sáng kiến kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn mở bài trong bài văn nghị luận cho học sinh trung học phổ thông - Pdf 33

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm
Văn nghị luận có vai trò hết sức quan trọng trong sống xã hội cũng như
trong nhà trường. Thông qua các bài làm văn nghị luận, học sinh có điều kiện
phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, các em có dịp thể hiện năng lực tư
duy, cảm thụ và năng lực lập luận của mình. Đây cũng là những yêu cầu rất cần
thiết để các em làm hành trang bước vào cuộc sống.
Văn nghị luận nói chung có vai trò hết sức quan trọng như vậy, song trong
thực tế nhà trường phổ thông hiện nay phần lớn kĩ năng làm văn nghị luận của
học sinh còn rất kém, các em ít hứng thú trong việc rèn kĩ năng viết văn nghị
luận, trong các bài viết mắc khá nhiều lỗi. Một trong những lỗi bắt gặp ngay khi
mở đầu bài viết đó là các em còn lúng túng không biết làm thế nào để vào bài
cho nhanh mà vẫn đảm bảo đúng, hay và hấp dẫn. Quan tâm đến cách viết bài
của học sinh từ đó tìm ra các biện pháp, phương pháp hữu hiệu nhất giúp các em
hoàn thành bài viết của mình với kết quả cao nhất có thể là một việc làm có ý
nghĩa thiết thực.Mục đích chính yếu là nhằm rèn luyện nâng cao kĩ năng viết bài
văn nghị luận cho học sinh và góp phần vào nhiệm vụ chung của quá trình đổi
mới phương pháp dạy học văn.
Macxim Gorki cho rằng: “ Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu
đầu, cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm và người ta
thường tìm nó rất lâu”. Làm việc gì cũng vậy, sự khởi đầu luôn khiến chúng ta
phải cân nhắc kĩ lưỡng trước khi bắt tay thực hiện công việc ấy đến kết quả cuối
cùng. Muốn có một bài văn nghị luận hay hoàn toàn không nằm ngoài quỹ đạo
của quá trình làm việc thông thường như đã nêu ở trên.
Sự khởi đầu của việc làm văn nghị luận là viết đoạn mở bài, còn được gọi
dưới cái tên như đặt vấn đề hay nêu vấn đề. Nhưng quả thực, việc khởi động này
cũng là việc khó khăn và gian nan nhất. Vì đoạn mở bài là căn cứ để đánh giá
bài làm có thu hút, sáng tạo và độc đáo hay không. Nằm ở vị trí đầu tiên trong
bố cục ba phần (mở bài, thân bài, kết bài) của một bài văn nói chung cũng như
1
1


2
2


Người viết mạnh dạn đưa ra một số phương pháp để rèn kĩ năng mở bài
cho học sinh mà từ trước đến nay phần lớn giáo viên ít quan tâm . Có chăng thì
giáo viên nói qua một cách nhanh chóng không quan tâm là học sinh hiểu và
nhận thức như thế nào .
Người viết chọn đề tài này trên cơ sở kế thừa và sáng tạo tất cả những
quan điểm đi trước nhằm nâng cao chất dạy và học cho giáo viên và học sinh.
Học sinh giảm bớt áp lực khi học và khi thực hành , giúp học sinh phát triển khả
năng sản sinh văn bản, nâng cao năng lực tư duy, năng lực khái quát tri thức
cũng như năng lực sử dụng ngôn ngữ ở mức chủ động sáng tạo. Chính vì vậy,
trên phương diện tìm hiểu lí thuyết của việc rèn kĩ năng viết đoạn mở bài cho
bài văn nghị luận, luận văn này cụ thể hóa tinh thần đổi mới phương pháp dạy
học trong nhà trường Trung học phổ thông để từ đó phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh trong hoạt động lĩnh hội tri thức về rèn luyện kĩ năng tạo lập
văn bản.

