Sáng kiến kinh nghiệm rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“RÈN KĨ NĂNG VIẾT BÀI VĂN TẢ CẢNH CHO HỌC SINH LỚP
5”

1


LỜI CẢM ƠN
Sáng kiến kinh nghiệm‘‘ Rèn kĩ năng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5” mà tôi
nghiên cứu đến nay đã hoàn thành. Có được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Phù Cừ đã tạo điều kiện để tôi nghiên cứu và thực
hiện.
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Tiểu học Minh Tân,
giáo viên tổ: 4, 5, cô giáo Lê Phương Nga, các bạn học lớp K4 ĐHSP, đã hỗ trợ, giúp tôi
thu thập tài liệu, lựa chọn phương pháp làm cơ sở cho việc nghiên cứu.
Cũng trong dịp này, tôi xin cảm ơn các em học sinh khối 5 Trường Tiểu học Minh Tân
khóa học 2012 – 2013 và khóa học 2013 – 2014 đã ủng hộ, giúp đỡ để tôi hoàn thành
nghiên cứu này.
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn và cách nhìn của bản thân không tránh
khỏi phiến diện, sai sót. Vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các
chuyên viên Phòng giáo dục, Ban giám hiệu trường và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến
kinh nghiệm của tôi có tính khả thi cao, góp phần vào việc nâng cao chất lượng học viết
văn nói riêng và học tập nói chung.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Minh Tân ngày, 10 tháng 3 năm 2014
Người viết

Hoàng Thị Thúy Vinh


động hơn, gần gũi hơn.
Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rất khó
khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục.
2. Cơ sở thực tiễn:
3


Là một giáo viên đã trải qua nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 4, 5 tôi nhận thấy
thể loại văn tả cảnh trong phân môn Tập làm văn ở lớp 5 là thể loại văn dùng lời nói có
hình ảnh và cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về
người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay
không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện
được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng được miêu
tả. Thực tế giảng dạy tập làm văn phần tả cảnh, bản thân người giáo viên là người hướng
dẫn đôi khi cũng cảm thấy lúng túng, bí từ và không biết phải hướng dẫn thế nào để học
sinh có thể viết được bài văn hay, có hình ảnh có cảm xúc. Một số tài liệu như sách giáo
khoa, sách giáo viên, sách thiết kế thì hướng dẫn chung chung, còn một số sách khác như
văn mẫu lại chỉ có các bài văn đã viết sẵn và thực tế mẫu nhưng không phải là chuẩn
mực, có chăng chỉ là đôi chỗ có câu, ý hay,… mà lại không có một sự hướng dẫn cụ thể
nào để định hướng cho giáo viên cũng như học sinh.
Là một giáo viên tiểu học tôi luôn trăn trở suy nghĩ để làm thế nào cho học sinh thích
làm văn, viết văn chân thật, có cảm xúc và sinh động. Trong năm học 2011 – 2012, 20122013, tôi đã dạy và tìm hiểu khá kĩ về mảng Tập làm văn, đặc biệt là văn tả cảnh lớp 5.
Tôi đã áp dụng một số phương pháp và thấy có những kết quả đáng mừng. Kinh nghiệm
này được áp dụng và đã mang lại hiệu quả nhất định trong dạy Tập làm văn. Năm học
2013- 2014, tôi mạnh dạn đề xuất một vài biện pháp nhỏ “ Rèn kĩ năng viết bài văn tả
cảnh cho học sinh lớp 5”, để nghiên cứu với hi vọng gúp phần nâng cao trình độ của bản
thân và nâng cao chất lượng dạy - học văn tả cảnh lớp 5 nói riêng và nâng cao chất lượng
dạy học nói chung. Qua đây, tôi mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi của đồng
nghiệp để đề tài thực sự có giá trị trong quá trình dạy học.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

