MỤC LỤC
TT
1
Nội dung
Đặt vấn đề
Trang
1
2
Lý do chọn đề tài
1
3
Mục đích nghiên cứu
2
4
Đối tượng nghiên cứu
2
5
Phương pháp nghiên cứu
với bản thân đồng nghiệp và nhà trường .
16
11
Kết luận và kiến nghị
17
12
Kết luận
17
13
Kiến nghị
17
14
Tài liệu tham khảo
19
-1-
(mở bài, thân bài, kết bài), đoạn mở bài thường tạo ấn tượng ban đầu, giúp người
đọc cảm nhận trọn vẹn âm hưởng của toàn bài. Cho nên một đoạn mở bài gọn gàng,
mạch lạc sẽ thu hút được sự quan tâm của đông đảo người đọc. Bên cạnh đó, nó còn
tạo thêm hứng thú cho chính người viết. Ngược lại, người đọc mất cảm tình khi tiếp
xúc với một bài văn có đoạn mở bài mang biểu hiện của nhận thức hạn chế và lối tư
duy thiếu mạch lạc của người viết, thể hiện ở cách viết khô khan, dài dòng, xa đề,
thậm chí lạc đề, thiếu hấp dẫn. Từ tâm lý tiếp nhận không tốt, người đọc có thể mặc
nhiên quy kết rằng nội dung bài văn này kém chất lượng. Như vậy, đoạn mở bài là
một trong những bộ phận quan trọng cấu thành bài văn nghị luận.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn cho học sinh lớp 9, tôi đã mạnh dạn
áp dụng kinh nghiệm: “Luyện cách viết mở bài trong bài văn nghị luận cho học
sinh lớp 9 ở trường THCS Yên Mỹ” để hướng dẫn học sinh viết đoạn mở bài trong
bài văn nghị luận một cách bài bản, kỹ càng. Và việc làm đó bước đầu đã thu được
kết quả rất khả quan, thuận lợi cho quá trình viết văn nghị luận của học sinh.
-2-
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Trong những năm học gần đây, tôi đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và
áp dụng các phương pháp viết mở bài để hướng dẫn học sinh mở bài đúng, tiến tới
mở bài hay, cuốn hút người đọc. Công việc đòi hỏi ở tôi niềm đam mê và sự đầu tư
thời gian, tâm huyết nhằm giúp học sinh lớp 9 vượt qua rào cản tâm lí ngại khó và
những vướng mắc trong quá trình bắt tay vào viết mở bài cho bài văn nghị luận. Hi
vọng với kinh nghiệm ít ỏi của mình, tôi có thể cùng với các bạn đồng nghiệp giúp
học sinh một cách rèn luyện để các em dần dần thành thạo kĩ năng viết mở bài, để
bài làm văn của các em đạt yêu cầu và hay hơn.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Tập trung vào Luyện cách viết mở bài trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 9, tôi
luận đề lớn cần giải quyết và nêu ngắn gọn ở mở bài. Trong phần mở bài của bài văn
nghị luận, người viết không nên bộc lộ ngay thái độ, quan điểm của mình về vấn đề
nghị luận mà chỉ nêu vấn đề cần giải quyết, điều đó góp phần làm cho bài viết có sức
hấp dẫn người đọc hơn.
Thực tế mở bài thường là đoạn văn hoàn chỉnh, thể hiện rõ những nội
dung sau:
- Dẫn dắt vấn đề: Mở đầu đoạn là những câu dẫn dắt có liên quan đến
vấn đề chính cần bàn để chuẩn bị tư tưởng dẫn người đọc vào vấn đề.
- Nêu vấn đề: Vấn đề phải được nêu một cách ngắn gọn, nêu đúng vấn đề
đặt ra trong đề bài và phải nêu một cách khái quát.
- Nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa của vấn đề đối với thời đại
( Phần này tùy thuộc vào từng vấn đề cụ thể, không nhất thiết mở bài nào cũng phải
có).
1.2. Về cách thức trình bày:
Đoạn mở bài luôn có sự tương ứng với đoạn kết bài về cả nội dung và độ dài.
