Rèn luyện kỹ năng lập luận bình luận trong làm văn nghị luận cho học sinh lớp 11 trường THPT A Thanh Liêm - Thanh Liêm - Hà Nam - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN THI NGA

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN BÌNH LUẬN
TRONG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH
LỚP 11 TRƯỜNG THPT A THANH LIÊM -
THANH LIÊM - HÀ NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới
phòng Khoa học và Quan hệ quốc tế, thư viện trường Đại học Tây Bắc, thư viện
tỉnh Sơn La, cùng các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy – học Ngữ Văn và Ban
chủ nhiệm khoa Ngữ Văn đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng em trong việc thực
hiện đề tài này.
Đặc biệt, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo, Thạc sĩ
Nguyễn Thùy Dung – người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ, động viên em hoàn
thành khóa luận này.
Trong quá trình thực hiện khóa luận do thời gian có hạn nên không tránh
khỏi thiếu sót. Vì vậy em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của quý
thầy cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện

Trần Thị Nga


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích- đối tượng nghiên cứu 5
3.1. Mục đích nghiên cứu 5
3.2. Đối tượng nghiên cứu 5
4.Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu 5
4.1.Nhiệm vụ của đề tài 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
5.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 6
5.2. Phương pháp khảo sát thực tế 6
5.3. Phương pháp thống kê 7
5.4. Phương pháp thực nghiệm 7
6. Cấu trúc khóa luận 7
NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 9
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1.1. Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động của tư duy 9
1.1.1.1. Khái quát về tư duy 9
1.1.1.2. Thao tác lập luận 10
1.1.2. Bình luận với tư cách là một thao tác lập luận 11

HỌC SINH TRONG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN 28
2.2.1. Rèn kĩ năng lập luận bình luận trong giờ học lí thuyết làm văn 28
2.2.1.1. Mục đích 28
2.2.1.2. Nội dung 29
2.2.1.3. Phương pháp 30
2.2.2. Rèn kĩ năng lập luận bình luận trong giờ thực hành làm văn 32
2.2.2.1. Mục đích 32 2.2.2.2.Nội dung 32
2.2.2.3. Phương pháp 32
2.2.2.4. Hệ thống bài tập thực hành 37
2.2.3. Rèn kĩ năng lập luận bình luận trong giờ trả bài 44
2.2.3.1.Mục đích 44
2.2.3.2 Nội dung 45
2.2.3.3. Phương pháp 45
Tiểu kết…………………………………………………………………… …47
Chương 3: THỰC NGHIỆM 48
3.1. MÔ TẢ THỰC NGHIỆM 48
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 48
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm 48
3.1.3. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 48
3.1.4. Về kế hoạch thực nghiệm 49
3.2. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 49
3.3. CÁCH THỨC DẠY THỰC NGHIỆM 49
3.4. KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 50
3.4.1. Các tiêu chí đánh giá 50
3.4.1.1. Về định tính 50
3.4.1.2. Về định lượng 51
3.4.2. Kết quả đánh giá thực nghiệm 51

tính sáng tạo. Để đạt được mục đích này, việc cung cấp cho học sinh những tri
thức về văn bản là cần thiết.Tuy nhiên, muốn HS độc lập tạo ra những văn bản
có tính sáng tạo thì việc cung cấp những tri thức là chưa đủ mà điều quan trọng
là phải hình thành và củng cố cho các em các kĩ năng và các thao tác lập luận
văn bản.
Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn
chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho
người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những
gì mình đề xuất. Loại văn này đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ
thông. Tuy nhiên, đặc trưng của văn nghị luận là phải lập luận để làm sáng tỏ
một vấn đề nên với học sinh để làm được bài văn nghị luận không phải là đơn
giản, và để giúp cho học sinh nắm vững và có kĩ năng làm bài văn nghị luận
không phải là việc dễ dàng. Nếu không nắm vững những nét riêng, đặc điểm
riêng của các kiểu bài nghị luận có thể dẫn đến tình trạng nhầm lẫn giữa các kiểu
bài đó; nếu lập luận không chặt chẽ thì bài văn sẽ rời rạc, thiếu sức thuyết phục.
2

