vật.
Đưa nhân vật lên cao trào để nhân vật tự bộc lộ cách ứng xử, phẩm chất, tính
cách, lòng yêu làng, yêu nước thiết tha…
+ Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhiều chiều, những cảm xúc, những diễn
biến tâm trạng qua các mối quan hệ, qua các sự việc, tình huống nhỏ, qua trạng
thái cảm xúc trực tiếp, qua đối thoại và độc thoại nội tâm…
- Đánh giá:
Nhận xét trên đã khẳng định tài năng nghệ thuật viết truyện ngắn của nhà
văn Kim Lân trong dòng văn học hiện đại…
b. Cách lập dàn ý
Tuỳ theo đối tượng và phạm vi các vấn đề được đưa ra bàn bạc mà có thể
có các cách triển khai khác nhau. Tuy vậy, mục đích của bài học vẫn phải là
hướng đến việc rèn luyện các kĩ năng tạo dựng một bài văn bản nghị luận nên
nội dung có thể hết sức phong phú nhưng người viết vẫn phải tuân theo những
thao tác và các bước cơ bản của văn nghị luận. Có thể khái quát mô hình chung
để triển khai bài viết như sau:
• Mở bài:
- Dẫn dắt và khái quát vấn đề nghị luận.
- Nêu xuất xứ và trích dẫn ý kiến.
- Giới hạn phạm vi dẫn chứng.
• Thân bài:
- Giải thích, làm rõ nhận định để rút ra vấn đề nghị luận:

dạng đề cho phù hợp.
Mở bài cho đề nghị luận về một giai đoạn văn học:
- Dẫn dắt từ hoàn cảnh lịch sử của giai đoạn, của thời đại
- Khái quát vấn đề nghị luận
- Trích dẫn nhận định

16


- Nêu phạm vi dẫn chứng
Mở bài cho đề nghị luận về một vấn đề lý luận đặt ra trong tác phẩm
văn học:
- Dẫn dắt từ kiến thức lí luận văn học(về truyện, thơ, ...)
- Khái quát vấn đề nghị luận
- Trích dẫn nhận định
- Nêu phạm vi dẫn chứng
Mở bài cho đề nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm( phong cách sáng tác, chủ đề, đề tài…)
- Khái quát vấn đề nghị luận
- Trích dẫn nhận định
Nói chung, mỗi bài, mỗi dạng đề có những đặc điểm riêng, nên khi viết
cần chú ý dẫn dắt cho khéo léo để vừa đúng vừa cuốn hút được người đọc hướng
vào vấn đề nghị luận.
Ví dụ : (Đề thi HSG Vĩnh Phúc 2013 -2014)
Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng:“Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả
bài”.
Qua thi phẩm Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải, anh (chị) hãy
làm sáng tỏ nhận định trên.
Có thể viết mở bài cho đề trên như sau:
Thơ ca là tiếng nói tình cảm của thi nhân, là kết quả của sự thăng hoa

với hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng.
- Đánh giá, nâng cao vấn đề nghị luận
Ví dụ : (Đề thi HSG Vĩnh Phúc 2013 -2014, trích ở phần mở bài)
1. Giải thích ý kiến của Xuân Diệu
- Có nhiều cách định nghĩa về thơ, có thể nói khái quát: thơ là một hình
thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua cách tổ chức ngôn
từ đặc biệt, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm…

18


- Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài. Hồn: Tức là nội dung, ý nghĩa
của bài thơ. Xác: Tức là nói đến hình thức nghệ thuật của bài thơ thể hiện ở thể
loại, việc tổ chức ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu, cấu tứ…
- Như vậy, theo Xuân Diệu thơ hay là có sự sáng tạo độc đáo về nội dung
cũng như hình thức nghệ thuật, khơi gợi tình cảm cao đẹp và tạo được ấn tượng
sâu sắc đối với người đọc. Chỉ khi đó thơ mới đạt đến vẻ đẹp hoàn mĩ của một
chỉnh thể nghệ thuật.
- Ý kiến của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng bởi nó xuất phát từ đặc thù
sáng tạo của văn chương nghệ thuật. Cái hay của một tác phẩm văn học được tạo
nên từ sự kết hợp hài hoà giữa nội dung và hình thức. Một nội dung mới mẻ có ý
nghĩa sâu sắc phải được truyền tải bằng một hình thức phù hợp thì người đọc
mới dễ cảm nhận, tác phẩm mới có sức hấp dẫn bền lâu.
2. Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là bài thơ hay cả hồn lẫn xác, hay
cả bài.
a. Về nội dung
- Bài thơ là cảm xúc mãnh liệt, chân thành của tác giả trước mùa xuân của
thiên nhiên, đất nước.
+ Chỉ bằng vài nét vẽ đơn sơ mà đặc sắc, với những hình ảnh thân quen,
bình dị, nhà thơ đã gợi lên một phong cảnh mùa xuân tươi tắn, thơ mộng, đậm

Đây là một quan niệm sống đẹp và đầy trách nhiệm. Làm một mùa xuân là sống
đẹp, giữ mãi sức xuân để cống hiến, cống hiến khi ở tuổi thanh xuân – khi tóc
bạc, bất chấp thời gian, tuổi tác: “Một mùa xuân…tóc bạc”. Đây không chỉ là
khát vọng của mỗi con người mà là khát vọng của mọi lớp người, mọi lứa tuổi,
tất cả đều phấn đấu không mệt mỏi cho đất nước.
+ Những câu thơ này không chỉ là lời tự nhắn nhủ bản thân mình mà còn
như một sự tổng kết, đánh giá của tác giả về cuộc đời. Vượt lên đớn đau của
bệnh tật, Thanh Hải vẫn sáng lên một bản lĩnh, một tình yêu cuộc sống mãnh
liệt, một khát vọng mạnh mẽ được cống hiến cả cuộc đời mình, được hoá thân
vào mùa xuân đất nước.
b. Về hình thức