3. Một số biện pháp dạy- học văn tả cảnh lớp 5.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Đọc tài liệu liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung chương trình TLV 5, mạch kiến thức Dạy viết văn tả cảnh.
2. Phương pháp quan sát sư phạm:
- Điều tra thực trạng qua từng giai đoạn trong suốt năm học, trao đổi với giáo viên và
học sinh, tìm hiểu thực tế việc dạy- học phân môn TLV trong trường Tiểu học.
- So sánh đối chứng trong cùng một giai đoạn giữa lớp này với lớp kia, giữa các giai
đoạn với nhau trong cùng một lớp, đối chứng cả với những năm học trước.
- Quan sát tinh thần, thái độ, ý thức học TLV của học sinh lớp dạy thực nghiệm và học
sinh lớp khác trong khi đi dự giờ, quan sát phương pháp sư phạm của giáo viên giảng
dạy, quan sát chất lượng bài viết của học sinh ở từng dạng miêu tả khác nhau để tìm hiểu
những tác nhân trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng viết văn miêu tả của học sinh.
5


3. Ứng dụng sơ đồ tư duy
Sử dụng sơ đồ tư duy trong một số phần để hướng dẫn học sinh quan sát, viết mở bài,
lập dàn ý cho bài văn tả cảnh.
4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
- Tiến hành đồng thời với phương pháp kiểm tra toán học và phương pháp tổng hợp số
liệu thống kê. Khi kiểm tra đánh giá chất lượng bài văn miêu tả của từng học sinh, tôi mô
tả và thống kê chất lượng ấy bằng những số liệu cụ thể, sau đó tổng hợp các số liệu đã
thu được nhằm rút ra kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân.
VI. PHẠM VI, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
- Các tiết Tập làm văn về bài văn tả cảnh ở lớp 5.
- Thực trạng dạy – học văn tả cảnh của giáo viên, học sinh lớp 5 trường Tiểu học Minh
Tân nơi tôi công tác trong thời gian qua, đặc biệt là học sinh lớp 5B năm học 2012
-2013.

Nội dung tả cảnh tập trung vào các cảnh: Một buổi trong ngày, một hiện tượng thiên
nhiên, trường học, cảnh sông nước. Với các nội dung trên, yêu cầu viết lại chủ yếu là
đoạn văn. Do đó, với mỗi cảnh học sinh ít được viết hoàn thiện một bài văn hoàn chỉnh
ngay trên lớp để thầy cô và bạn bè trực tiếp góp ý.
2. Người học (về phía học sinh)

7


- Học sinh chưa biết bộc lộ cảm xúc và sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi tả cảnh
khiến bài viết thiếu hình ảnh, khô khan,… Học sinh chưa có hứng thú viết văn đặc biệt là
văn miêu tả.
- Học sinh không có thói quen sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi viết văn
- Khi làm văn, học sinh miêu tả hời hợt, chung chung, vốn từ còn nghèo nàn, bài văn trở
thành một bảng liệt kê các đối tượng miêu tả, không làm nổi bật được cảnh đang tả.
- Bài văn học sinh làm thường vay mượn ý tình của người khác, các em thường sao chép
những bài văn mẫu thành bài văn của mình không kể đầu bài quy định như thế nào. Với
cách làm ấy các em không cần biết đối tượng cần miêu tả gì, không chú ý tới đặc điểm
nổi bật tạo nên nét riêng của cảnh, cũng như không có cảm xúc về nó.
- Học sinh chưa có ý thức quan sát đối tượng miêu tả và ghi chép những điều quan sát
được một cách cụ thể và chi tiết chính vì vậy mà các em còn lơ mơ về đối tượng miêu tả
nên tả còn nhiều chi tiết khập khiễng, lủng củng không gắn kết với nhau.
- Học sinh tiểu học vốn sống, vốn kiến thức và những rung cảm trước cái đẹp còn hạn
chế nên chưa thổi được vào cảnh cái hồn để cảnh miêu tả trở nên sinh động, ấn tượng
hơn.
- Học sinh chưa có phương pháp làm văn cụ thể, việc tiếp thu kiến thức làm văn đến vận
dụng kiến thức đó chưa chủ động và linh hoạt.
- Kĩ năng vận dụng các từ ngữ gợi hình, gợi tả và các biện pháp nghệ thuật tu từ còn lúng
túng.
b. Người dạy