Vì vậy, trong nhà trường, việc rèn luyện viết văn nghị luận là yêu cầu rất trọng
yếu của quá trình học tập.
Như ở trên đã nói, đặc trưng của văn nghị luận là phải lập luận nên để học
sinh phổ thông tạo được những văn bản hay, đầy sáng tạo thì việc dạy các em sử
dụng tốt các thao tác lập luận là vô cùng quan trọng. Vì vậy, sách giáo khoa Ngữ
văn từ THCS đến THPT đã đưa ra các thao tác lập luận thành từng nội dung cụ
thể nhằm giúp cho học sinh hiểu sâu sắc bản chất của các thao tác, từ đó vận
dụng tốt các thao tác vào quá trình tạo lập văn bản.
1.3. Ở cấp THCS các em đã được làm quen với hai thao tác lập luận là
thao tác chứng minh và giải thích. Đến THPT các em tiếp tục được làm quen với
bốn thao tác lập luận là: phân tích, so sánh, bác bỏ và bình luận trong chương
trình Ngữ văn lớp 11. Bốn thao tác lập luận này là trọng tâm phần Làm văn của
sách Ngữ văn lớp 11. Trong đó thao tác lập luận bình luận là một thao tác không

Cuốn sách tiêu biểu thứ nhất viết về bình luận là cuốn “Lí luận văn học”
do Phương Lựu làm chủ biên. Trong cuốn sách này, tác giả Phương Lựu cùng
một số tác giả khác đã nói đến bình luận với tư cách là một dạng thức của lập luận.
Theo đó các tác giả cho rằng:“Bình luận là đánh giá, xem xét cái đúng, cái sai, mặt
hay, mặt dở (tức là bình) của một hiện tượng, một sự vật, một quan niệm… đồng
thời đào sâu, mở rộng thêm (luận) nhằm phát huy những mặt tích cực, ngăn ngừa
những mặt tiêu cực, sai trái”[9, 444]. Không chỉ vậy các tác giả còn chỉ ra rằng
bình luận còn liên đới với cả chứng minh, giải thích và phân tích.
Trong cuốn “Làm văn nghị luận như thế nào” của nhà xuất bản Nghệ
Tĩnh cũng nói đến bình luận là một trong ba kiểu bài nghị luận cơ bản. Cũng
giống quan đểm của các tác giả trong cuốn Lí luận văn học, các tác giả trong
cuốn Làm văn nghị luận như thế nào cũng nêu lên bản chất của bình luận nhưng
đã có sự mở rộng và yêu cầu cụ thể hơn đối với bài văn bình luận: “Bình luận là
kiểu bài nghị luận đòi hỏi người viết phải xác định công khai luận đề đúng hay
sai, đúng sai ở chỗ nào, vì sao lại đúng sai như thế…Kiểu bài bình luận luôn
luôn nêu yêu cầu nâng cao vấn đề, mở rộng vấn đề, từ vấn đề này bàn sang vấn
đề khác có liên quan. Phải lật xuôi lật ngược vấn đề, rào đón những thắc mắc
của người đọc, người nghe; kiên quyết đấu tranh, gạt bỏ những nhận thức sai
trái, có hại; khẳng định những nhận thức đúng đắn”[20, 22]. Không chỉ vậy các
tác giả còn đưa ra yêu cầu cụ thể về giọng văn bình luận là phải “sôi nổi, hùng
hồn, giàu tính chiến đấu”. Nói cách khác “người viết bình luận phải bộc lộ chủ
quan của mình bằng tất cả trí tuệ và cảm xúc”.
Các tác giả Lê A, Nguyễn Trí trong cuốn “Làm văn” mặc dù không trực
tiếp nói về thao tác lập luận bình luận nhưng đã nói đến bình luận trên phương
diện là một kiểu bài văn nghị luận cụ thể. Theo đó Lê A, Nguyễn Trí đã chỉ ra
những đặc điểm cơ bản của văn nghị luận và đưa ra phương pháp làm bài bình
luận đối với cả bài bình luận xã hội và bình luận văn học. Điều này đã giúp ích
rất lớn cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học văn.
Một cuốn sách khác cũng đóng góp không nhỏ vào việc hình thành kĩ
năng làm văn bình luận là cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận” của tác giả Bảo

