rèn luyện kỹ năng cách viết bài văn nghị luận cho học sinh THCS - Pdf 27

rèn luyện kỹ năng cách viết bài văn nghị luận cho
học sinh THCS
A/ đặt vấn đề :
Văn học là một môn khoa học xã hội trong nhà trường phổ
thông .Bản thân nó mang đặc thù là một môn nghệ thuật - Văn học
có sức mạnh " Vũ khí vô song "( Phạm Văn Đồng ) . Nó giúp học
sinh nhận thức thế giới quan từ đó giáo dục tư tưởng , tình cảm và
dần hình thành thế giới quan duy vật biện chứng và nhân sinh quan
cho học sinh .Việc dạy và học văn là một quá trình sư phạm của
thầy cũng chính là quá trình tiếp nhận văn chương của trò . Thầy
phải có phương pháp dạy và học văn một cách cơ thể thì mới hoàn
thành được nhiệm vụ tổ chức hướng dẫn học sinh lĩnh hội tri thức
một cách hệ thống .Để làm được diều này ngoài việc giáo viên phải
chuẩn bị tốt kiến thức và phương pháp dạy học theo tinh thần đổi
mới mà còn phải chú ý đến việc rèn luyện kỹ năng làm văn cho học
sinh .Trong dạy và học văn việc rèn kỹ năng cách làm các kiểu bài
là việc rất quan trọng, nhưng để rèn học simh có kỹ năng viết đúng ,
viết đủ , viết hay một bài văn nghị luận có đan xen các yếu tốt tự sự,
miêu tả, biểu cảm thì quả là một vấn đề không đơn giản đối với học
sinh lớp tám . Qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi thấy rằng các
em học sinh rất ngại viết một bài văn nghị luận , đặc biệt là kỹ
năng , cách làm một bài văn nghị luËncßn rất hạn chế :
- Khi viết bài văn nghị luận các em thường mắc những lỗi nh:
+ Chưa biết xác định luận điểm : Luận điểm nào trình bày
trước, luận điểm nào trình bày sau .
+ Chưa biết phối hợp giữa nêu luận diÓm và trình bày
luận cứ, chưa biết cách chuyển đoạn .
+ Chưa biết đưa các yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận
nh : đưa quá nhiều yếu tố biểu cảm làm lấn át vai trò của văn nghị
luận hoặc đưa quá ít làm cho bài văn khô khan .
+ Chưa biết đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị

thì luận cứ dùng để nuôi luận điểm . Mét luận điểm chỉ thật sự sáng
tỏ và trở lên đáng tin cậy khi nó được đảm bảo bằng các chứng cứ
sát thực mà ta gọi là luận cứ .
- Các luận cứ trong một đoạn văn cũng được sắp xếp theo một
trình tự hợp lý . Nếu người làm văn tìm đủ các luận điểm và luận cứ
thích hợp để giải quyết vấn đề và sắp xếp lại và trình bày thì đó
chính là lập dàn ý .
+ Hệ thống sắp xếp nh trên gọi là lập luận . lập luận sẽ
được coi là chặt chẽ khi giữa các luận điểm và luận cứ có sự liên hệ
chặt chẽ , khăng khít với nhau : Lý lẽ sau kế thừa thành quả của lý lẽ
trước và lý lẽ trước làm cơ sở cho những lý lẽ sau theo một trật tự
hợp lý .
2
+Mặt khác , quá trình lập luận sẽ có thêm sức lôi cuốn
nếu học sinh biết cách sắp xếp các luận điểm , luận cứ khiến cho
toàn bộ bài văn là một dòng chảy liên tục . Các quan điểm ,các ý
kiến của học sinh được làm nổi bật lên thì hứng thú cho người nghe
được duy trì mỗi lúc một cao , cho tới tận lời nói ( dòng chữ cuối
cùng của bài nghị luận ) .
c/ Biết cách nêu luận điểm và trình bày luận cứ :
- Việc phối hợp giữa nêu luận điểm và trình bày luận cứ để
làm rõ luận điểm diễn ra theo nhiều cách khác nhau nhưng có năm
dạng chính sau đây :Diễn dịch ; Quy nạp ; móc xích ; song hành ;
tổng - phân - hợp .Song trong thực tế đối tượng của ta là học sinh
THCS đang tập làm văn nên ta chỉ đề cập đến hai dạng hay gặp và
phổ biến nhất là : Diễn dịch , quy nạp
d/ kỹ năng chuyển đoạn :
Chuyển đo¹n là một công việc nhằm liên kết đoạn văn sẽ viết
với đoạn văn va viết xong ở trên . Người làm văn chỉ có chuyển
đoạn một cách tự nhiên khi đã xác định được cả mối liên quan với