Trong trường hợp vấn đề quá phức tạp không thể nêu trong một đoạn văn thì có thể
viết thành hai đoạn văn, khi đó, độ dài của mở bài nới rộng hơn. Song về cơ bản,
đoạn mở bài của học sinh khi làm văn trong nhà trường cần đảm bảo yêu cầu về hình
thức sau:
- Ngắn gọn: Từ khâu dẫn dắt vấn đề đến khâu nêu tầm quan trọng, ý nghĩa (nếu có)
chỉ ngắn gọn trong 4-7 câu. Nhưng vẫn cần đảm bảo được tính trọn vẹn của vấn đề
và tránh lan man không nêu được vấn đề trung tâm.
- Đầy đủ: Khi đọc xong mở bài phải làm cho người đọc hiểu được vấn đề đặt ra ở
đây là gì, trong phạm vi nào và phương thức vận dụng để giải quyết vấn đề đó như
thế nào…Phần này nhất thiết phải đầy đủ tất cả các nội dung, quan trọng nhất là phải
nêu đúng, đủ vấn đề của bài làm.
- Độc đáo: Đoạn mở bài phải gây được sự chú ý và gợi cho người đọc sự quan tâm,
niềm hứng thú theo dõi sự trình bày ở phần sau.
-4-
lại ý kiến, câu trích ở đề bài. Phần cuối này cũng có thể nêu hướng giải quyết vấn đề,
ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề đối với bản thân và thời đại.
3. Các cách viết đoạn mở bài trong văn nghị luận:
Thông thường có hai cách viết đoạn mở bài:
3.1. Mở bài trực tiếp:
Mở bài trực tiếp là cách đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận. Nghĩa là sau khi đã tìm
hiểu đề và xác định được vấn đề trọng tâm của bài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó
ra bằng một luận điểm rõ ràng. Tuy nhiên, khi mở bài trực tiếp, ta cũng phải trình
bày cho đủ ý, không nói thiếu nhưng cũng không nên nói hết nội dung, phải đáp ứng
đủ các yêu cầu của một phần mở bài chuẩn mực trong nhà trường.
Ví dụ: Với đề bài: “Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu”
Học sinh đã mở bài như sau:
-5-
Nói đến Chính Hữu không thể không nói đến bài thơ “Đồng chí”. Bài thơ như
một điểm sáng trong tập “Đầu súng trăng treo”- tập thơ viết về đề tài người lính
của ông.
- Vấn đề nghị luận: Đề tài người lính
- Giới hạn vấn đề: Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu.
Đặt vấn đề theo cách trực tiếp dễ làm nhưng khó hay, không thu hút nhiều sự
chú ý của người đọc. Vì mở bài trực tiếp thường không có phần dẫn dắt mà chỉ có
hai phần cơ bản tạo nên đoạn mở bài là phần nêu vấn đề và phần giới hạn vấn đề.
Cho nên trong nhà trường, người ta thường chuộng cách đặt vấn đề gián tiếp hơn.
3.2. Mở bài gián tiếp:
Mở bài gián tiếp là cách vào đề thông qua một loạt sự dẫn dắt như: Nêu ra một câu
chuyện, sự kiện, con số, so sánh,…sau đó mới nêu vấn đề nghị luận để kích thích trí
tò mò, gợi chú ý của người đọc, rồi từ đó mới nêu lên vấn đề chính.
Khi sử dụng các mở bài gián tiếp, người viết cần lựa chọn điểm xuất phát sao cho:
*Kiểu quy nạp:
Mở bài theo kiểu quy nạp tức là nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong
đề bài rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghị luận.
Ví dụ, với đề bài: Suy ngẫm của em về lòng dũng cảm, có thể mở bài theo kiểu
quy nạp như:
(1) Mấy tháng trước, đài báo đưa tin về một anh thanh niên tay không bắt cướp ở
thành phố Hồ Chí Minh mà không cần gia nhập một tổ chức công an hay dân phòng
nào, cũng không phải để lấy thù lao hay ân huệ. (2) Hàng ngày chúng ta vẫn nghe
tin có những bạn trẻ nhảy xuống sông cứu người sắp chết đuối, có những tình
nguyện viên không quản ngại gian khổ, hiểm nguy đến với các bệnh nhân trại
phong, vào các bệnh viện truyền nhiễm hoặc đến với đồng bào dân tộc miền núi cần
sự giúp đỡ. (3) Và với những nghĩa cử cao đẹp đó, chúng ta gọi họ là con người có
lòng dũng cảm.