- Kết quả thu được như sau :

Lớp

Tổng Giỏi
số
SL
HS

Khá

Trung bình

Yếu

TL% SL

TL% SL

TL% SL

TL
%

5A

29

2


6

20,7

Từ kết quả trên tôi thấy chất lượng học sinh hai lớp là tương đương bởi tỉ lệ học
sinh giỏi, khá, trung bình, yếu luôn ngang nhau, tôi quyết định lựa chọn một số giải
pháp để ứng dụng, thực nghiệm mong muốn có kết quả tốt để cải tiến cách dạy, cách học
cho cá nhân và học sinh và có thể là giải pháp cho đồng nghiệp.
9


III. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT.
Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải đổi mới
phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể loại miêu tả cảnh
một cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn.
Để đạt được mục tiêu trên thì cần phải tiến hành giải quyết các vấn đề chính sau:
• Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng.
• Hướng dẫn học sinh một số thủ pháp làm văn tả cảnh.


Xây dựng một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ và các biện pháp nghệ
thuật tu từ.

• Cung cấp, khuyến khích học sinh tích lũy vốn từ ngữ khi học, đọc, viết các bài văn,
thơ về tả cảnh. Cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh.
Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào nhau một
cách nhịp nhàng và linh động thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều.
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH.
Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải quyết các
vấn đề được nêu ở trên giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh như sau:

Để rèn cho học sinh thói quen làm tuần tự theo các bước kể trên khi làm văn thì mỗi
bước làm giáo viên cũng phải hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ về phương pháp cũng
như cách suy nghĩ, cách thực hiện bài làm.
Cụ thể:
* Bước 1: Tìm hiểu đề
- Tác dụng: Giúp học sinh xác định được yêu cầu đề bài, tránh làm lạc đề. Nói cách khác
tìm hiểu đề để định hướng học sinh nắm được mình đang làm bài văn thuộc thể loại gì, tả
cái gì, đối tượng đó có những yêu cầu, giới hạn đến đâu...
- Cách thực hiện:Hướng dẫn học sinh làm những công việc sau:
+ Đọc kĩ đề.
+ Phân tích đề.
Phân tích đề bằng cách:
- Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn.

11


- Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả.
Ví dụ: Đề bài: Hãy miêu tả vẻ đẹp của một dòng sông mà em yêu thích (ấn tượng).
Học sinh tìm hiểu và phân tích đề bài qua việc trả lời các câu hỏi:
?/ Hãy xác định thể loại làm văn?
?/ Đối tượng miêu tả là gì?
?/ Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào ?
Thể loại

Miêu tả

Đối tượng
miêu tả
Dòng

nhiều mà phải chọn lọc, lựa chọn những điểm riêng biệt, nổi bật, gây ấn tượng,… Đó là
những chi tiết lột tả được cái thần của cảnh. Khi quan sát, cần sử dụng đồng thời nhiều
12


giác quan và điều quan trọng là phải quan sát bằng tấm lòng. Mục đích quan sát sẽ quy
định đối tượng và phương pháp quan sát. Để tả cảnh, cần xác định vị trí quan sát. thời
điểm quan sát, trình tự và nội dung quan sát. Quan sát phải luôn gắn với việc tìm ý và tìm
từ ngữ để diễn tả. Để giúp quan sát và tìm ý, với mỗi đề bài cần có một hệ thống câu hỏi
gợi ý nội dung quan sát và các ý cần xác lập.
Nếu học sinh không thực hiện tốt bước quan sát và tìm ý thì học sinh sẽ không có chất
liệu để làm văn từ đó học sinh sẽ không có hứng thú làm bài hoặc sao chép bài văn từ
những bài văn mẫu. Tuy nhiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép tỉ mỉ
những điều mình quan sát tạo thành một cuốn cẩm nang để khi miêu tả học sinh có sẵn tư
liệu để làm bài.
Thông thường với đề bài nào tôi cũng yêu cầu các em ghi kết quả quan sát theo các ý.
(Chọn chi tiết nổi bật, nét riêng độc đáo, …có thể bỏ trống ô nếu không phù hợp).