e/ Các em cũng cần thấy rằng : Không vì mải tạo ra yếu tố
biểu cảm cho bài văn mà quên rằng : Văn nghị luận ở kiểu bài này
đang giữ vai trò chính yếu . Vậy hết sức tránh :Không để yếu tố biểu
cảm tách rời khái quá trình nghị luận , hoặc gây cản trở mạch lạc
nghị luận hay lấn át vai trò của nghị luận .
3/ Rèn kỹ năng đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào văn nghị
luận :
a/ Trong đời sống thực tế tự sự , mªu tả , biểu cảm là ba
phương thức biểu đạt khác nhau . Tuy nhiên , trong một bài văn
nghị luận các em cũng có thể đưa ra các yếu tố tự sự , miêu tả vào
bài văn ( nh yếu tố biểu cảm ) làm cho bài văn đó tăng hiệu quả
diễn đạt lên nhiều lần.
b/ Rất nhiều trường hợp , do thiếu một sự kể lại ( hay tả lại )
cần thiết mà nội dung nghị luận bỗng trở nên không cụ thể , không
sáng tỏ khiến người đọc thấy khó , thậm chí không tiếp nhận được
( vì không rõ , không hiểu , không tin cậy ) .
c/ Các yếu tố tự sự và miêu tả chỉ đóng một vai trò phụ trợ
trong bài nghị luận mà thôi . ở vị trí đó , tự sự và miêu tả không
được tách rời khái quá trình nghị luận , càng không được làm mê vai
trò của nghị luận . Các yếu tố tự sự , miêu tả trong văng nghị luận sẽ
có ý nghĩa - và cũng chỉ có ý nghĩa - khi chóng thực sự xuất phát từ
nhu cầu nghị luận . Nhờ chóng mà nội dung nghị luận trở lên rõ
ràng hơn , hay hơn , đáng tin cậy nhiều hơn, sắc bén hơn .
d/ Các em có thể đan xen các yếu tố tự sự , miêu tả , biểu
cảm để hỗ trợ cho bài văn nghị luận khi cần thì sẽ có hiệu quả rất
cao .
Trong thực tế phần đông các em học sinh rất ngại học các tiết
luyện tập ,, bởi vì đây là tiết thực hành vận dụng quá trình học lý
thuyết . Do đó giáo viên phải có nhiều cách động viên , khích lệ ,gây
4

3/Cách ba : viết văn phải giầu hình ảnh.
- Khi viết văn phải sử dụng các yếu tố miêu tả để có những
hình tượng , và sức gợi cảm cao .
+Biện pháp cơ bản nhất để tạo nên bài viết có hình ảnh là :
So sánh , liên hệ và đối chiếu .
+Những từ tưởng nh mang tính trìu tượng , khô khan phải
được làm rõ bằng cách : diễn đạt nó bằng những hình ảnh cụ thể và
sinh động thì mới hấp dẫn người đọc .
5
4/ Cách bốn : so sánh văn học .
-Làm nổi rõ chỗ giống nhau và khác nhau , soi sáng mặt kế
thừa và đổi mới , đánh giá những chuyển biến của một cây bút trong
những tác phẩm có cùng đề tài .
- có thể so sánh hai giai đoạn văn học , hai thời kỳ v¨mn học ,
hai tác phẩm văn học , hai tác giả , hai chi tiết nghệ thuật của hai
phong cách .
5/ Cách năm : cuộc đối thoại ngầm .
Muốn lập luận cho chặt chẽ , chi tiết nên đặt mình vào địa vị
người đọc vÇ giả định người đọc khong cùng ý nghĩ với mình để lập
luận cho hết nhẽ . Vì thế lập luận trong văn nghị luận thường nh một
cuộc đối thoại ngầm với một người nào đó . Muốn làm được nh
vậy , trong văn ít dùng câu miêu tả , trần thuật , kể lể mà chủ yếu sử
dụng câu khẳng định , phí định với nội dung là các phán đoán của
những nhận xét , đánh giá mang ý nghĩa sâu sắc .
6/ Cách sáu : Dẫn chứng và trình bày dẫn chứng .
* Cần phân biệt dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng.
- DÉn chứng bắt buộc là dẫn chứng nằm trong phạm vi của
đề .
- Dẫn chứng mở rộng là đẫn chứng nằm ngoài phạm vi của đề
mà người viết đưa vào bài để liên hệ , đối chiếu , so sánh nhằm làm

