RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN MỞ BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO
ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH LỚP 9
1- Cung cấp lý thuyết về đoạn mở bài cho học sinh.
1.1- Khái niệm đoạn văn và đoạn văn mở bài:
a- Đoạn văn:
+ Hình thức: Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ
viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng. Hay nói cách khác đoạn
văn là phần của văn bản nằm giữa hai chỗ chấm xuống dòng.
+ Nội dung: Đoạn văn diễn đạt một nội dung hoặc một ý trọn vẹn
của một vấn đề.
b- Đoạn văn mở bài:
Mở bài còn gọi là nhập đề, dẫn đề. Đây là phần mở đầu của một bài
văn.Đoạn văn mở bài là phần đầu tiên của văn bản, có vai trò định hướng
cho toàn văn bản. Phần mở bài chứa đựng vấn đề cần giải quyết một cách
khái quát và thông báo cho người đọc phương thức giải quyết hoặc giới hạn
của vấn đề. Phần mở bài có vai trò gây dựng tình cảm thân thiện cho người
đọc, người nghe. Vì thế khi viết mở bài, thực chất là trả lời câu hỏi: Anh
(chị) định viết, định bàn bạc vấn đề gì?
Trả lời thẳng vào câu hỏi ấy người ta gọi là mở đề trực tiếp (còn gọi là trực
khởi). Nêu vấn đề sẽ bàn trong bài, sau khi dẫn ra một ý khác có liên quan
gần gũi với vấn đề ấy, gọi là mở bài gián tiếp (còn gọi là lung khởi). Có 2
cách mở bài:
* Mở bài trực tiếp: Giới thiệu vào thẳng vấn đề do đề bài nêu ra. Cách này
thường ngắn gọn, dễ làm hơn nhưng đôi khi kém phần thu hút người đọc, và
thường dành cho đối tượng học sinh trung bình
* Mở bài gián tiếp(giới thiệu ý dẫn nhập vào đề). Có nhiều cách vào bài theo
kiểu gián tiếp, nhưng tựu trung có bốn cách cơ bản:
- Diễn dịch (suy diễn)
- Quy nạp
- Tương đồng
- Tương phản (đối lập)
a. - Phần mở đoạn (dẫn dắt vấn đề): Viết những câu dẫn dắt là những câu
liên quan gần gũi với vấn đề chính sẽ nêu. Tùy nội dung vấn đề chính mà
người viết lựa chọn câu dẫn dắt có thể là một câu thơ, một câu danh ngôn,
một nhận định, hoặc một câu chuyện kể.
b. - Phần giữa đoạn (nêu giới hạn của vấn đề): Nêu vấn đề chính sẽ bàn
bạc trong thân bài, tức là luận đề (Giới thiệu tác giả và tác phẩm văn học có
liên quan đến vấn đề nghị luận). Vấn đề chính này có thể đã chỉ rõ, có thể
người viết tự rút ra, tự khái quát. Đối với phân tích bình giảng thơ thì thường
là nêu ấn tượng bao trùm mang tư tưởng chủ đề mà người đọc cảm nhận
được.
c. - Phần kết đoạn (nêu vấn đề nghị luận): Nêu phương thức nghị luận và
phạm vi tư liệu sẽ trình bày. Có thể đó là những nhận xét đánh giá sơ bộ của
người viết về tác phẩm, về nhân vật Đây là phần trọng tâm của mở bài.
Vấn đề nghị luận có thể đã được nêu ở đề bài (người viết chỉ việc giới thiệu
hoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đầu bài) nhưng cũng có khi người viết
phải tự rút ra, tự khái quát khi tìm hiểu đề bài.