3
3


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lí luận:
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học văn bản là một bộ môn chuyên nghiên cứu đặc điểm của

Một trong những quan điểm dạy học hiện đại là dạy tiếng theo quan điểm
giao tiếp. Giao tiếp được thực hiện bằng văn bản. Như vậy có thể nói rằng văn
bản là đơn vị giao tiếp cơ bản nhất của ngôn ngữ. Mặt khác, làm văn là sáng tạo,
sản sinh các loại văn bản. Từ đây, chúng ta nói thêm rằng: Làm văn chính là
sáng tạo, sản sinh các loại văn bản để giao tiếp. Việc dạy Làm văn chính là dạy
cách tổ chức giao tiếp bằng văn bản. Chúng ta nhận thấy một điều là việc Làm
văn có quan hệ với một lí thuyết khác bên cạnh lí thuyết về văn bản: Lí thuyết
giao tiếp ngôn ngữ.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ không đơn thuần chỉ nhằm mục đích thông tin
mà chủ yếu là quá trình tác động tới người nhận về nhận thức, quan điểm, thẩm
mĩ và hành động. Không có một văn bản nào chỉ nhằm mục đích thông tin thuần
tuý (hay nói chính xác hơn là rất ít những văn bản chỉ nhằm mục đích thông tin)
mà qua thông tin để nhằm mục đích nhất định. Khi dạy Làm văn cũng vậy, giáo
viên cần dạy cho học sinh thấy rằng viết bài bên cạnh việc đưa thông tin còn
phải chú ý lựa chọn thông tin đó để làm gì, nhằm đạt mục đích gì…Và nhằm
đưa người đọc vào vấn đề cần bàn là việc người viết phải chú ý lựa chọn nội
dung khi làm phần mở bài.
Một khâu quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc dạy tiếng theo quan
điểm giao tiếp là phải dạy học sinh lí thuyết cơ sở về đoạn văn (vì văn bản là
một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều đơn vị liên kết với nhau tạo nên văn bản
hoàn chỉnh là đoạn văn). Từ đó, hướng dẫn các em phương pháp để thực hành
rèn luyện kĩ năng viết bài. Nói cách khác, dạy tiếng Việt và Làm văn là cung cấp
cho các em công cụ giao tiếp và rèn luyện kĩ năng giao tiếp.
5
5


Trong sáng kiến này, người viết chú trọng nguyên tắc hướng vào hoạt
động giao tiếp. Do vậy, đề xuất đề tài: “Rèn kĩ năng viết đoạn mở bài trong bài
văn nghị luận cho học sinh Trung học phổ thông” tức là người viết muốn

Những vấn đề lí thuyết và thực hành kiểu bài văn nghị luận trong Sách
giáo khoa Ngữ văn và một số sách tham khảo vừa là những gợi ý vừa là những
định hướng cho việc đề xuất các kĩ năng cũng như cách xây dựng hệ thống bài
tập rèn luyện cho học sinh.
Kết quả khảo sát phần Làm văn về văn nghị luận trong chương trình Sách
giáo khoa Ngữ văn nâng cao Trung học phổ thông chúng ta tổng kết được như
sau: Lớp 10 có 5 tiết, lớp 11 có 9 tiết và lớp 12 có 12 tiết ,vừa học lí thuyết vừa
thực hành. Trên cơ sở những tiết dạy lí thuyết đã chú trọng nhiều hơn đến các
tiết luyện tập và thực hành nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và viết bài
thuần thục, đạt hiệu quả cao.
Nhìn vào chương trình biên soạn bộ Sách giáo khoa Ngữ văn dành cho
lớp 10, 11, 12 như trên có thể nhận định một cách khái quát rằng văn nghị luận
ngày càng được “thay da đổi thịt”. Trong đó, chú trọng hơn vào quá trình luyện
tập, thực hành bên cạnh việc giảng dạy lí thuyết cho học sinh một cách logic và
ngắn gọn, dễ hiểu nhất.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Tình hình dạy học môn Làm văn ở các trường Trung học phổ thông:
Môn văn trong nhà trường tựu chung lại nhằm vào hai nhiệm vụ cụ thể
sau đây: Thứ nhất, trang bị cho học sinh những tri thức để hiểu được, hiểu đúng
các vấn đề văn học (bao gồm: Tác phẩm, tác giả, các giai đoạn văn học…). Có
nghĩa là góp phần tạo cho học sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn
học trong việc tiếp nhận, cũng như năng lực biết đánh giá một cách đúng đắn,
khoa học các hiện tượng văn học đồng thời bước đầu nhận thức được quy luật
vận động của văn học trong lịch sử. Thứ hai, song song với nhiệm vụ trên là quá