+ Lão Hạc - Nam Cao .
+ Những ngày thơ ấu - Nguyên Hồng .
2/ Lập dàn ý :
*/ Mở bài :
- Giới thiệu dòng văn học hiện thực 1930-1945 .
- Phản ánh nỗi thống khổ của người nông dân trước cách
mạng
*/Thân bài :
- Luận điểm 1: Nỗi khổ của người nông dân vì sưu cao thuế
nặng .
+ Luận cứ 1 : Khổ vì vật chất .
+ Luận cứ 2 : Khổ vì tinh thần .
-Luận điểm2 : Nỗi khổ của người nông dân vì nghèo đói .
+ Luận cứ 1:Nỗi khổ của Chị Dâu .
+ LluËn cứ 2: Nỗi khổ của Chí Phèo .
+ Luận cứ 3:Nỗi khổ của Lão Hạc .
- Luận điểm 3 : Nỗi khổ của người nông dân vì những hủ tục
phong kiến
+ luận cứ : Người mẹ trong những ngày thơ ấu
của Nguyên Hồng
- Luận điểm 4:Bình nâng cao và mở rộng .
*/ Kết bài :
7
+ khẳng định lại nỗi thống khổ của người
nông dân trước cách mạng .
+ Đề cao vẻ đẹp của người nông dân .
+ Liên hệ , so sánh
3/ Cách viết bài :
Văn học Việt Nam được chia làm nhiều giai đoạn khác nhau ,
mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng .Trong số đó dòng văn

8
Nhưng vì thiếu sưu , phải bán con lòng chị đau nh cắt . Chị đau
đớn ,xót xa khi phải nói ra sự thật bán con . Có lẽ chị đã dằn vặt suốt
bao đêm . Nỗi đau này chưa nguôi thì nỗi đau khác đã tới .Không có
tiền nộp sưu cho em chồng anh Dậu bị bắt ra đình . Giữa đình làng
tiếng kêu uất ức của chị vang lên thảm thiết đau đớn xé lòng biết
bao khi gọi mãi anh không tỉnh .chị đã " vô cùng hoảng sợ đau đớn
". biết bao nhiêu cảm xúc nỗi đau này chưa qua , nỗi đau khác đã tới
cứ dồn dập trong lòng chị cũng chỉ vì thuế nặng sưu cao mà ra
Biết bao nhiêu nỗi khổ mà người dân phải chịu đựng , chịu bị
bọn thực dân tàn ác , bóc lột chà đạp , vùi dập cuộc sống của mình
Chính sự đoạ đầy tàn ác đó đã nhấn chìm cuộc đời mỗi người dân ta
trong lúc nghèo đói bần hàn . Những người nông dân chất phát xưa
kia chẳng ai thoát khỏi nghèo đói đeo bám . Nhà chị Dậu vì nghèo
ngay cái nhà để ở" Trông xa người ta tưởng nh cái chuồng để nhốt
lợn hay chứa tro . ", thế mà vẫn sống mãi trong cái nhà ấy với bữa
khoai , cháo .Chí Phèo trong truþªn ngắn cùng tên của nhà văn Nam
Cao ."
Cũng nghèo chẳng có một xu một đồng , nghèo đến nỗi một
tấc đất cắm dùi cũng không có , sống nhờ lòng thương hại của mọi
người. Nhưng có lẽ đáng thương nhất, khổ nhất là Lão Hạc của
Nam Cao . Cái nghèo hành hạ lão suốt cuộc đời . Chỉ vì nghèo mà
cuộc đời lão không có một chút niềm vui , vì cái nghèo mà lão chỊt
trong đau đớn . Vì nghèo không có tiền mà con trai lão không cưới
được vợ , bỏ đi làm đồn điền cao su để lão lại một mình cô đơn ,
buồn tủi với tuổi già cô quạnh . Chẳng biết làm gì khác , chẳng còn
cách nào khác . Cái nghèo đã cướp đi niềm hạnh phúc , niềm an ủi
duy nhất của lão Hạc đẩy con trai lão đi biệt xứ . Biết đời mình khổ ,
lão chỉ còn hy vọng duy nhất là con trai mình . Lão lao ra làm thuê ,
làm mướn , ăn không dám ăn , mặc không dám mặc , dành dĩn tiền