Có thể rút ra công thức viết đoạn mở bài như sau:
(Phần mở đầu) Câu 1 (Phần giữa) Câu 2 (Phần kết) Câu 3
Dẫn dắt vấn đề Nêu tác giả, tác phẩm Nêu vấn đề nghị luận
2- Cung cấp hệ thống bài tập để rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở bài
nghị luận văn học:
Như chúng ta đã trình bày ở trên, khi phải viết bài nghị luận văn học
học sinh lớp 9 (đối tượng trung bình - yếu) cảm thấy rất lúng túng không
biết làm thế nào để đưa được vấn đề nghị luận vào phần mở bài. Chương
trình sách giáo khoa mới dành cho phần nghị luận văn học số tiết trên lớp
không nhiều mà thực tế thì đây là một phần rất quan trọng và cần thiết với
học sinh ở lớp cuối cấp. Chính vì vậy mà tôi đã cố gắng tìm hiểu và đưa ra
một số nội dung bài tập nhằm giúp học sinh phát triển theo tác tư duy độc
lập để có thể dễ dàng hơn khi viết một văn bản nghị luận văn học.
cho học sinh. Về phía học sinh cần phải nắm chắc vai trò và cấu tạo của
đoạn văn mở bài. Khi nhận được phiếu học tập, học sinh có thể giải quyết
nhanh bài tập nhận diện đoạn văn mở bài.
Bài tập:Trong 3 đoạn văn sau đây, đoạn văn nào có chức năng mở bài?
Vì sao?
Đoạn 1:Thanh Hải – người con xứ Huế, là một trong những cây bút có công
xây dựng nền văn học cách mạng miền Nam từ những ngày đầu.
(1)
Nhắc đến
Thanh Hải không thể không nhắc đến Mùa xuân nho nhỏ.
(2)
Bài thơ được
viết không bao lâu khi nhà thơ qua đời, thể hiện niềm yêu mến tha thiết cuộc
sống, đất nước và ước nguyện chân thành của tác giả.
(3)
Đoạn 2: Đoạn thơ đầu là cả một bức tranh mùa xuân tươi đẹp.
(1)
Không gian
bao la, bát ngát mở ra cả ba chiều.
(2)
Trên cái nền không gian rộng lớn ấy, nổi
bật những hình ảnh, đường nét, màu sắc thật nên thơ và gợi cảm giác êm ái,
dịu dàng, đáng yêu biết bao.
(3)
Một màu xanh tươi sáng trải rộng mênh mông
làm nền và tôn thêm vẻ đẹp nổi bật của bông hoa tím biếc
(4)
Đoạn 3: Mùa xuân là đề tài, nguồn cảm hứng bất tận của thi nhân.
(1)
Mùa
Yêu cầu với bài tập 1: Căn cứ vào cấu tạo của đoạn mở bài em hãy nhận
xét cách mở bài nêu trên?
GV cần hướng dẫn để học sinh thấy được đây là đoạn mở bài chưa hoàn
chỉnh, lặp lại từ ngữ nhiều. Đoạn mở bài này chưa nêu được giới hạn của
vấn đề nghị luận: Tác giả nào? Tác phẩm nào? Vấn đề cần nghị luận là gì?
Vậy cần bổ sung vào đoạn mở bài trên như sau:
Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn với đề tài hướng về
người nông dân và sinh hoạt làng quê. "Làng" của Kim Lân là một tác
phẩm tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam thời chống Pháp. Nhân vật
chính của truyện là ông Hai - một người nông dân hiền lành, giản dị. Ông đã
dành cho ngôi làng của mình một tình cảm thật sâu sắc. Sau cách mạng
tháng Tám, tình yêu làng của ông đã hoà quyện trong lòng yêu nước. Đó là
sự chuyển biến mới trong tư tưởng của người nông dân". (Mở bài sau khi đã
sửa cho HS)
Bài tập 2: Cũng với đề bài ở bài tập 1 có bạn học sinh lại có cách viết đoạn
mở bài như sau: "Tác giả Kim Lân có tên thật là Nguyễn Văn Tài. Ông sinh
năm 1920 ở huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh”- một làng quê có truyền thống
văn hoá đẹp và thơ mộng. "Làng" là một sáng tác tiêu biểu của ông viết về
người nông dân.
Yêu cầu với bài tập 2: Phần mở bài trên đã nêu được vấn đề nghị luận
chưa? Nếu chưa thì em hãy bổ sung để hoàn chỉnh.