dựa vào các thao tác lập luận để chia nhỏ văn bản nghị luận thành nhiều loại: chứng
minh, phân tích, bình giảng, bình luận… và khẳng định mỗi thao tác lập luận có thể
có thể sử dụng ở nhiều kiểu bài nghị luận khác nhau, và ở mỗi bài nghị luận có thể
sử dụng nhiều thao tác lập luận khác nhau. Thao tác lập luận bình luận không chỉ
có mặt trong các kiểu bài mà thao tác này còn có mối liên hệ mật thiết với các thao
tác khác: phân tích, so sánh, bác bỏ… Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực
tế viết văn lại vừa tạo điều kiện để luyện tập cho HS biết cách sử dụng thao tác lập
luận trong suốt quá trình học văn nghị luận từ THCS đến THPT và ứng dụng vào
việc học tập cũng như cuộc sống sau này.
5

Cho đến nay thao tác lập luận bình luận chỉ mới được đề cập mang tính
định hướng chung trong các sách giáo viên (bộ cơ bản và bộ nâng cao) và trong
tài liệu bồi dưỡng giáo viên lớp 11 môn Ngữ văn, chưa có công trình nghiên cứu
một cách toàn diện, sâu sắc về vấn đề này và nếu có thì rất ít. Vì vậy thực hiện
khóa luận “Rèn luyện kĩ năng lập luận bình luận trong làm văn nghị luận cho
học sinh lớp 11 trường THPT A Thanh Liêm” chúng tôi mong muốn sẽ mở ra
một hướng tiếp cận mới trong quá trình dạy học thao tác lập luận, cụ thể là thao
tác lập luận bình luận cho các em học sinh trường THPT A Thanh Liêm, từ đó
góp phần nâng cao chất lượng học tập cho các em.
Các tài liệu và các đề tài nghiên cứu trước sẽ là định hướng để chúng tôi
tiến hành nghiên cứu. Chúng tôi sẽ lấy đó làm cơ sở lí thuyết để luận văn được
chặt chẽ. Luận văn cũng chỉ là sự tiếp nối những công trình của các tác giả đi
trước với mục đích cụ thể hơn về thao tác lập luận bình luận cho một đối tượng
cụ thể. Hy vọng đây sẽ là một công trình nghiên cứu thiết thực đối với học sinh
lớp 11 nói chung và học sinh lớp 11 trường THPT A Thanh Liêm nói riêng.
3. Mục đích- đối tượng nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu thực tế làm văn bình luận của học sinh lớp 11 trường
THPT A Thanh Liêm để đưa ra những giải pháp nhằm giúp các em rèn luyện kỹ

Trong quá trình xây dựng khóa luận, chúng tôi đã vận dụng nhiều phương
pháp dạy học tiếng Việt, dạy học Làm văn. Giữa các phương pháp có sự phối
hợp với mức độ và phân bố khác nhau ở từng phần. Dưới đây là một số phương
pháp nghiên cứu cơ bản nhất đã được chúng tôi vận dụng.
5.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu lí thuyết là phương pháp được tiến hành dựa trên cơ sở tìm
hiểu, nghiên cứu và thu thập những thành tựu lí luận đã có làm tiền đề cho việc
xác định giả thuyết khoa học mà mình đặt ra.
Cụ thể với đề tài này để đưa ra phương pháp rèn luyện kĩ năng lập luận bình
luận trong văn nghị luận, chúng tôi đã nghiên cứu lí thuyết để tìm hiểu thế nào là
bình luận, một số cách bình luận, thế nào là lập luận, lập luận bình luận, từ đó
mới có thể đưa ra các kĩ năng lập luận thích hợp nhất cho các em HS lớp 11
trường THPT A Thanh Liêm, với hi vọng sẽ “lấp đầy” những “khoảng trống” về
kĩ năng cho các em.
5.2. Phương pháp khảo sát thực tế
Từ trước đến nay, chúng ta luôn đề cao mối quan hệ thiết thân giữa lí luận
và thực tiễn, trong đó, thực tiễn nắm vai trò cốt yếu trong quá trình nhận thức và
hành động. Bởi vậy, sau khi nghiên cứu những vấn đề lí thuyết chúng tôi đã tiến
hành khảo sát thực tế. Cụ thể, chúng tôi đã đi khảo sát một số lượng nhất định,
7