Mở bài trên viết theo kiểu quy nạp:
+ Câu (1), (2) đưa ra những tấm gương không quản ngại khó khăn, gian khổ, thậm
chí sẵn sàng hi sinh tính mạng để cứu người.
+ Câu (3) khái quát những hành động cao cả đó trong khái niệm lòng dũng cảm.
*Kiểu so sánh:
Có hai cách so sánh:
- So sánh tương đồng, tương liên: Với cách này ta bắt đầu bằng việc nêu lên một ý,
một sự việc tương tự (có liên quan với ý, với sự việc của luận đề) nhằm tạo ra sự liên
tưởng rồi từ đó mà chuyển sang vấn đề cần bàn.
Ví dụ, với đề văn: Vẻ đẹp mùa xuân trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”
(Trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du), có thể mở bài:
Từ lâu, mùa xuân đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca, đánh thức
ngòi bút của bao nghệ sỹ tài hoa. Ta đã từng được cảm nhận sắc xuân ngập tràn của
đêm “Nguyên tiêu” trong thơ Hồ Chí Minh, được hòa mình vào những cung bậc
cảm xúc xuân nồng nàn, rạo rực trong “Mùa xuân của tôi” cùng với Vũ Bằng, và
giờ đây lại được đắm mình trong sức xuân tràn trề, sắc xuân trong trẻo, tươi sáng,
tinh khôi qua những nét vẽ tinh tế, tài hoa của cụ Nguyễn Du trong đoạn trích
những đề văn kiểm tra học sinh mới có thể tìm ra cách mở bài nhanh chóng và dễ
dàng.
II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM .
1.Thực trạng chung:
Trên thực tế, qua khảo sát chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn, chúng
tôi thấy kết quả thu được chưa cao, giáo viên thường có tâm lí ngại dạy phần Tập
làm văn. Còn học sinh thường tỏ ra không hứng thú với các tiết Tập làm văn, nhất là
phần nghị luận. Nếu như tình hình dạy Tập làm văn nói chung còn nhiều vấn đề trăn
trở, thì mở bài trong bài văn nghị luận nói riêng còn gặp nhiều khó khăn. Phần này
thường bị xem nhẹ và không dành thời gian ôn tập hay rèn luyện. Chính vì thế đã
dẫn tới tình trạng có rất nhiều bài văn mở đầu khô khan, lạc đề hoặc không tạo hứng
thú cho người đọc.
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi việc làm bài văn nghị luận của học sinh,
một vấn đề dễ nhận thấy là các em rất chật vật, mất nhiều thời gian vào việc viết
phần mở bài. Từ việc chấm bài, bản thân tôi cũng nhận thấy phần mở bài của đối
tượng học sinh này thường mắc phải các lỗi cơ bản sau:
- Thiếu ý hoặc chưa nêu được vấn đề cần nghị luận;
- Dẫn dắt vấn đề vòng vo, rườm rà, vu vơ, không liên quan đến vấn đề cần giải quyết
mà đề bài yêu cầu.
- Mở bài quá chi tiết, nói hết nội dung lẽ ra phần thân bài mới trình bày;
- Mở bài khô khan, thiếu hình ảnh.
2.Về phía giáo viên:
Một số thầy cô giáo còn coi nhẹ các giờ lập dàn ý, trả bài, khiến cho học sinh
không có thói quen sửa chữa những lỗi còn hay mắc phải trong khi viết. Viết văn là
quá trình luôn cần uốn nắn, chỉ dẫn để nâng cao kĩ năng, bởi “văn ôn, võ luyện”. Mặt
khác, do thiếu thời gian giảng dạy mà một số giáo viên có thói quen từ xưa đến
-8-
hay phần mở bài, tránh được một số lỗi thường gặp trong quá trình viết đoạn mở bài
cho bài văn nghị luận.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
1. Các giải pháp.
1.1. Cung cấp kiến thức cơ bản về yêu cầu của đoạn văn mở bài cho học sinh:
- Đoạn mở bài đúng nhất thiết phải có hai nội dung: Thứ nhất là nêu vấn đề
bàn bạc; thứ hai là nêu phạm vi tư liệu và giới hạn vấn đề.
- Về hình thức, đoạn mở bài phải trình bày có câu cú gọn gàng, đúng ngữ
pháp, ngữ nghĩa đồng thời nêu được chủ đề của đoạn.