7
7


8
8


2.1. Về phía người dạy(giáo viên)
Trên thực tế, qua khảo sát chất lượng dạy học môn Làm văn nói chung
chúng tôi thấy kết quả thu được chưa cao, giáo viên thường có tâm lí “ngại
ngùng nhất là dạy Làm văn”. Thậm chí có người còn gọi đây là môn học “Ba
K” : “Khó, khô, khổ”. Còn học sinh thường tỏ ra không có hứng thú khi học
Làm văn, nhất là phần văn nghị luận xã hội, các em thường có chung tâm lí
“biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.Nếu như tình hình dạy học môn Làm văn nói chung
còn nhiều vấn đề cần trăn trở thì phần mở bài trong bài văn nghị luận nói riêng
còn rơi vào tình trạng thảm hại hơn rất nhiều. Phần này thường bị xem nhẹ và
không dành thời gian ôn tập hay rèn luyện. Chính vì vậy đã dẫn tới tình trạng có
rất nhiều bài văn mở đầu khô khan, lạc đề hoặc không tạo hứng thú cho người
đọc…
Nguyên nhân khách quan : Thứ nhất, những tài liệu nghiên cứu về phần
mở bài còn hiếm hoi, chưa có sự lưu tâm thoả đáng. Điều đó khiến cho quá trình
soạn giảng của giáo viên đối với phần này còn chưa sâu, sát; thứ hai, thời gian
phân bố giảng dạy của bộ môn Văn nói chung, làm văn nói riêng còn nhiều hạn
chế. Với các kiểu bài chỉ có một hoặc hai tiết giới thiệu khái quát và sơ lược
nghĩa là bao gồm cả phương pháp, kĩ năng được trình bày lồng vào lí thuyết kiểu
loại. Còn lại đa phần thời gian môn làm văn là dành cho các em học sinh viết
bài; giờ lập dàn ý, tìm hiểu đề thường không có, giờ trả bài thường không đủ
thời gian. Rõ ràng, giáo viên thấy học sinh chưa đáp ứng đủ từng yêu cầu với
mỗi phần trong bài hay toàn bài có cố gắng lắm cũng chỉ đi được những phần
trọng tâm (thân bài). Giáo viên khi hướng dẫn học sinh viết phần mở bài thường
chỉ giới thiệu rất sơ lược các nội dung phải trình bày. Đôi khi hướng dẫn học
sinh viết phần này, không ít giáo viên tỏ ra lúng túng khi phải chỉ ra những bước
cụ thể để viết được mở bài một cách thành thục. Cũng có những giáo viên tâm

cũng như học bộ môn Làm văn cho xứng đáng với vị trí vốn có của nó. Khi đó
cũng cần có phương pháp phù hợp để dạy học sinh viết đoạn mở bài đạt yêu cầu
và hay.
3. Về văn nghị luận:
Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những
ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ
1
10
0


một vấn đề thuộc về chân lí nhằm làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin,
đồng tình với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề
xuất.
3.1. Đặc trưng của văn nghị luận
Văn nghị luận phân biệt với văn sáng tác trên nhiều phương diện.Văn
nghị luận xây dựng trên cơ sở của tư duy logic, chứ không phải trên cơ sở của tư
duy hình tượng mang tính cụ thể – cảm tính như trong loại văn sáng tác. Nếu
trong văn sáng tác, những cảm xúc của tác giả và sự mô tả những bức tranh của
đời sống chiếm vai trò quan trọng nhất, thì chúng ta bắt gặp trong văn nghị luận
những vấn đề, những luận cứ, những lí lẽ, những khái niệm…là điều quan trọng
trước nhất. Văn nghị luận không làm nhiệm vụ mô tả đời sống (xã hội hay nội
tâm con người) mà nhằm nhận biết và phân tích đời sống bằng tư duy logic, nên
nó phải tuân thủ những quy tắc chặt chẽ của tư duy logic. Tuy thế, không nên
hiểu rằng văn nghị luận chỉ toàn là khô khan, trừu tượng, từ chối mọi cảm xúc
và hình ảnh ở đây là nằm trong hệ thống của tư duy logic, tuân thủ trật tự của tư
duy logic, chứ không phải là sự xây dựng hoàn chỉnh bức tranh về đời sống xã
hội.
Kết cấu của bài văn nghị luận là tuân theo trình tự của sự nhận thức và
khai triển một vấn đề trong tư duy logic, chứ không phải dựa theo mạch cảm xúc