thăm dò ý kiến thái độ của các em đối với việc vận dụng thao tác lập luận bình luận
vào bài viết của mình.
Như vậy, phương pháp khảo sát thực tế là tổ chức tiếp cận tri giác tìm
hiểu đối tượng trong thực tế, điều tra và tổng hợp các vấn đề thực tiễn có liên
quan mật thiết đến khóa luận.
5.3. Phương pháp thống kê
Đây là một trong những phương pháp của toán học. Chúng tôi sử dụng
phương pháp này để xử lí các số liệu thu nhận được trong quá trình điều
tra,thực nghiệm.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Bao gồm thiết kế giáo án thực nghiệm, tổ chức dạy thực nghiệm và đánh
giá kết quả thực nghiệm 9

NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động của tư duy
1.1.1.1. Khái quát về tư duy
Trong thực tiễn cuộc sống, có rất nhiều cái mà ta chưa biết, chưa hiểu.
Song để làm chủ được thực tiễn, con người cần phải hiểu thấu đáo những cái
chưa biết đó, phải vạch ra cái bản chất, mối liên hệ có tính quy luật của chúng.
Quá trình đó gọi là tư duy.
Vậy tư duy là gì? Trước khi đi định nghĩa tư duy là gì chúng ta hãy xét bài
toán của Gauss: 1 + 2 + 3 + 4 +…+ 100 =?, khi còn nhỏ Gauss đã giải như sau:
1 + 100 = 101, 2 +99 =101, 3 +98 = 101… = 50 x 101 = 5050
Qua ví dụ trên, ta nhận thấy Gauss đã nhận thức được mối quan hệ có tính
chất quy luật của dãy số và cách giải này là cách giải mới, đó chính là tư duy.
Từ đây ta rút ra định nghĩa “Tư duy là một quá trình tâm lí, phản ánh
những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy
luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa
biết”.[21, 106]

văn nghị luận là một hoạt động có mối liên hệ trực tiếp tới các hoạt động tư duy,
tới vấn đề lôgic và đó là một hoạt động mang tính trí tuệ cao.
1.1.1.2. Thao tác lập luận
Lập luận là đưa ra các lí lẽ, bằng chứng nhằm dẫn dắt người nghe (đọc)
đến một kết luận nào đó mà người viết (nói) muốn đạt tới.Lập luận được định
nghĩa rất khác nhau tùy theo ngữ cảnh của hiểu biết về lí tính như là một hình
thức của tri thức. Theo định nghĩa lôgic, lập luận là hành động sử dụng lí tính để
rút ra một kết luận từ các tiền đề nhất định bằng cách sử dụng một phương pháp
luận cho trước, và hai phương pháp tường minh được sử dụng rộng rãi nhất để
đạt đến kết luận là lập luận suy diễn và lập luận quy nạp.
Hiểu một cách khái quát, lập luận là trình bày hệ thống lí lẽ và luận
chứng của mình một cách chặt chẽ, rành mạch, gãy gọn theo một trình tự hợp lí,
đúng với quy luật lôgic nhằm khẳng định hoặc bênh vực một ý kiến, làm sáng tỏ
vấn đề mà người nói, người viết cho là đúng đắn. Hay nói một cách khác, lập
luận là quá trình liên kết, xâu chuỗi luận điểm, luận cứ nhằm làm rõ luận đề theo
một quan niệm nhất định để người đọc hiểu, tin ở những kết luận mà người viết
muốn dẫn dắt người đọc đến. Lập luận là sản phẩm của tư duy lôgic, do vậy lập
luận vừa phải có lí lẽ, bằng chứng thuyết phục, lại phải biết trình bày, dẫn dắt
11

