Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11 THPT - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Luật giáo dục số 38/2005/ QH11, Điều 27.1 chỉ rõ: "Mục tiêu của giáo dục
phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi
vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Để đạt được mục tiêu trên, bộ môn Ngữ văn đã góp phần không nhỏ. Với sự
tích hợp ba phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn, môn Ngữ văn không chỉ
trang bị tri thức mà còn rèn luyện kỹ năng và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, thái
độ cho học sinh. Trong đó, phân môn Làm văn có tầm quan trọng đặc biệt. Với
cấu trúc đề thi hiện hành thì chỉ tính riêng phần Làm văn đã chiếm hơn 2/3 số
điểm cả bài (7/10 điểm). Kết quả của 12 năm cắp sách đến trường và tương lai
của các em một phần được quyết định bởi phần Làm văn này.
Tuy nhiên, nếu các giờ Đọc văn khơi gợi được nhiều hứng thú cho giáo viên
và học sinh trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học, sự yêu thích môn Ngữ
Văn phần lớn cũng bắt nguồn từ đây, thì không khí và hiệu quả các giờ Làm văn
thực sự không được như mong muốn của cả người dạy lẫn người học. Không khí
nhiều giờ học trở nên tẻ nhạt, nặng nề, “thiếu lửa”. Có giáo viên dạy cho hoàn
thành nhiệm vụ còn học sinh thì thụ động, lười suy nghĩ, ngại phát biểu xây
dựng bài hoặc nếu bị buộc phát biểu thì trả lời cho qua chuyện. Khi làm văn, học
sinh viết những câu văn, bài văn nghèo nàn, ngô nghê về ý tứ, lủng củng trong
diễn đạt. Hiệu quả dạy học bộ môn vì thế cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.
Kết quả các kỳ thi gần đây cho thấy môn Ngữ văn vẫn có rất ít những bài
đạt điểm cao, mà phần lớn các bài thi chỉ đạt điểm trung bình, thậm chí dưới
trung bình. Trong đó nhiều bài làm của học sinh khiến người chấm chưa hài lòng
vì những sai sót quá cơ bản như sai chính tả, sai kiến thức, lỗi diễn đạt, viết mà
không hiểu mình viết những gì,…Có nhiều bài viết chưa xác định rõ ràng được
hệ thống luận điểm, luận cứ; có nhiều học sinh chưa nắm vững được quy trình


Văn nghị luận có mặt trong chương trình Ngữ văn từ bậc trung học cơ sở
đến bậc trung học phổ thông. Tuy nhiên trong khuôn khổ của sáng kiến kinh
nghiệm này, tôi chỉ đề cập đến một phần của rèn luyện kỹ năng làm văn, đó là kỹ
năng tìm hiểu đề, lập dàn ý bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11 THPT (chủ
yếu là ở HKII).
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp liệt kê.
+ Phương pháp so sánh.
+ Phương pháp thống kê phân loại.
+ Phương pháp điều tra, tổng hợp.

2


B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28.2 quy định: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh”.
Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi
mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định
trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo

+ Bài viết số 5 (ngày 14/01/2016 tại lớp 11B6): có 8/44 HS có tìm hiểu đề,
lập dàn ý trước khi viết bài .
4


* Khối 12: Khảo sát chất lượng THPT quốc gia (ngày 14/04/2016 theo kế
hoạch của Sở GD&ĐT, 5 phòng thi): có 23/116 HS có tìm hiểu đề, lập dàn ý
trước khi viết bài .
Kết quả khảo sát trên cho thấy: hầu hết HS không có ý thức tìm hiểu đề,
lập dàn ý trước khi viết bài, nhất là HS lớp 12. Thực tế cũng cho thấy kĩ năng
tìm hiểu đề, lập dàn ý của học sinh rất yếu. Các em không có thói quen tìm hiểu
đề, lập dàn ý (ta quen gọi là nháp) trước khi viết bài. Vì vậy mà các em rất lúng
túng khi bắt đầu và thường thì nghĩ đến đâu, viết đến đó, dẫn đến viết không
đúng yêu cầu của đề bài, thậm chí là lạc đề.
III. GIẢI PHÁP

1. Giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm hiểu đề, lập
dàn ý
Tìm hiểu đề, lập dàn ý là những công việc đầu tiên, rất cần thiết, giúp cho
HS xác định đúng vấn đề, phương pháp nghị luận và giới hạn phạm vi tư liệu..
Việc tìm hiểu đề, lập dàn ý cũng giúp HS triển khai ý cân xứng, phân bố thời
gian hợp lí, không bị rơi vào tình trạng "đầu voi đuôi chuột" hoặc ngược lại.
2. Giúp HS tìm hiểu đề
* Trước hết, GV cần chỉ cho HS thấy đây là công đoạn không thể bỏ qua
khi làm bài văn nghị luận, và tìm hiểu đề chính là tìm hiểu 3 yêu cầu của đề:
- Yêu cầu về nội dung .
- Yêu cầu về phương pháp/thao tác lập luận.
- Yêu cầu về phạm vi tư liệu/dẫn chứng.
* Trong những năm gần đây, cùng với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá là
đổi mới việc ra đề. Các đề thi không còn nói rõ các yêu cầu như trước kia (đề

lớp 12 các em mới được cung cấp lý thuyết kiểu bài nhưng trong thực tế các em
đã viết bài văn nghị luận xã hội từ THCS. Vì vậy, GV có thể đưa ra cách làm
như sau:
- Thông thường, bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí có các nội dung:
+ Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận;
+ Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan
đến vấn đề bàn luận;
+ Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lí.
(Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1, NXB giáo dục, trang 21)
- Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống thường có các nội dung:
+ Nêu rõ hiện tượng;
+ Phân tích các mặt đúng - sai, lợi - hại;
+ Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện
tượng xã hội đó.
(Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1, NXB giáo dục, trang 67)
* Với đề Nghị luận văn học, hệ thống luận điểm thường là hệ thống các ý
chính khi đọc hiểu văn bản.
6


4. Giúp HS lập dàn ý
Nếu bài văn nghị luận là ngôi nhà thì dàn ý có thể xem như rường cột vậy.
Dàn ý là "cốt lõi" của bài văn và việc lập dàn ý là khâu quan trọng có tính quyết
định đến kết quả. Tuy nhiên, hầu hết HS chỉ lơ mơ hiểu lí thuyết và không
thường xuyên rèn kỹ năng nên khi luyện tập, thực hành viết bài văn thì ngại, làm
qua loa, đại khái (chỉ viết đoạn mở bài) hoặc không làm. Để khắc phục điều đó,
khi giảng dạy trên lớp, tôi đã chú ý rèn kỹ năng lập dàn ý cho HS trong các tiết
Trả bài, Ôn tập. Thực tế, HS có thể lập dàn ý đại cương hoặc dàn ý chi tiết tùy
vào thời lượng, mức độ yêu cầu của từng loại đề bài. Thường thì ở bài kiểm tra
15 phút hoặc yêu cầu chỉ viết một đoạn văn (câu 4, câu 8 trong phần Đọc hiểu đề thi THPT quốc gia) thì HS chỉ cần lập dàn ý đại cương. Việc lập dàn ý đại

c. Kết bài: Khẳng định về hiện tượng đời sống đã bàn; gửi thông điệp.
4.1.3. Lưu ý
- Việc tách bạch nghị luận về tư tưởng đạo lí với nghị luận về một hiện
tượng đời sống thực ra chỉ mang tính tương đối. Với xu hướng ra đề như hiện
nay, thường có sự kết hợp giữa hai kiểu bài này. GV cần hướng dẫn cho HS cách
làm cụ thể để tránh bị xa đề, lạc đề. Trước hết, cần giới thiệu vấn đề cần bàn
luận. Sau đó, bàn về các mặt đúng - sai, lợi - hại, tích cực - tiêu cực của vấn đề.
Cuối cùng, rút ra bài học nhận thức và hành động của bản thân.
- Còn có kiểu đề nghị luận xã hội dưới dạng một câu chuyện thì ngoài các
bước cơ bản, các em cần lưu ý thêm:
+ Mở bài: buộc phải giới thiệu câu chuyện và vấn đề đặt ra trong câu
chuyện.
+ Thân bài: bước đầu tiên là phải nêu vắn tắt nội dung câu chuyện để rút
ra ý nghĩa và dẫn đến vấn đề xã hội cần nghị luận.
+ Kết bài: đánh giá được ý nghĩa của vấn đề xã hội trong câu chuyện.
4.2. Lập dàn ý bài văn nghị luận văn học.
4.2.1. Dạng bài cảm nhận về một bài thơ, đoạn thơ
a. Mở bài:
- Giới thiệu xuất xứ của bài thơ/đoạn thơ cần nghị luận.
- Nêu ý khái quát nhất về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ/bài thơ.
- Ghi lại bài thơ/đoạn thơ (nếu dưới 10 dòng).
b. Thân bài:

8


- Nêu khái quát nội dung bài thơ và đoạn thơ. (Nếu đoạn thơ thì vẫn giới
thiệu bài thơ).
- Lần lượt cảm nhận, bình luận từng ý thơ (Trong quá trình nghị luận, cần
tránh diễn xuôi ý thơ, phải chú ý chọn lọc và bám sát các phương tiện nghệ

phương diện, nhiều chiều nhận thức, đòi hỏi ở học sinh nhiều kiến thức, kĩ năng,
đặc biệt là kĩ năng tổng hợp, phản biện, đánh giá vấn đề.
Thực tế cho thấy trong đề thi tuyển sinh ĐH - CĐ những năm gần đây,
dạng đề này đã được áp dụng với cả hai kiểu bài Nghị luận xã hội và Nghị luận
văn học. Để đáp ứng tốt yêu cầu của dạng đề nghị luận bàn về hai ý kiến, trước
hết cần có nhận thức đúng về dạng bài này, tránh suy nghĩ bài làm chỉ là sự
“ghép” lại của hai bài văn độc lập. Các đề bài về hai ý kiến thường có hình thức
bao gồm hai nhận định tách rời. Các ý kiến / vấn đề ở dạng đề này bao giờ cũng
có liên quan và thường được đặt trong những mối quan hệ hoặc tương đồng,
hoặc bổ sung hoặc tương phản – trái chiều với nhau. Việc xác định đúng các mối
quan hệ giữa hai ý kiến, hai vấn đề để từ đó định hướng lập luận là rất quan
trọng khi làm bài. Với hai ý kiến / vấn đề có tính chất tương đồng, cần kết hợp
lại để từ đó bàn luận, khẳng định chung; với hai vấn đề có tính chất bổ sung
(thực chất là hai mặt, hai khía cạnh của cùng một vấn đề) lại cần tách ra phân
tích, bàn luận riêng sau đó mới kết hợp lại ; với hai vấn đề có tính chất đối lập –
tương phản lại phải làm công việc loại trừ, thuyết phục, định hướng người đọc
vào ý kiến đúng đắn.
4.3.2. Cách làm cụ thể
a. Với kiểu bài nghị luận xã hội
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề, dẫn các ý kiến.
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Ý kiến 1:
+ Ý kiến 2:
=> Kết luận của người viết
- Bàn luận: (phân tích, chứng minh, bình luận)
+ Ý kiến 1:
+ Ý kiến 2:
=> Quan điểm của người viết: đồng tình với một trong hai ý kiến hoặc kết
hợp, bổ sung hai ý kiến.

5.2. Rèn kỹ năng: Tìm ý
Đề bài: Mạch cảm xúc, luận lí trong bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu?
Gợi ý:
11


- Bài thơ là mạch cảm xúc mãnh liệt, tuôn trào nhưng vẫn theo mạch luận
lí chặt chẽ:
+ Tình yêu cuộc sống tha thiết (phần 1).
+ Nỗi băn khoăn về sự trôi chảy của thời gian và sự ngắn ngủi của kiếp
người (phần 2).
+ Lời giục giã sống vội vàng, cuống quýt (phần 3).
- Trong đó mỗi đoạn đều trả lời câu hỏi để làm sáng tỏ nội dung chủ đề:
+ Vì sao phải sống “vội vàng” ?

vì cuộc đời quá đẹp (Phần 1);
vì cuộc sống ngắn ngủi (Phần 2).

+ Sống “vội vàng” là sống như thế nào? Sống cao độ, sống hết mình
(Phần 3).
Như vậy, 3 đoạn thơ vận động vừa rất tự nhiên về cảm xúc, vừa rất chặt
chẽ về luận lí.
5.3. Rèn kỹ năng: Lập dàn ý
Đề 1: William James - nhà tâm lý học và triết gia người Mỹ đã nói: "Hành
động có thể không mang tới hạnh phúc, nhưng không có hạnh phúc nào lại thiếu
hành động".
Câu nói trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
GV cho HS làm độc lập hoặc theo nhóm, sau đó trình bày trên bảng, lớp
thảo luận, bổ sung và cuối cùng GV cung cấp cho HS dàn ý như sau:
a. Mở bài: dẫn dắt, giới thiệu vấn đề: vai trò của hành động trong việc tạo

hạnh, khổ đau. Nhưng nếu mỗi người luôn làm và làm được những điều tốt thì
hạnh phúc sẽ luôn mỉm cười, trong tầm tay.
* Bài học:
- Xác định mục đích tốt đẹp, nỗ lực hành động, trân trọng hạnh phúc có
được.
- Hành động xuất phát từ suy nghĩ, để có được hành động đẹp phải có suy
nghĩ đúng, phương pháp phù hợp, lí trí tỉnh táo -> mỗi người cần trau dồi phẩm
chất, đạo đức .
c. Kết bài: khẳng định lại vấn đề; gửi thông điệp.
Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về 13 dòng thơ đầu trong bài Vội vàng của
Xuân Diệu.
(Đề có thể cho đoạn thơ hoặc buộc HS viết lại đoạn thơ trong bài làm)
GV định hướng cho HS theo dàn ý sau:
a. Mở bài: Giới thiệu tác giả, bài thơ và đoạn thơ.
b. Thân bài: Cảm nhận về đoạn thơ:
13