Mắt thấy

Tai nghe

Mũi ngửi

Tay sờ

(Thị giác)

(Thính giác)

Ví dụ: Cách quan sát dòng sông quê.

13


Ví dụ : Dòng sông được quan sát gắn theo trình tự thời gian (thân bài).

14


Nói tóm lại, giáo viên lưu ý cho học sinh khi quan sát một số điểm sau:
+ Khi quan sát học sinh phải nhìn ngắm cảnh trước mặt.
+ Học sinh phải quan sát nhiều lần, quan sát tỉ mỉ ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh ở thời
gian, địa điểm khác nhau.
+ Khi quan sát học sinh phải tìm ra những nét chính, trọng tâm của cảnh, sẵn sàng bỏ đi
những nét thừa không cần thiết (Cho nên học sinh không cần điền tất cả các ô gợi ý
trên).
+ Học sinh cần phải tìm được nét tiêu biểu, đặc sắc của cảnh. Phải bộc lộ cảm xúc hứng
thú say mê của mình trước đối tượng quan sát.
+ Học sinh phải tìm được những từ ngữ chính xác, những câu văn ngắn ngọn để ghi lại
những gì quan sát được.
* Bước 3. Sắp xếp ý và lập dàn ý
- Sau khi quan sát và tìm ý, trước khi lập dàn bài chi tiết, học sinh cần xác định trình tự
miêu tả để sắp xếp các ý một cách hợp lí. Trình tự miêu tả trong văn tả cảnh có thể là

15


trình tự không gian, có thể là trình tự thời gian tuỳ theo từng cảnh để lựa chọn cho phù
hợp.

16


17


Từ dàn ý chung đó các em sẽ lựa chọ cách mở bài, trình tự miêu tả hay cách kết bài phù
hợp cho bản thân.
+ Dàn ý chung cho yêu cầu viết một đoạn văn.
Mở đoạn

Giới thiệu cảnh sẽ tả

Thân đoạn

Tả chi tiết những đặc điểm nổi bật của cảnh

Kết đoạn

Nêu tình cảm, nhận xét đánh giá về cảnh.

* Sau khi có trong tay dàn ý chung cho cho bài văn, đoạn văn học sinh sẽ áp dụng để
lập dàn ý chi tiết. Dàn ý này cũng chính là cái sườn sát nhất cho học sinh viết thành bài
văn cụ thể.
Ví dụ:
Với bài văn tả dòng sông, ta có thể xây dựng 2 dàn ý chi tiết : Dàn ý lựa chọn miêu tả
theo trình tự không gian, dàn ý theo lựa chọn trình tự thời gian, có thể chia nhóm để mỗi
học sinh ghi một vài đặc điểm của cảnh theo buổi tại lớp và về nhà tái hiện lại cùng với
cách làm của cá nhân tạo thành một bài văn hoàn chỉnh.
+ Dàn ý tả dòng sông theo trình tự thời gian(Phần thân bài), có thể như sau:

+ Dùng từ trái nghĩa : Vào mùa nước lũ, dòng sông không hiền hoà chút nào.
+ Dùng cụm từ so sánh: Ánh trăng lồng qua kẽ lá như ngàn vạn con đom đóm đang
lập loè sáng.
b. Đặt câu.
+ Trong khi làm văn, học sinh phải viết câu văn đúng ngữ pháp nghĩa là bản thân em đó
phải xác định được đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ, đâu là các vế trong câu ghép.
+ Các em phải biết sử dụng các phép liên kết câu như: Phép lặp, phép thế, phép nối,
phép liên tưởng,..., biết sử dụng các biện pháp tu từ về câu(câu hỏi tu từ, đảo ngữ, điệp
ngữ, so sánh, nhân hoá...).
Ví dụ:
- Phép liên kết câu:
Mưa xuân lất phất bay. Cây cối thi nhau đâm chồi nảy lộc, đưa tay đón những hạt
mưa xuân. Với chúng, mưa xuân chính là liều thuốc tiên để sinh tồn và phát triển.
- Phép lặp:
19