GV hướng dẫn để học sinh nhận ra vấn đề nghị luận chưa được nêu trong
đoạn bài trên. Đây là một phần quan trọng, nếu thiếu thì phần mở bài sẽ
không đạt yêu cầu. Cần phải bổ sung như sau: “Kim Lân - tên thật là
Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920 ở huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh”- một làng
quê có truyền thống văn hoá đẹp và thơ mộng. "Làng" là một sáng tác tiêu
biểu của ông viết về người nông dân. Nhân vật chính của tác phẩm là ông
Hai - một người nông dân hiền làng giản dị. Ông đã dành cho ngôi làng của
mình một tình cảm thật sâu sắc. Sau cách mạng tình yêu làng của ông đã hoà
quyện trong lòng yêu nước. Đó là một nét chuyển biết mới trong tư tưởng
câu 3. Chính bởi những lỗi này nên tuy đoạn văn đã đảm bảo nội dung
nhưng chưa thể coi đây là một đoạn mở bài hoàn chỉnh. Cần phải sửa các lỗi
đã chỉ ra bằng cách:
- Câu 1: Thay từ “của” bằng từ “người”
- Câu 2: Bỏ đi từ "Qua", bỏ từ “rất”
- Câu 3: Bỏ đi cụm từ “Qua bài thơ này của Y Phương”-> thay bằng cụm từ
“đồng thời” . Thay cụm từ “da thịt”-> thay bằng cụm từ “ruột thịt”
Đoạn mở bài trên, có thể được sửa lại như sau: Y Phương - nhà thơ người
dân tộc Tày, với một hồn thơ mạnh mẽ, chân thật và trong sáng. Bài thơ
"Nói với con" là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ của ông: Yêu quê hương làng
bản, tự hào và gắn bó với dân tộc mình. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy
tình cảm cha con ruột thịt gắn bó sâu sắc. Tình cảm ấy thật chân thành, mộc
mạc và xúc động.
(Mở bài sau khi đã sửa cho HS)
Những lỗi ở bài tập 3 là những lỗi rất hay gặp nhất là ở đối tượng học sinh
trung bình - yếu. Phần mở bài được coi như là lời chào đầu tiên trong buổi
gặp gỡ vậy mà ngay từ đầu đã mắc lỗi ngữ pháp dẫn đến cách diễn đạt
không rành mạch, rõ ràng. Những phần mở bài như vậy không những không
gây được ấn tượng cho người đọc mà còn có tác động ngược trở lại. Đây quả
là một lỗi nguy hiểm mà học sinh cần hết sức chú ý để không mắc phải.
Như đã trình bày ở trên trong phạm vi đề tài này tôi chỉ hướng tới đối tượng
học sinh trung bình - yếu. Chính bởi vậy, tôi rất chú trọng đến hai dạng bài
tập này. Qua việc rèn luyện hai dạng bài tập trên, học sinh bước đầu có thể
viết nhanh và viết đúng phần mở bài nghị luận văn học. Trên cơ sở đó, tôi
tiếp tục đưa ra dạng bài tập 3 để rèn cho học sinh từ chỗ viết nhanh, đúng
đến viết hay hơn phần mở bài.
*Dạng 3: Bài tập rèn luyện viết đoạn mở bài gián tiếp
Cho đề bài: Cảm nghĩ về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn "Những
ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê.
Bài tập 1:Hãy viết đoạn mở bài cho đề bài trên theo hai cách trực tiếp và
Bản thân tôi cũng nhận thấy rằng dạng bài tập này là khó với đối tượng học
sinh trung bình - yếu. Nhưng với hy vọng là các em sẽ yêu thích môn Văn
hơn, sẽ khám phá thêm những điều hay và từ đó sẽ có cách học văn phù hợp
hơn nên tôi mạnh dạn đưa thêm dạng bài tập này. Qua các dạng bài tập trên,
học sinh không chỉ làm quen và biết thực hành hai kiểu mở bài trực tiếp và
gián tiếp mà còn nhận thấy sự khác nhau cơ bản của hai cách mở bài ấy
trong quá trình dẫn dắt vấn đề. Còn phần giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn
đề nghị luận là bắt buộc phải có trong phần mở bài của bài nghị luận văn
học. Từ đây, học sinh có định hướng rõ hơn, đúng hơn và tự tin hơn, đỡ mất
nhiều thời gian khi bắt tay vào viết một bài nghị luận văn học.