Ví dụ: Đề bài : “Tình cha con trong truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn
Quang Sáng”
-9-
Mở bài 1: Có nhà văn đã nói rằng: “Không có chuyện cổ tích nào đẹp bằng
chính cuộc sống viết ra”. Cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc ta với biết bao
câu chuyện đã trở thành huyền thoại được các nhà văn ghi lại như những câu
chuyện cổ tích thời hiện đại. Trong số ấy phải kể đến“Chiếc lược ngà” của Nguyễn
Quang Sáng. Sâu đậm nhất, mạnh mẽ nhất là tình cha con.
Đoạn mở bài trên đã đảm bảo đầy đủ yêu cầu của một mở bài:
- Phần dẫn dắt vấn đề: Từ một câu nói của một nhà văn.
- Phần nêu vấn đề: Tình cha con sâu đậm, mạnh mẽ.
- Giới hạn vấn đề: Tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Khi đã đạt yêu cầu là mở bài đúng, chúng tôi còn muốn bàn đến một mở bài
hay. Một mở bài hay là mở bài đưa ra vấn đề một cách bất ngờ, khiến cho người ta
có hứng thú tham gia vào việc giải quyết vấn đề đó.
Muốn mở bài cho hay và thành thạo cần luyện tập bằng cách cùng một đề văn
nhưng suy nghĩ và viết mở bài theo nhiều kiểu khác nhau. Các mở bài khác nhau chủ
*Kĩ năng nhận diện đoạn văn mở bài:
- Về phía giáo viên: để rèn luyện kĩ năng này cho học sinh, giáo viên cần chuẩn bị
phiếu học tập và phát cho học sinh ( in sẵn các bài tập liên quan)
- Về phía học sinh: Cần phải nắm chắc vai trò và cấu tạo của đoạn văn mở bài. Khi
nhận được phiếu học tập, học sinh có thể giải quyết nhanh bài tập nhận diện đoạn
văn mở bài.
Bài tập: Đọc 3 đoạn văn sau đây và cho biết đoạn nào có chức năng mở bài?
Vì sao?
Đoạn 1: (1) “Đồng chí” là một tác phẩm tiêu biểu của Chính Hữu trong những
năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. (2) Bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng
chí gắn bó thiêng liêng của những anh bộ đội Cụ Hồ.
Đoạn 2: (1) Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu được mở đầu bằng hai câu thơ mang
giọng điệu tâm tình, trò chuyện. (2) Qua những lời tâm tình ấy, chúng ta có thể biết
được về quê hương, về nguồn gốc xuất thân của những người lính. (3) Họ đều ra đi
từ những miền quê nghèo khó. (4) Đó là vùng chiêm trũng “nước mặn đồng chua”
hay là vùng trung du cằn cỗi “đất cày lên sỏi đá”.
Đoạn 3: (1) Nếu nói đến những nhà thơ tâm huyết luôn chọn chủ đề về tình đồng
đội, đồng chí làm nguồn cảm hứng sáng tạo thì không thể không nhắc đến Chính
Hữu- một nhà thơ quân đội. (2) Sáng tác của ông không nhiều nhưng lại được rất
nhiều người biết đến và yêu thích. (3) Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông
là bài thơ “Đồng chí”. (4) Bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng
liêng của những anh bộ đội thời chống Pháp.
Yêu cầu học sinh căn cứ vào cấu tạo của đoạn văn mở bài để thấy được đoạn
1 và 3 là đoạn văn mở bài, đoạn 2 không có vai trò mở bài. Trong đó:
- Đoạn 1 sử dụng cách mở bài trực tiếp: Câu (1) giới thiệu tác giả tác phẩm; câu (2)
nêu nhận xét, đánh giá về tác phẩm ( Đây chính là vấn đề sẽ được bàn luận ở phần
thân bài).
- Đoạn 2 là đoạn văn phân tích hai câu thơ đầu của bài thơ. Đây là đoạn văn thuộc
phần thân bài.
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh – một làng quê có truyền thống văn hóa đẹp và thơ mộng.
“Làng” là tác phẩm tiêu biểu của ông viết về người nông dân.
Phần mở bài trên đã nêu được vấn đề nghị luận chưa? Em hãy viết lại cho
hoàn chỉnh.