được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ, mọi hoạt
động của con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội như chính trị, kinh tế,
giáo dục, đạo đức, môi trường, dân số…
Ví dụ:
Đề bài: Suy nghĩ của anh (chị) về tác hại của rượu, ma tuý, thuốc lá đối
với con người.
Đây là loại đề nghị luận về một hiện tượng đời sống. Trọng tâm của đề
bài là khẳng định tác hại của rượu, ma tuý, thuốc lá đối với con người và đề xuất
biện pháp bài trừ các chất gây nghiện.
Nghị luận văn học: Là nghị luận về một vấn đề văn học như về một tác
phẩm, một tác giả, một trào lưu, một giai đoạn, một quan điểm văn học…
Ví dụ:

1
12
2


Đề bài: Phân tích hình ảnh Thúy Kiều qua đoạn thơ “Chị em Thúy Kiều”.
Qua đó nêu lên nhận xét của em về nghệ thuật tả người của thi hào Nguyễn Du
qua Truyện Kiều.
*Căn cứ vào cách thức nghị luận thì văn nghị luận được chia thành các
kiểu bài sau:
Kiểu bài chứng minh: Là kiểu bài trong đó người viết (người nói) dùng
dẫn chứng và lí lẽ để nêu bật sự đúng đắn của vấn đề được đưa ra nghị luận.
Chứng minh là làm cho người ta thấy đúng mà tin theo.
Ví dụ:
Đề bài: Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 6 có đoạn viết: “Không có một
hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học nghệ thuật trong việc xây
dựng những tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc đến nếp nghĩ, nếp sống của

công việc cụ thể là giảng và bình. Trong đó, giảng là giảng giải những chi tiết,
những khía cạnh…để người đọc (người nghe) hiểu đúng, rõ tác phẩm;bình là
bình phẩm, đánh giá (khen, chê) cái hay, cái đẹp (cũng như cái chưa hay, chưa
đẹp) về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Ví dụ:
Đề bài: “Bến đò xuân đầu trại” là một bài thơ xuân tuyệt bút của Ức Trai.
Em hãy bình giảng bài thơ và nói lên cảm nghĩ của em.
Kiểu bài tổng hợp: Là kiểu bài nghị luận trong đó người viết (người nói)
phải kết hợp nhiều thao tác nghị luận, ít nhất là hai thao tác như giải thích +
chứng minh, giải thích + bình luận, phân tích + chứng minh…hoặc kết hợp cả
hai loại nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
Ví dụ:
Đề bài: Nói đến tính độc đáo của phong cách trong sáng tác văn học, có ý
kiến cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh vực của độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người
sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ, thể
hiện trong các tác phẩm của mình”. Em hãy chọn hai trong bốn phong cách của
các tác giả sau: Chế Lan Viên, Tố Hữu, Nam Cao, Nguyễn Tuân phân tích làm
sáng tỏ ý kiến trên.
Văn nghị luận bao giờ cũng hướng tới mục đích làm sáng tỏ một vấn đề
nào đó nhằm thuyết phục người đọc, người nghe. Để đạt được mục đích đó,

1
14
4


người viết phải vận dụng nhiều thao tác tư duy, nhiều lí lẽ và thao tác nghị luận
trong quá trình làm bài.
Bộ sách giáo khoa Ngữ Văn cơ bản Trung học phổ thông mà người viết
khảo sát cho thấy đã có sự chú trọng trở lại hơn với loại văn nghị luận xã hội, giữa