Dòng sông như dài lụa đào mềm mại. Nó cứ chảy mãi, chảy mãi để mang phù sa màu
mỡ cho đất đai.
- Biện pháp tu từ ( thường dùng)
+ Câu hỏi tu từ: - Bạn có biết cảnh đẹp mà người dân quê em rất đỗi tự hào là cảnh
gì không? Đó chính là dòng sông Hồng quanh năm đỏ nặng phù sa đấy!
+ So sánh : Mặt trời như quả bóng tròn, đỏ hồng treo lơ lửng trên bầu trời.
+ Nhân hoá : Nàng Xuân xinh đẹp mang những sắc màu lộng lẫy khoác lên cỏ cây,
hoa lá.
* Học sinh phải phân biệt được câu văn kể với câu văn tả để khi viết sẽ sử dụng các câu
văn miêu tả tránh dùng câu kể khiến người đọc có cảm giác như người viết đang kể lể dài
dòng về cảnh
- Câu văn kể chỉ nêu một thông báo cho người đọc, người nghe.
- Câu văn tả là câu văn phối hợp nhiều yếu tố (Các kiểu câu, các loại câu, các biện pháp

Ví dụ:
Diễn dịch

+ Câu mở đoạn nêu nhận xét đánh giá chung về đối tượng tả
trong đoạn, các câu còn lại tả chi tiết đối tượng đó.
+ Ví dụ: Ôi, bầu trời đêm mới đẹp làm sao! Mặt trăng tròn, to
như quả bóng vàng treo lơ lửng trên bầu trời mờ đục, cao thăm
thẳm. Những vì sao như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh tô điểm
cho chiếc áo đêm thêm lộng lẫy. Chúng mang đến vẻ đẹp bí ẩn
cho “thửa ruộng của vợ chồng lão nông ”…
+ Câu cuối đoạn nêu nhận xét, đánh giá về đối tượng được tả ở
trên. các câu còn lại tả chi tiết các đặc điểm của đối tượng.

Quy nạp

+ Ví dụ: Mặt trăng tròn, to như quả bóng vàng treo lơ lửng trên
bầu trời mờ đục, cao thăm thẳm. Những vì sao như ngàn vạn hạt
kim cương lấp lánh tô điểm cho chiếc áo đêm thêm lộng lẫy. ánh
trăng vàng đổ xuống mái nhà, lồng trong kẽ lá, chảy xuống
nhành cây, tràn ngập khắp con đường trắng xoá. Khoảng sân
đầy ắp trăng, cánh đồng trăng mênh mông. Dưới ánh trăng,
dòng sông lấp lánh như được dát bạc. Ôi, trăng đêm nay thật
đẹp!
+ Tả luôn các đặc điểm của đối tượng tả, có thể mỗi đặc điểm
được tả bằng một hoặc hai câu.

Song hành

+ Ví dụ: Nàng hồng xúng xính trong bộ áo đỏ thắm, nàng cúc
tưng bừng trong chiếc váy màu vàng rực rỡ…tất cả đang toả