Giáo viên hướng dẫn để học sinh nhận ra vấn đề nghị luận chưa được nêu
trong mở bài trên. Đây là phần quan trọng nhất của mở bài, nếu thiếu thì mở bài sẽ
không đạt yêu cầu. Cần bổ sung thêm vào mở bài đó như sau để nó trở nên hoàn
chỉnh: Nhân vật chính của truyện là ông Hai – một người nông dân hiền lành,
giản dị. Ông Hai đã dành cho ngôi làng của mình một tình cảm thật sâu sắc. Sau
cách mạng tháng Tám, tình yêu làng của ông đã hòa quện trong lòng yêu nước.
Đó là sự chuyển biến mới trong tư tưởng của người nông dân.
Qua hai bài tập trên học sinh phải nắm chắc được cấu tạo của phần mở bài
trong bài văn nghị luận. Bắt buộc các em phải giới thiệu được tác giả, tác phẩm (giới
hạn phạm vi kiến thức) và vấn đề nghị luận ( vấn đề cơ bản định hướng cho phần
thân bài). Nếu thiếu đi một trong hai phần này thì mở bài đều không đạt yêu cầu.
Bài tập 3: Cho đề bài sau: Suy nghĩ và cảm nhận của em về tình cảm cha
con trong bài thơ “Nói với con” của Y Phương.
Hãy đọc đoạn mở bài của một bạn học sinh cho đề bài trên và nêu ý kiến nhận
xét của bản thân em. Đoạn mở bài được viết như sau:
“Y Phương là nhà thơ của dân tộc Tày có một hồn thơ chân thật, mạnh mẽ và
trong sáng. Qua bài thơ “Nói với con” tiêu biểu cho hồn thơ Y Phương: Yêu quê
hương, bản làng, tự hào và gắn bó với dân tộc mình. Qua bài thơ này của Y Phương
đã cho ta thấy tình cảm cha con da thịt gắn bó sâu sắc. Tình cảm ấy thật chân thành
mộc mạc và xúc động.”
Qua sự gợi ý, dẫn dắt giáo viên giúp học sinh nhận ra một số vấn đề ở đoạn mở bài
này như sau:
- Về nội dung: Đoạn mở bài đã giới thiệu được tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị
luận. Như vậy, đoạn văn đã đạt yêu cầu về nội dung.
- 12 -
( các đoạn văn dành cho dạng bài tập này như tôi đã trình bày ở mục I.3-thuộc phần
Giải quyết vấn đề).
- Học sinh: Xem lại kiến thức về cách viết đoạn mở bài rồi thực hiện theo yêu cầu
của phiếu học tập.
- Mục đích: Giúp học sinh rèn kĩ năng xác định nhanh cách viết mở bài trực tiếp và
mở bài gián tiếp.
*Kĩ năng lập dàn ý cho phần mở bài:
- Giáo viên: Trước khi cho học sinh viết đoạn văn, hướng dẫn cho học sinh kĩ năng
lập dàn ý. Việc làm này cần áp dụng thường xuyên, vừa tạo thói quen, vừa giúp các
em định hướng đúng cho nội dung của đoạn văn.
- Học sinh: Lập dàn ý theo hai cách đã học.
Bài tập:
- 13 -
Em hãy lập dàn ý đoạn mở bài cho đề sau bằng hai cách: mở bài trực tiếp và gián
tiếp: “Sang thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khuâng mà cũng thầm
thì triết lí. Hãy phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh để làm sáng tỏ ý kiến
trên.
Học sinh lập dàn ý như sau:
Cách trực tiếp:
- Nêu vấn đền cần nghị luận: “Sang thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng
bâng khuâng mà cũng thầm thì triết lí.
- Giới hạn vấn đề: Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Cách gián tiếp:
1.
Kiểu diễn dịch:
- Dẫn dắt vấn đề: Giới thiệu khái quát về Hữu Thỉnh và bài thơ “Sang thu”.