Đoạn mở bài trong văn nghị luận có đặc trưng đó là thống nhất với toàn
bài về nội dung và hình thức. Mặt khác, đoạn mở bài lại có tính hoàn chỉnh và
độc lập tương đối với các phần khác trong bài, cho phép nó tồn tại như một đoạn
văn riêng, như một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống văn bản.
Đoạn mở bài có một số đặc trưng cơ bản như sau:
4.1.1. Nội dung
Về nội dung, đoạn mở bài phải tạo được tình huống có vấn đề tức là phải
đề xuất được vấn đề mà đề bài yêu cầu giải quyết. Phần mở bài nêu ra luận đề
cho toàn bài, như vậy, vấn đề đặt ra trong phần này ở dạng tổng quát, khái quát
cần triển khai, giải quyết. Do đó, người viết cần nắm vững yêu cầu của đề, từ đó,
khái quát thành luận đề lớn cần giải quyết ở thân bài. Trong phần mở bài của
văn nghị luận, người viết không nên bộc lộ ngay thái độ, quan điểm của mình về
vấn đề nghị luận mà chỉ nêu vấn đề cần giải quyết, điều đó góp phần làm cho bài
viết có sức hấp dẫn người đọc hơn.
Đoạn mở bài gồm những nội dung:
+ Dẫn dắt vấn đề: Nêu một vài vấn đề liên quan đến vấn đề cần bàn,
chuẩn bị tư tưởng dẫn người đọc vào vấn đề.
+ Nêu vấn đề: Nêu vấn đề một cách ngắn gọn, nêu đúng vấn đề đặt ra
trong đề bài và phải nêu một cách khái quát.
+ Nêu nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa của vấn đề đối với
trước đó và đương thời (phần này không nhất thiết phải có, tuỳ thuộc vào từng
vấn đề cụ thể).
4.1.2. Hình thức
Về hình thức, đoạn mở bài luôn có sự tương ứng với đoạn kết bài về độ
dài. Trong trường hợp vấn đề quá phức tạp không thể nêu vấn đề trong một đoạn
văn thì có thể viết thành hai đoạn văn, khi đó, độ dài của đoạn mở bài được nới
rộng hơn.
Đoạn mở bài có những đặc điểm về hình thức như sau:

1

tự nhiên nhất.
Vậy muốn nêu được vấn đề trước hết phải xác định được vấn đề. Muốn xác
định được vấn đề thì phải tìm hiểu đề bài. Thông thường đề bài có hai dạng:
1
17
7


Dạng nổi (Lộ thiên): Là dạng đề mà các yêu cầu về nội dung, hình thức,
cách thức, phương hướng, phạm vi, mức độ nghị luận được nêu ra trực tiếp và rõ
ràng trong đề bài. Ở đề bài này vấn đề cần bàn luận trong phần nội dung không
cần phải đi tìm.
Ví dụ 1:
Đề bài: Vai trò của sách đối với đời sống nhân loại.
Vấn đề trọng tâm đã được nói rõ ở đề bài đó là khẳng định vai trò quan
trọng không thể thiếu của sách đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại.
Dạng chìm: Là dạng đề trong đó người ra đề không cho dữ kiện rõ, đầy
đủ (các yêu cầu về nội dung cũng như cách thức, phạm vi…nghị luận) như dạng
nổi. Để tìm ra được vấn đề của đề bài này người viết phải phân tích, tổng hợp,
khái quát nội dung vấn đề từ chính nội dung của đoạn văn, đoạn thơ, hoặc tác
phẩm, câu trích…
Ví dụ:
Đề bài: Trẻ em lang thang cơ nhỡ với cộng đồng xã hội.
Đề bài đưa ra một vấn đề “nóng” hiện nay của xã hội nhưng để làm được
buộc chúng ta phải đi vào phân tích sự suy thoái mái ấm gia đình nên đã dẫn đến
hiện tượng trẻ em lang thang cơ nhỡ đáng báo động; kêu gọi cộng đồng quan
tâm góp sức để tạo dựng cho các em những “ngôi nhà tình thương” thực sự.
4.2.2. Chức năng nêu hướng giải quyết vấn đề
Nêu hướng giải quyết vấn đề là nêu lên cách thức mà người viết sẽ giải
quyết vấn đề đó: So sánh đối chiếu hay phân tích, bình giảng sâu vào một vấn đề