sao cho lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Mặt khác, lập luận phải có đích, đích của
lập luận phải tìm ra những chân lí mới rút ra từ những tri thức khác, là con
đường đi đến nhận thức chân lí một cách khoa học.
Lập luận trong văn nghị luận ngoài có các yếu tố luận điểm, luận cứ, luận
chứng còn có cách lập luận, phương pháp lập luận. Trong đó luận điểm chính là
ý kiến xác định của người viết với vấn đề đặt ra. Luận cứ là các tài liệu dùng
làm cơ sở cho việc thuyết minh cho luận điểm còn luận chứng là sự phối hợp, tổ
chức các lí lẽ và dẫn chứng để thuyết minh cho luận điểm, thực chất đây là cách
đưa luận cứ vào quỹ đạo logic để tạo thành sức thuyết phục của luận điểm.
Để lập luận, người ta phải sử dụng các thao tác lập luận. Đặc điểm của các

cần phải học cách tôn trọng đối thủ”. Ở đây, lĩnh vực bình luận là thể thao,
người bình luận đã đưa ra những ý kiến đánh giá của mình để người đọc phải
suy ngẫm về lối chơi của đội “quỷ đỏ M.U”.
Chúng ta đang sống trong một thời đại văn minh, dân chủ; mọi người đều
có quyền và có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề trong xã hội; các
quan điểm, ý kiến có tinh thần xây dựng đều được trân trọng và khuyến khích.
Con người trong thời đại như thế phải dám và phải có khả năng tham gia bình
luận, để trở thành người có ích cho cuộc sống.
Hiểu theo tinh thần ấy thì lập luận bình luận là một hoạt động mà con
người vẫn thường xuyên tiến hành ở cuộc đời. Có thể nói, không một học sinh nào
chưa từng nhiều lần lập luận bình luận và chưa từng có ít nhất một lần lập luận bình
luận thành công. Những kinh nghiệm rút ra từ những lần lập luận bình luận trong
cuộc sống ấy rất có ích cho việc tìm hiểu về văn bình luận ở nhà trường.
Chương trình Ngữ văn hiện hành coi bình luận là một thao tác. Nhưng có
lẽ bình luận không nằm trong cùng hệ thống với các thao tác như so sánh hay
bác bỏ. Ngang bậc với bình luận phải là các thao tác giải thích, chứng minh,
phân tích. Phải đặt bình luận vào hệ thống cùng với các thao tác giải thích,
chứng minh để khu biệt bình luận với giải thích, chứng minh, mới mong nắm
được bản chất thật sự của thao tác lập luận này. Như vậy, bình luận là một loại
thao tác lập luận; về mặt này, nó cũng giống chứng minh và giải thích. Nhưng
bình luận không nhằm mục đích làm cho người đọc (người nghe) hiểu rõ như
giải thích hay tin là đúng, là có thật như chứng minh. Mục đích của bình luận là
đánh giá và bàn luận. Đã gọi là đánh giá thì phải có sự xác định phải trái, hay
dở, đúng sai. Cũng vậy, đã gọi là bàn luận thì phải có sự trao đổi ý kiến với
người đối thoại. Nói một cách khái quát, bình luận một thao tác lập luận, trong
đó người viết (người nói) bàn luận, đánh giá một vấn đề để đi đến việc nhận
định đầy đủ, sâu sắc về vấn đề đó và những điều do vấn đề đó gợi ra. Nó gồm
hai thao tác cụ thể là: bình (đánh giá) và luận (bàn bạc và mở rộng vấn đề).
1.1.2.2. Cách bình luận
Như chúng ta biết rằng, thao tác bình luận được sử dụng trong cả biện

điểm lí luận văn học,…), phạm vi tư liệu mà đề bài yêu cầu sử dụng. Ở bước thứ
nhất này, cần lưu ý: không nên cố trình bày hiện tượng (vấn đề) đó cốt cho phù
hợp nhất với quan điểm của mình, vì việc làm ấy khiến người đọc (người nghe)
ngờ vực, cảm thấy sự bình luận không thật công bằng, không thật vô tư.
Tiếp đó, người bình luận sẽ nêu ra và bảo vệ quan điểm của riêng mình
theo một trong các cách sau:
(1)Đứng hẳn về một phía, ủng hộ phía mình cho là đúng và bác bỏ phía
mình chắc chắn là sai. Như trong đoạn văn sau đây, người viết đã bác bỏ hoàn
toàn ý kiến cho rằng: “Cứng quá thì gãy”:
“Người ta thường nói:“Cứng quá thì gãy”. Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi
được, còn gãy hay không là việc của trời. Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu
đổi cứng ra mềm?
14