- Nêu vấn đề: “Sang thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khuâng mà
- 14 -
tinh xảo trong thơ Nguyễn Khuyến với chùm thơ thu nổi tiếng, lắng sâu trong Tản
Đà với “Cảm thu” và “Tiễn thu” hay nồng nàn trong “Đây mùa thu tới” của Xuân
Diệu. Nhưng mùa thu trong “Sang thu” của Hữu Thỉnh mới thực sự đặc biệt. Nó
không hẳn là bài thơ tả cảnh mùa thu mà là tiếng thì thầm của khoảnh khắc hạ
chuyển sang thu. Cái khoảnh khắc ấy đáng yêu và đáng nhớ biết bao. Có ý kiến cho
rằng: “Sang thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khuâng mà cũng
thầm thì triết lí.(Bài làm của học sinh Giỏi)
Kết quả sau khi thực hành kĩ năng viết đoạn mở bài, có nhiều học sinh viết tốt,
không những hay mà còn sáng tạo, song trong khuôn khổ của Sáng kiến kinh
nghiệm tôi chỉ xin trình bày một vài đoạn tiêu biểu như trên. Qua việc được rèn
luyện các kĩ năng trên, học sinh lớp tôi thực nghiệm không chỉ làm quen và biết thực
hành hai kiểu mở bài trực tiếp và gián tiếp mà còn nhận thấy sự khác nhau cơ bản
giữa hai cách mở bài ấy trong quá trình dẫn dắt vấn đề. Từ đây các em có định
hướng rõ hơn, đúng hơn và tự tin hơn khi bắt tay vào làm bài văn nghị luận văn học.
1.3.Giáo viên nhận xét mở bài của học sinh trên lớp.
Trong quá trình chấm, chữa bài, giáo viên khen và biểu dương các em
bằng những lời nhận xét chân thành sâu sắc, chú ý đến sự sáng tạo từ cách dùng từ
đặt câu và kĩ năng viết đoạn mở bài của từng học sinh. Việc làm này tuy nhỏ nhưng
lại có tác dụng rất lớn, kích thích được sự tự tin ở học trò, khích lệ để các em không
ngừng cố gắng để tiến bộ.
Hoặc ngay từ mở bài có thể còn sai sót của học sinh, cô giáo có thể sửa
lại theo hướng hay hơn, hấp dẫn hơn mà vẫn dựa trên ý tưởng của các em. Từ đó các
em có thể thấy được rằng nếu bản thân chịu khó suy nghĩ, tìm tòi thì sẽ có được mở
bài hay như của cô giáo. Như vậy, việc làm của giáo viên không những đã giúp học
sinh học tập được các cách mở bài khác nhau mà còn khuyến khích được tinh thần tự
giác, tích cực sáng tạo ở mỗi học sinh trong lớp.
2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
Bước 3: Đánh giá kết quả thực nghiệm.
*Nhóm thực nghiệm.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Hướng dẫn chung.
- Giáo viên giảng lí thuyết về phần mở bài, tổ chức luyện tập kĩ năng viết đoạn mở
bài theo từng kiểu.
- Học sinh nghe, trả lời câu hỏi và luyện tập theo hướng dẫn.
- Giải đáp thắc mắc.
Bước 2: Đưa ra đề bài và yêu cầu.
- Giáo viên hướng dẫn tìm hiểu đề và lập ý cho phần mở bài.
- Học sinh làm bài tập trung.
Bước 3: Phân loại:
- Giáo viên thu bài.
- Chấm và phân loại bài theo tiêu chí đã nêu.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực nghiệm.
Sau khi giảng dạy, kiểm tra chúng tôi thực hiện đánh giá, phân loại trên cơ sở
các tiêu chí cụ thể như sau:
*Giỏi:
- Đúng, đủ kiến thức.
- Đạt yêu cầu cơ bản.
- Diến đạt trôi chảy, có tính nghệ thuật.
- Phần dẫn dắt đạt yêu cầu cao.
- Đúng chính tả, ngữ pháp.
*Khá:
- Đúng, đủ kiến thức.
- Đạt yêu cầu cơ bản.
- Đúng chính tả, ngữ pháp.
- Diễn đạt tương đối tốt.
*Trung bình:
- 16 -
17
48,6
Không đạt
0
0
10
28,6
2. Kết quả thực nghiệm đã cho thấy tính khả thi của sáng kiến kinh nghiệm.
Lớp thực nghiệm về cơ bản đã đạt hiệu quả viết bài tốt hơn so với các lớp đối
chứng. Về phía giáo viên, chúng tôi đã thực hiện đúng tinh thần kế hoạch thực
nghiệm đề ra. Còn học sinh thì tích cực và chủ động trong giờ học cũng như làm các
bài thực hành để rèn luyện kĩ năng viết đoạn mở bài theo yêu cầu của giáo viên đưa
ra. Các em đã viết đúng, viết nhanh hơn và nhiều em đã viết hay được phần mở bài.