20


- Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo bất ngờ, độc đáo mà rất hợp
lý, chứa đựng chiều sâu chủ đề tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm qua thi phẩm.
- Mạch cảm xúc, mạch ý tạo thành tứ thơ tự nhiên mà chặt chẽ, lôgíc, dựa trên
sự phát triển của hình ảnh mùa xuân. Từ mùa xuân của đất trời sang mùa xuân
của đất nước và mùa xuân của mỗi người góp vào mùa xuân lớn của cuộc đời
chung.
- Bài thơ được viết bằng thể thơ ngũ ngôn không ngắt nhịp trong từng
câu, nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca miền Trung, xứ Huế. Sử
dụng cách gieo vần liền giữa các khổ thơ tạo sự liền mạch của dòng cảm xúc.
- Hình ảnh thơ: Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị với những hình
ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát. Điều đáng chú ý là những hình ảnh biểu
trưng này thường được phát triển từ những hình ảnh thực, tạo nên sự lặp lại mà
nâng cao, đổi mới của hệ thống hình ảnh (cành hoa, con chim, mùa xuân).4
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, gợi hình, gợi cảm. Có những câu thơ cứ như câu
nói tự nhiên, không trau chuốt từ ngữ nhưng vẫn mang âm hưởng thi ca. Cách sử

+ Phát biểu cảm nghĩ hoặc liên hệ bản thân từ vấn đề nghị luận.
- Cách viết:
+ Cân xứng với mở bài
+ Tạo được dư âm sâu lắng bằng cảm xúc, suy nghĩ chân thành tha thiết.
Ví dụ: ( Với đề trên)
Bài thơ hay là bài thơ có khả năng mang đến cho người đọc những rung
động tinh tế và chân thành. Có được điều ấy bởi thơ “hay” cả hồn “lẫn xác,
hay cả bài”. Khi đọc bài thơ hay, người đọc có thể tìm thấy ở đó những cảm
xúc, suy tư, trăn trở của chính mình. Thơ không chỉ là một loại hình nghệ thuật
giải trí, đọc để vui, để thư giãn, thơ phải là tấm gương để con người nhìn thấy
tâm hồn mình. Đến với bài thơ hay nghĩa là tìm đến nơi ta có thể lắng nghe trái
tim mình nói. Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải đã làm được điều kì diệu đó.
Tác phẩm xứng đáng là một bài thơ hay!

22


PHẦN III. Một số đề nghị luận văn học và đáp án gợi ý.
Đề 1: (Đề thi HSG tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014-2015)
Nguyễn Đình Thi từng quan niệm:
“Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những chất liệu mượn
ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một
điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh
muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh”.
(Trích Tiếng nói của văn nghệ, SGK Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục,
2011, tr.12 -13).
Em hiểu thế nào là điều mới mẻ, lời nhắn nhủ trong quan niệm của
Nguyễn Đình Thi? Qua bài thơ Ánh trăng, em hãy làm rõ điều mới mẻ và lời
nhắn nhủ mà nhà thơ Nguyễn Duy muốn góp vào đời sống.
Đáp án:

Duy qua Ánh trăng (4,0 điểm)
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm (0,25 điểm)
+ Nguyễn Duy là nhà thơ – chiến sĩ, gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà
thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Ông cũng là cây bút có sức sáng tạo bền bỉ sau
năm 1975.
+ Ánh trăng được viết năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ
vừa mang đến điều mới mẻ, vừa là lời nhắn nhủ sâu sắc của Nguyễn Duy về thái
độ sống của con người.
- Điều mới mẻ mà Nguyễn Duy thể hiện qua Ánh trăng (2,0 điểm)
Trăng là đề tài quen thuộc của thơ ca xưa nay, nhưng Nguyễn Duy vẫn có
những cảm nhận và cách thể hiện riêng.
+ Bài thơ Ánh trăng mới mẻ ở nội dung:
Trăng được thể hiện như là biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị mà vĩnh hằng
của thiên nhiên, theo nhân vật trữ tình từ thời thơ ấu bình yên đến những ngày
chiến tranh ở rừng. Vì thế, trăng còn là biểu tượng của quá khứ gian khó mà tươi
đẹp, của nghĩa tình thắm thiết, đằm sâu với quê hương, đồng đội, bạn bè.

24


Trăng còn được Nguyễn Duy đặt vào trong mối quan hệ đa chiều với
nhân vật trữ tình: Nếu quá khứ trăng là tri kỉ thì hiện tại trăng bị biến thành
người dưng. Từ tình huống Thình lình đèn điện tắt, nhà thơ phát hiện thêm một
vẻ đẹp khác đáng trân trọng của trăng: thuỷ chung, bao dung mà nghiêm khắc,
có khả năng thức tỉnh con người.
+ Bài thơ Ánh trăng mới mẻ ở nghệ thuật: Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc
mà vẫn chứa chất triết lý sâu xa; hình ảnh thơ đa nghĩa, có tính biểu tượng cao;
kết hợp giữa chất tự sự với tính trữ tình; kết cấu bài thơ theo mạch thời gian; tạo
được tình huống bất ngờ; hầu như không sử dụng dấu chấm câu và chỉ viết hoa
chữ đầu tiên của mỗi khổ thơ...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status