thấy mình không bị lạc lõng, bất lực? Không còn cách gì khác, chúng ta phải
luôn có ý thức trau dồi tri thức bằng phương pháp này hay phương pháp khác.
Nhưng để có thể lĩnh hội kiến thức một cách có hiệu quả, toàn diện và sâu sắc
thì cũng đồng nghĩa với việc mỗi người phải tự lựa chọn cho mình một cách tiếp
cận phù hợp. Tự học luôn là phương án tối ưu trên con đường chinh phục nữ
hoàng trí tuệ”.
Ý nghĩa của vấn đề này là nói lên tính tích cực, chủ động và đạt hiệu quả
cao của phương pháp tự học hỏi, nghiên cứu.
4.3. Yêu cầu của đoạn mở bài
Về cơ bản, đoạn mở bài đạt yêu cầu là một đoạn mở bài đúng. Nghĩa là,
đoạn mở bài đó đảm bảo đầy đủ nội dung và đảm nhận chức năng của phần mở
1
19
9


bài. Mở bài đạt yêu cầu khi nó giới thiệu được vấn đề đến người đọc (vấn đề sắp
được trình bày ở phần thân bài).
Ở đây, chúng tôi quan niệm rằng: Mở bài là một đoạn văn hoàn chỉnh
(đoạn mở bài). Đoạn văn ấy cũng có ba phần: Mở đầu đoạn, phần giữa đoạn và
phần kết đoạn.
+ Mở đầu đoạn: Nêu những câu dẫn dắt (có thể là những lời văn của
mình, có thể là một câu thơ, đoạn văn của một tác giả, có thể là một câu chuyện
nhỏ, một câu nói nổi tiếng của một nhân vật, một chính khách…Tuy nhiên, nội
dung câu dẫn thường phải gần gũi và có liên quan đến vấn đề chính mà bài văn
sẽ đề cập đến.
+ Phần giữa đoạn: Nêu vấn đề chính của bài viết (có thể đã nêu rõ trong
đề, có thể người viết phải tự rút ra, tự khái quát và nêu lên). Đối với loại đề yêu
cầu phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật thì phần này thường nêu ấn tượng
chủ đạo, bao trùm lên toàn bộ tác phẩm mà người viết cảm nhận được.

nhân vật chính của tác phẩm “Chữ người tử tù”. [42, 62]
Đoạn mở bài trên người viết đảm bảo đầy đủ nội dung của một đoạn mở
bài.
- Phần dẫn dắt vấn đề: Nêu lên hình tượng những người anh hùng rơi vào
tay giặc mà vẫn hiên ngang.
- Phần nêu vấn đề: Hình tượng nhân vật Huấn Cao mang khí phách hiên
ngang và tài hoa.
- Giới hạn vấn đề: Tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.
Khi đã đạt yêu cầu là mở bài đúng chúng tôi còn muốn bàn đến một mở
bài hay. Một mở bài hay là một mở bài đưa ra vấn đề bất ngờ, khiến cho người
ta có hứng thú tham gia vào việc giải quyết vấn đề đó.
Muốn mở bài cho hay và thành thạo cần luyện tập bằng cách cùng một đề
văn nhưng suy nghĩ và viết nhiều mở bài khác nhau. Các mở bài khác nhau chủ
yếu ở phần dẫn dắt tạo nên. Như vậy, người viết khi xác định được ba phần của
đoạn mở bài, giữ lại hai phần sau (phần nêu vấn đề và phần giới hạn) và khéo
léo thay đổi phần dẫn dắt vấn đề thì sẽ có mở bài hay.
Một mở bài hay cần tránh:
1) Tránh dẫn dắt vòng vo quá xa mãi gắn được vào việc nêu vấn đề.
2) Tránh ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề sẽ nêu.
2
21
1


3) Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, có gì nói hết luôn rồi thân bài
lại lặp lại những điều đã nói ở mở bài.
Một mở bài hay cần phải:
1) Ngắn gọn: Dẫn dắt thường vài ba câu, nêu vấn đề một vài câu và giới
hạn vấn đề một câu.
2) Đầy đủ: Đọc xong mở bài, người biết được bài viết bàn về vấn đề gì?