Một số lỗi thường gặp trong quá trình viết đoạn mở bài cho bài văn nghị luận đã hạn
chế được đáng kể.
Vì vậy học sinh của chúng tôi đã hứng thú với việc làm văn nghị luận. Trong
hai năm gần đây, kết quả thi cuối học kỳ và thi vào THPT của học sinh lớp 9 trường
THCS Yên Mỹ đã từng bước được nâng lên. Điều đó được đánh giá khách quan vì
việc chấm bài học kì lớp 9 là chấm chéo giữa các trường. Tôi rất tự hào vì mình đã
góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng bài làm văn của học sinh. Nhất là
kết quả kì thi tuyển vào THPT vừa qua, học sinh lớp 9 do tôi dạy có nhiều em đạt
điểm giỏi, trong đó em Phạm Thị Thắm đạt điểm 9, điểm trung bình môn Ngữ văn
vào THPT của trường chúng tôi dù còn rất khiêm tốn so với các trường trong toàn
huyện nhưng lần đầu tiên chúng tôi đạt mức điểm trên 5. Tất cả những kết quả đạt
được đó chính là nguồn động viên thầy trò trường THCS Yên Mỹ tiếp tục phấn đấu
để những năm tiếp theo gặt hái nhiều thành công hơn.
- 17 -
bắt được phương pháp học, hình thành nên khả năng tự học, tự nghiên cứu và tự giáo
dục. Họ cũng chính là người phải phát huy cao nhất hoạt động tích cực chủ động
sáng tạo, đề xuất các dạng tài liệu rèn luyện kĩ năng viết đoạn mở bài cho học sinh.
Giáo viên cũng cần linh hoạt trong khi ra các dạng bài tập khác nhau để phù hợp với
từng đối tượng học sinh. Sự thay đổi đó không máy móc, dập khuôn nhưng vẫn đảm
bảo nội dung kiến thức và hiệu quả dạy học. Việc rèn kĩ năng viết đoạn mở bài trong
bài văn nghị luận là cách thức có hiệu quả trong làm văn nghị luận nhưng không
phải là một việc làm đơn giản.
Về phía phụ huynh: Ngày nay, không ít phụ huynh có tâm lí thích cho con em mình
tập trung học các môn khoa học tự nhiên và ngoại ngữ, họ thường “ngại” khi con cái
đam mê học văn hay lực học thiên về các môn khoa học xã hội. Đó là tư tưởng sai
lầm và thực dụng làm ảnh hưởng đến việc học tập của không ít học sinh. Vì thế tôi
- 18 -
mong các bậc phụ huynh quan tâm hơn đến việc phát triển toàn diện về trí tuệ và tâm
hồn, nhân cách của con em mình, tạo điều kiện về thời gian, môi truờng và tư liệu tốt
nhất giúp các em ngày càng say mê, hứng thú học Ngữ văn và không còn tâm lí ngại
làm văn.
Trên tinh thần không ngừng học hỏi và gắn bó với công việc dạy học Ngữ văn nói
chung và dạy học Tập làm văn nói riêng, qua thực tế, tôi nhận thấy hướng đi của
mình là đúng về cơ bản và có khái quát được vấn đề nhưng chưa thực sự cặn kẽ. Hi
vọng rằng, sự đóng góp của đề tài này sẽ giúp ích được phần nào những người quan
tâm đến việc dạy học cách làm văn trong nhà trường cũng như với những ai có niềm
say mê văn học. Tôi mong rằng, những vấn đề đề cập đến trong khuôn khổ hạn hẹp
của sáng kiến này sẽ là gợi ý cho nhiều người tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi để ngày
càng hoàn thiện hơn nữa hệ thống phương pháp làm văn. Nó là cơ sở, là xuất phát
điểm của những bài văn hay trong nhà trường, đồng nghĩa với việc phát triển toàn
diện năng lực tư duy, diễn đạt, hình thành nhân cách học trò. Tôi rất hi vọng có dịp
hoàn chỉnh thêm vấn đề đặt ra trong Sáng kiến kinh nghiệm này. Qua đây, mong