2.2- Một số phương pháp viết mở bài gián tiếp dành cho HS khá – giỏi:
a. Giới thiệu vài nét về tác giả: Chọn những nét đặc sắc, những sự kiện
có ý nghĩa quan trọng trong tiểu sử tác giả có ảnh hưởng lớn đến tác
phẩm để dẫn dắt vào đề
VD: Đề bài : Trong phần mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Dựa vào truyện Kiều, em hãy làm sáng tỏ ý thơ trên.
Mở bài: Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc. Cuộc đời nhà thơ đã từng
trải qua biết bao nhiêu năm tháng thăng trầm, đã từng chứng kiến biết bao
dâu bể của thời đại. Sự kiện có ý nghĩa nhất trong cuộc đời Nguyễn Du đó là
thời gian hơn mười năm lưu lạc ông sống trong cảnh đói nghèo cùng với
nhân dân khắp đất Bắc. Trái tim ông đã bao lần thổn thức, đau xót, xúc động
trước hiện thực đau thương. Vì vậy mà Nguyễn Du đã thốt lên ngay từ đầu
Truyện Kiều hai câu thơ thật chua xót:
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
b. Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ của tác phẩm hay đoạn trích:
Chọn đặc điểm nổi bật về sự ra đời của tác phẩm để dẫn dắt vào đề
VD: Đề bài: Phân tích đoạn trích sau đây trong bài “ Cáo Bình Ngô”
Trần Hưng Đạo ba lần đại phá quân Mông – Nguyên, Nguyễn Trãi và Lê
Lợi đã lãnh đạo nhân dân ta đánh đuỏi giặc Minh làm cho chúng phải kinh
hồn bạt vía. Gần đây, chín năm kháng chiến chống Pháp trường kì gian khổ
(1946 – 1954) và hai mươi năm chống Mĩ hào hùng đã làm vẻ vang truyến
thống yêu nước của dân tộc. Tự hào thay lịch sử chống xâm lăng của con
người Việt Nam! Đúng như lời nhận định của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân
ta vốn giàu lòng yêu nước nồng nàn. Đó là một truyền thống quý báu của
ta.”
(Vậy mở bài trên đã đi từ những sự việc cụ thể: chiến công của Lí Thường
Kiệt , Trần Hưng Đạo, Lê Lợi … dần dấn khái quát thành vấn đề: Truyền
thống yêu nước của dân tộc- là vấn đề được đề bài nêu ra qua lời nhận định
của Hồ Chí Minh)
e. Phương pháp giới thiệu chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm
VD: Đề bài: Phân tích bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên.
* Mở bài: Vũ Đình Liên là một trong những nhà thơ tiền chiến thuộc xu
hướng văn học lãng mạn giai đoạn 1932 – 1945. Thơ ông thường thiên về
thể hiện những nỗi niềm hoài cổ, nhớ tiếc những gì đẹp đẽ, vàng son đã qua
trong quá khứ: “Lòng ta là những thành quách cũ, tự ngàn năm vẳng tiếng
loa xưa”. Có bài lại chứa đựng những con người bất hạnh, những cảnh đời lẻ
loi, cô đơn. Có khi cả hai nguồn cảm hứng ấy: hoài cổ và nhân ái đã gặp
nhau trong một bài thơ nổi tiếng: bài thơ Ông đồ
g. Phương pháp tương đồng: Tức là nêu một ý tương đồng với ý trong bài
rồi chuyển dần sang vấn đề được nêu ra trong đề nghị luận.
VD: Đề bài : Vẻ đẹp của đất nước, con người trong bài thơ Mùa xuân
nho nhỏ của Thanh Hải.
* Mở bài: Lịch sử thơ ca dân tộc có biết bao nhiêu bài thơ ca ngợi vẻ đẹp
của đất nước và con người Việt Nam. Đất nước mến yêu và con người anh
hùng đã từng được thể hiện sinh động qua nhiều bài thơ nổi tiếng. Mỗi tác
phẩm phản ánh một vẻ đẹp riêng, vừa phong phú vừa đa dạng, vừa trữ tình,
thơ mộng vừa hùng vĩ, lớn lao. Cùng một nội dung như thế, bài thơ Mùa