rồi bỏ lại sau lưng một thời con gái. Chồng chỊt , biết bao nhiêu khổ
đau , rồi cả những tai tiếng , xì xào đã khiến người phụ nữ ấy không
chịu nổi phải bỏ con đi tha hương cầu thực. Trong những quan niệm
giáo điều khắc nghiệt thì đó là điều cấm kị, người phụ nữ nh thế là
hư hỏng . Vì những quan niệm cứng nhắc ấy , những con người theo
những giáo điều ấy đâu có hiểu những khát khao đến cháy báng ,
những đau đớn trong tâm hồn của một người phụ nữ giầu tình yêu
thương - mẹ chú bé Hồng .Người phụ nữ ấy phải chịu bao điều tiếng
xấu , chịu sự khinh rẻ của những người họ nội . Không phải tại mẹ
con Hồng, không phải tại cái sự bỏ đi của mẹ Hồng mà vì cái xã hội
phi nhân tính ấy . Với những quan niệm nghiệt ngã đã cướp đi của
biết bao người phụ nữ hạnh phúc và quyền lợi thuộc về họ mà lẽ ra
họ đáng được có , được hưởng . Có biết bao nhiêu người phụ nữ
trong xã hội phong kiến bị nhÂn chìm cả cuộc đời trong những hí
tục hà khắc ấy ! Họ không sống thực mà chỉ tồn tại nh một thứ
công cụ của nhà chồng . Xã hội phong kiến là thỊ , kỴ có tiền , có
quyền thì mặc sức vẫy vùng còn những người phụ nữ yếu ớt đáng
10
thương chỉ biết khóc thầm trong im lặng . Để mặc cho những nỗi
đau dày xéo xé nát con tim mà chỉ biết trách số phận cuộc đời .
Đã có biết bao nhiêu nỗi khổ cực mà người nông dân trước
cách mạng phải chịu đựng . Những nỗi khổ ấy không đơn thuần về
vật chất mà còn ảnh hưởng tới cả tinh thần , không chỉ là nỗi đau
hiện tại mà còn kéo dài cả ngày sau. Xã hội phong kiến thối nát đã
làm cho họ khổ cả cuộc đời phải khốn đốn , lao đao , bần hàn cơ
cực . Nhưng ta vẫn thấy ẩn sau trái tim sâu thẳm vẫn lấp lánh tình
yêu thương và những phẩm chất đáng trân trọng . Nh người phụ nữ
nông dân chăm chỉ , yêu thương chồng con - Chị Dậu - đã dám đứng
lên chống lại câng quyền . Còn lão Hạc ? Nặng tình yêu thương con
tha thiết , nhân hậu trong sạch và giầu lòng tự trọng . Bên cạnh đó

luận mà không gượng ép , trôi chảy, lôi cuốn người đọc. Như vậy
giáo viên đã hình thành cho các em một kỹ năng và cách viết văn :
Viết đúng, viết đủ , viết hay Nhưng dẫu sao đây củng mới chỉ là
sáng kiến mang tính chủ quan của cá nhân tôi , tôi rất mong được sự
góp ý và giúp đỡ của các đồng nghiệp .

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Xác nhận của BGH Người viết
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status