- Cảnh sắc thiên nhiên:
+ Gần gũi, thân quen ( nắng gió, hoa lá, ánh sáng, thanh âm,..)
+ Tươi đẹp, tràn đầy sức sống, niềm vui (đồng nội xanh rì, cành tơ phơ
phất, thần Vui gõ cửa,..)
+ Tình tứ, quyến rũ (ong bướm, tuần tháng mật, ngon như cặp môi gần,...)
+ Diễn tả bằng hình ảnh mới lạ; ngôn từ gợi cảm, tinh tế, biện pháp tu từ,..
- Cái tôi trữ tình:
+ Cái tôi với ý thức cá nhân mạnh mẽ, đầy lòng ham sống : cách nhìn đời
trẻ trung qua lăng kính tình yêu ; con người là chuẩn mực của mọi vẻ đẹp; tình
cảm thiết tha, rạo rực, đắm say,...
+ Được thể hiện bằng giọng điệu say mê; nhịp điệu gấp gáp; thể thơ
chuyển đổi linh hoạt ; từ ngữ táo bạo.

đi xuyên qua nó. Lại có ý kiến khác khẳng định: Hãy học cách ứng xử của dòng
sông, gặp trở ngại, nó vòng đường khác.
Anh/chị có suy nghĩ gì về vấn đề đặt ra ở những ý kiến trên ?
GV định hướng cho HS theo gợi ý sau:
a. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề, dẫn hai ý kiến .
b. Thân bài:
* Giải thích hai ý kiến:
- Ý kiến 1: dũng cảm chấp nhận, chủ động đối mặt, dám đương đầu.
- Ý kiến 2: mềm dẻo, linh hoạt, thay đổi, điều chỉnh để tìm con đường
khác, tránh khó khăn, trở ngại.
=> Hai ý kiến nêu lên hai cách ứng xử khác nhau của con người trước
gian nan, thử thách trong cuộc sống.
* Bàn luận:
- Khó khăn, thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống mà con người
cần phải học cách để vượt qua;
+ Ý kiến 1: là cách ứng xử mạnh mẽ, dũng cảm, chủ động, tích cực; là tự
tin vào bản thân, là cách vượt lên chính mình. Tuy nhiên, "con đường ngắn nhất"
cũng là con đường đấy bất trắc, hiểm nguy bởi khó khăn không thể lường trước.
+ Ý kiến 2: là lối sống khôn ngoan, cách ứng xử linh hoạt, mềm dẻo, biết
cách né tránh, đi vòng khi cần thiết, để an toàn hơn và đạt được mục đích. Tuy
nhiên, nếu cứ né tránh sẽ dẫn đến đánh mất cơ hội, e ngại, hèn nhát, bị động.
- Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung, hoàn thiện cách ứng xử của con
người trước khó khăn, thử thách.
(Trong quá trình bàn luận cần huy động dẫn chứng từ thực tế cuộc sống,
hoặc trải nghiệm của bản thân để minh họa).
* Bài học nhận thức và hành động:
- Cuộc sống luôn tiềm ẩn những khó khăn, phải biết cách vượt qua nó.
- Phê phán những người nản lòng, chùn bước đễ đầu hàng trước khó khăn.
- Cần phải sâu sắc, nhạy bén để hiểu mình, hiểu hoàn cảnh, để tìm cách
ứng xử phù hợp .

31
25,21

Quan trọng
63
51,22

Bình thường
28
22,76

Không quan trọng
1
0,81

* Sự cần thiết:
Rất cần thiết
Số lượng
20
Tỉ lệ %
16,26
* Hiệu quả, tác dụng:
Số lượng
Tỉ lệ %

Hiệu quả tốt
24
19,51

Cần thiết


Kiểm tra HKI

Kiểm tra HKII

11B3

47

32

41

11B5

43

25

33

11B6

45

19

31

Kết quả cho thấy sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của HS về vai trò,

26 (03 giỏi)

28

19

02

02

11B5

43

10

18

29

22

04

03

11B6

45


văn nghị luận; Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận; Chữa lỗi lập
luận trong văn nghị luận; Diễn đạt trong văn nghị luận) về chương trình lớp 10,
lớp 11. Đồng thời, ở lớp 12 nên tăng thời lượng cho thực hành, luyện tập kỹ
năng tìm hiểu đề, lập dàn ý, kỹ năng mở bài, kết bài (kết hợp luyện đề, giải đề
thi THPT quốc gia) .
2. Với nhà trường THPT, nên cho HS học thêm (buổi chiều) tại trường
môn Ngữ văn ở cả 3 khối nhằm đáp ứng yêu cầu kỳ thi THPT quốc gia .
Trên đây là một vài kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy,
chắc chắn còn mang tính chủ quan và chưa được trọn vẹn, rất mong được đồng
nghiệp góp ý để hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hoá, ngày 19 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác

Nguyễn Thị Thêm

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status