> Chỉ trình tự, bổ sung: Buổi sáng, buổi trưa, khi mùa xuân về, …trước hết, cuối cùng,
ngoài ra, thêm vào đó,...
> Chỉ ý nghĩa tổng kết, khái quát: Tóm lại, nói tóm lại, nhìn chung,...
> Chỉ ý đối lập, tương phản: Ngược lại, trái lại, nhưng, thế mà, tuy vậy,...
> Từ ngữ thay thế: Do đó, do vậy, vì thế, cho nên,...
+ Dùng câu:
> Dùng câu nối với phần trước của văn bản.
> Dùng câu nối với phần sau của văn bảm.
> Dùng câu nối phân trước và phần sau của văn bản.
22


c3. Quan hệ giữa đoạn văn với đoạn văn.
- Để tạo ra sự lôgic trong diễn đạt thì học sinh có thể dựa vào quan hệ không gian, quan
hệ thời gian, quan hệ đặc điểm (với dạng bài tả cảnh thì thường dùng quan hệ
không gian, quan hệ thời gian)
- Ngoài ra quan hệ giữa các đoạn văn có thể là quan hệ giữa ý chính và ý diễn giải, giữa ý
cụ thể với ý tổng kết...
• Bước 5: Kiểm tra lại toàn bộ bài văn.
Kiểm tra lại toàn bộ bài văn là bước quan trọng nhưng thực tế đây là bước mà
nhiều giáo viên bỏ qua hoặc nếu có thực hiện thì chỉ lướt qua gọi là có. Sau khi viết xong
bài văn, sau khi nhận bài chấm của cô nhiều em không biết mình viết không được ở chỗ
nào, lỗi sai ở đâu, không hay ở đâu, có khi chỉ nhìn xem mình được mấy điểm, hơn kém
ai, ….
* Với học sinh. Đây là bước rất cần thiết, nó giúp người viết sửa chữa những lỗi sai khi
viết văn như: lỗi chính tả, cách dùng từ, đặt câu, tạo đoạn, dấu câu, cách trình bày và đặc
biệt là nhận biết được mình đã làm đúng yêu cầu đề bài chưa và bổ sung nội dung còn
thiếu.
* Cách làm: Bước kiểm tra này có thể tự học sinh kiểm tra sau khi viết xong bài (ở
nháp, ở dàn bài chi tiết hoặc bài hoàn chỉnh), khi nhận xét bài của bạn, trong tiết trả bài.

Hướng dẫn chữa lỗi từ đơn giản đến phức tạp. Rèn cho học sinh có thói quen kiểm tra
trước khi viết hoặc viết rồi vẫn có chỗ sửa sai như vở chính tả.
Lỗi sai

Sửa lại





Cho học sinh đọc lại câu văn hay, ý hay, bài văn viết tốt để các bạn tham khảo đồng thời
để kích thích, khích lệ động viên các em theo đặc điểm tâm listaoj ấn tượng tốt: (nhà văn
triển vọng, nhà văn nhí, cây bút tài năng, …). Những học sinh học chưa tốt thì cần quan
tâm đặc biệt để các em có sự tiến bộ. Nếu tiến bộ dù rất nhỏ cũng nên khen, khuyến khích
động viên để các em tự tin, cố gắng và không ngừng vươn lên.
Giáo viên nên kiên trì để hình thành thói quen cho học sinh thì chắc hẳn sẽ hạn chế được
những lỗi và giờ trả bài sẽ nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn.
2. Hướng dẫn học sinh một số thủ pháp làm văn tả cảnh
2.1 . Chọn đối tượng tả.
24


+ Thực tế, chương trình sách giáo khoa, một số đề thi, đề tự luyện văn tả cảnh thường
ra một số đề dạng mở. Tức là, học sinh có thể tuỳ chọn đối tượng tả cụ thể trong chủ đề
yêu cầu của đề bài. Tuy thế, nhiều em còn lúng túng không biết lựa chọn tả cảnh gì. Đôi
khi các em còn chọn những đối tượng cụ thể mà không hề có cơ hội quan sát hoặc chỉ
quan sát theo kiểu đã biết sơ qua.
+ Tác dụng : Việc lựa chọn đúng đối tượng sẽ giúp học sinh có được ngay hứng thú ban
đầu để chuẩn bị cho việc quan sát cảnh, tạo cơ sở cho việc hoàn thành tốt bài văn, đoạn
văn yêu cầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status