- Vấn đề nghị luận: Cảm hứng nhân đạo.
- Cách thức nghị luận: Phân tích.
- Phạm vi tư liệu: Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và “Hai đứa
trẻ” của Thạch Lam.
Như vậy, đặt vấn đề trực tiếp dễ làm nhưng lại không hấp dẫn, lôi cuốn
được người đọc. Vì mở bài trực tiếp thường không có phần dẫn dắt mà chỉ có
hai phần cơ bản tạo nên đoạn mở bài là phần nêu vấn đề và giới hạn vấn đề.
Phần lớn các bài văn viết theo kiểu mở bài gián tiếp.
5.2. Mở bài gián tiếp
Mở bài gián tiếp là dẫn dắt vào đề bằng cách nêu các ý có liên quan đến
vấn đề cần nghị luận để kích thích trí tò mò, gợi sự chú ý của người đọc rồi từ
đó mới nêu lên vấn đề chính. Khi sử dụng cách mở bài gián tiếp, người viết cần
lựa chọn điểm xuất phát sao cho: Từ đó có thể dẫn đến đề tài; có khả năng tạo ra
cảm giác gần gũi, quen thuộc với người đọc (người nghe) có sự gợi nghĩ (gợi
cảm). Một số kiểu mở bài gián tiếp thường gặp:
5.2.1. Mở bài theo kiểu diễn dịch
Mở bài theo kiểu diễn dịch tức là nêu những ý khái quát hơn vấn đề đặt ra
trong đề bài rồi mới bắt vào vấn đề ấy.
5.2.2. Mở bài theo kiểu quy nạp
Mở bài theo kiểu quy nạp tức là nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra
trong đề bài rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghị luận.
5.2.3. Mở bài theo kiểu tương liên (tương đồng)
Mở bài theo kiểu tương liên là mở bài bằng cách bắt đầu nêu lên một ý
tương tự hoặc có liên quan với ý của luận đề, có tác dụng gợi ra sự liên tưởng rồi
chuyển sang luận đề.
5.2.4. Mở bài theo kiểu tương phản, đối lập
2
23
3


24
4


văn. Học sinh cần nắm vững lí thuyết nếu không sẽ đi đến chỗ mất phương
hướng làm bài, không xác định được kiểu bài. Từ đó, các em sẽ viết nên những
bài văn nặng về kinh nghiệm, bài nào cũng giống bài nào, chung chung, tẻ nhạt,
thiếu hẳn sự sáng tạo cá nhân. Những lí do trên đưa đến một kết luận cuối cùng
đó là không được coi nhẹ lí thuyết trong khi dạy Làm văn.
Có thể cung cấp lí thuyết Làm văn cho học sinh theo những phương pháp
sau đây:
1.1. Phương pháp thông báo – giải thích
Phương pháp này được hiểu là quá trình điều khiển học sinh hoạt động để
phát hiện lại những tri thức đã được các nhà Việt ngữ khẳng định mà không phải
bản thân các em phải phát hiện ra điều gì mới mẻ. Đây chính là một cách thức
tiếp thu tri thức của con người. Hiện nay, có một số ý kiến cho rằng phương
pháp này không phát huy được vai trò trung tâm, chủ động và sáng tạo của học
sinh. Nhưng trên thực tế, phương pháp truyền thống đó vẫn còn có hiệu quả. Áp
dụng giảng dạy theo phương pháp thông báo – giải thích, người thầy giáo có
điều kiện cung cấp cho học sinh những mẫu lời nói thông qua lời thuyết minh,
giải thích của mình. Từ đó, học sinh tự chủ động vận dụng lí thuyết đã được trau
dồi vào việc thực hành.
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để hình thành các khái niệm liên
quan đến đặc trưng, chức năng của đoạn mở bài.
Phương pháp này sẽ giúp các em đến thẳng những lí thuyết cần nắm, tiết
kiệm thời gian. Nhưng chúng ta không nên quá lạm dụng phương pháp đó vì nó
dễ dẫn đến sự thụ động của học sinh, biến giờ dạy học thành giờ diễn thuyết,
độc thoại của người thầy giáo. Phương pháp thông báo – giải thích phù hợp để
dạy các đơn vị kiến thức phụ, kiến thức triển khai cho kiến thức cơ bản, giới
thiệu chủ điểm của bài học, giao và giải thích nhiệm vụ (bài tập về nhà). Muốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status