Ngô Tử là một chàng áo vải. Vì cứng cỏi mà đốt cháy đền tà, chống lại
yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người. Bởi thế được nổi tiếng và được giữ
chức vị ở Minh ti, thật xứng đáng. Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng
cỏi”.[12, 26]
(2) Kết hợp những phần đúng và loại bỏ phần còn hạn chế của mỗi phía,
để đi tới một sự đánh giá mà mình tin là thật sự công bằng, hợp lí. Bởi lẽ, bất kì
một sự vật, hiện tượng nào cũng khó hoàn hảo, bên cạnh những hạt nhân hợp lí
còn chứa đựng những không ít những yếu tố tiêu cực. Trở lại VD trên, khi bình
luận câu tục ngữ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, rõ ràng việc coi trọng giá trị thực
dụng đúng về cơ bản. Tuy vậy, nếu quá coi trọng giá trị thực dụng mà xem nhẹ
hoặc bỏ qua giá trị thẩm mĩ cũng không đúng.
Cách bình luận này sẽ giúp chúng ta tránh được khuynh hướng cực đoan,
một chiều trong đánh giá. Thông thường, chúng ta thường hay đánh giá quá cao
các hiện tượng (vấn đề) được bình luận, xem nó là hay, là có giá trị hơn cả. Đây
là nhược điểm hay gặp trong các bài bình luận. Cần có thái độ khách quan, đúng
mực, đáng khen thì khen, đáng khen đến mức độ nào thì khen đến mức độ ấy.

người. Quan niệm sống đẹp ấy làm nên tâm hồn Việt Nam, sức mạnh nhân nghĩa
Việt Nam”.[6, 500]
1.1.3. Mối quan hệ giữa các thao tác lập luận bình luận với các thao tác lập
luận khác.
Do đặc trưng văn nghị luận là bàn luận, làm sáng tỏ một vấn đề xã hội hay
văn học nào đó nên rất cần có sự kết hợp thành thạo giữa các thao tác nghị luận,
lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Chính vì vậy, trong quá trình làm văn
nghị luận, thao tác lập luận bình luận không bao giờ đứng độc lập, tách biệt mà
luôn có sự phối hợp với các thao tác lập luận khác như : chứng minh, giải thích,
so sánh, phân tích, bác bỏ.
1.1.3.1. Quan hệ với thao tác lập luận chứng minh, giải thích
Để chứng minh một vấn đề ta cần dùng đến lí lẽ và dẫn chứng để minh
họa, xác nhận, khẳng định, bênh vực chắc chắn sự đúng đắn của một ý kiến, một
nhận định, một vấn đề. Tuy nhiên, để mở rộng nâng cao vấn đề cần chứng minh
thì việc người viết đưa ra những nhận định, đánh giá, bàn luận của bản thân (tức
là bình luận) là vô cùng quan trọng. Hoặc để tăng tính thuyết phục của dẫn
chứng đưa ra, người viết phải phân tích, có khi là phải bình luận dẫn chứng.Ví
dụ: “Cuộc đối thoại giữa mây và em bé không chỉ nói lên tâm hồn bay bổng hồn
nhiên của tuổi thơ mà còn khẳng định ngợi ca tình yêu mẹ của tuổi thơ rất đẹp
và mãnh liệt:
“Mẹ đợi tôi ở nhà, tôi có lòng nào bỏ được mẹ tôi”.
Yêu mẹ hiền, yêu mái nhà êm ấm… là những tình cảm trong sáng, đằm
thắm của em bé. Có gì hạnh phúc hơn khi được sống bên mẹ hiền:
“Con làm mây nhé, mẹ làm mặt trăng
Hai tay con ôm mặt mẹ, còn mái nhà ta là trời xanh”.
16

Trí tưởng tượng diệu kì và tình yêu thiếu nhi nồng nàn của Ta-gor đã
sáng tạo nên vần thơ đẹp nói về hạnh phúc tuổi thơ. Ở đây, tình mẫu tử được
nâng lên ngang tầm với vũ trụ”.[6, 371]

đủ, sâu sắc cái giá trị hoặc cái phi giá trị của đối tượng. Để phân tích thực sự có
giá trị cần phải có thao tác tổng kết, nhận định, đánh giá về đối tượng phân tích.
17

Như chúng ta đã biết, mục đích phân tích văn học là để nhận định, đánh
giá xác đáng một hiện tượng văn học. Vì vậy, sau khi tiến hành phân tích theo
hướng đề ra, bài viết phải đề xuất nhận định, đánh giá hiện tượng văn học về
tính độc đáo (cấu tứ mới lạ, đổi mới so với truyền thống), giá trị nhận thức (mức
độ sâu, nông so với vấn đề nêu ra), giá trị tư tưởng (thái độ đối với nhân dân, đất
nước, con người), giá trị nghệ thuật (mức độ tài nghệ, sức thuyết phục, gợi cảm,
phong cách). Ví dụ, sau khi phân tích bài Đi đường của Hồ Chí Minh, có thể
nhận định đó là một bài thơ hay, súc tích, thể hiện tinh thần lạc quan của nhà
cách mạng vĩ đại và tâm hồn phón khoáng cao đẹp của một nhà thơ.Bài thơ nhỏ
mà có kịch tính. Thoạt đầu tưởng đâu con người bị nuốt chửng giữa trùng san bị
“nuốt” vào tầm mắt. bài thơ thể hiện tư tưởng một cách tự nhiên, không có chút
gì lên gân, gượng ép.
Hay khi phân tích một vấn đề lí luận văn học, thao tác nêu lên chỗ mạnh,
chỗ yếu, đóng góp và hạn chế của hiện tượng văn học được xét (giai đoạn văn
học hoặc phong cách tác giả) chính là thao tác bình luận. Ví dụ, đối với tính chất
sử thi của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975, sau khi phân tích ta có thể
đánh giá văn học sử thi đã xây dựng được những hình tượng về nhân dân, Tổ
quốc anh hùng, góp phần đoàn kết, cổ vũ nhân dân đấu tranh giành độc lập,
thống nhất Tổ quốc. Cùng với các sáng tác mang tính sử thi thời trước (như
Thánh Gióng, Bình Ngô đại cáo, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc…), văn học giai
đoạn này góp phần nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc. Tuy vậy, sự độc tôn của một loại hình văn học đã ít nhiều hạn chế sự đa
dạng của văn học, hạn chế cách nhìn đời sống theo các góc độ khác nhau.
Những lời nhận định, đánh giá đã nâng cao giá trị của phân tích, đem lại
tính mục đích cho phân tích.
1.1.3.3. Quan hệ với thao tác lập luận so sánh

1.1.3.4. Quan hệ với thao tác lập luận bác bỏ
Trong đời sống cũng như trong sách báo,ta có thể bắt gặp những ý kiến
sai lầm, những lời nói, bài viết lệch lạc, thiếu chính xác (trái ngược với thực tế,
với đạo lí, không phù hợp với chân lí…hoặc sử dụng cách lập luận không logic,
phản khoa học,…).Đứng trước những tình huống đó, chúng ta thường trao đổi,
tranh luận, đánh giá để bác bỏ ý kiến sai trái đó. Khi bác bỏ cũng phải có lí lẽ để
giải thích, có sự bàn bạc, đánh giá và đưa ra những dẫn chứng để chỉ rõ những
sai lầm, lệch lạc, thiếu khoa học của một quan điểm, một ý kiến nào đó. Như
vậy, vấn đề đưa ra nghị luận mới sâu sắc, giàu sức thuyết phục.
Ví dụ, Nguyễn Đình Thi đã bác bỏ một ý kiến sai lầm về thơ như sau: “Từ
trước đến nay đã có nhiều định nghĩa về thơ, nhưng lời định nghĩa nào cũng vẫn
không đủ. Có người nghĩ rằng thơ là những lời đẹp. Nhưng đâu phải như vậy. Dưới
ngọn bút của Hồ Xuân Hương, những chữ tầm thường của lời nói hằng ngày nôm na
mách qué đã trở thành những lời thơ được truyền tụng mãi. Và Nguyễn Du không
những để lại câu thơ như “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” mà còn viết:
“Thoắt trông lờn lợt màu da
Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao!”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status