PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO PHÙ CỪ
TRƯỜNG TI Ó U HỌC MINH TÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN TẢ CẢNH CHO HỌC SINH LỚP 5”
Trường Tiểu học Minh Tân
Phân môn: Tập làm văn
Tác giả: Hoàng Thị Thúy Vinh
Chức vụ : Giáo viên
Tổ : 4; 5
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Minh Tân
Năm học: 2013 - 2014
1
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO PHÙ CỪ
TRƯỜNG TI Ó U HỌC MINH TÂN
Sáng kiến kinh nghiệm:
RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN TẢ CẢNH CHO HỌC SINH LỚP 5
Trường Tiểu học Minh Tân
Phân môn: Tập làm văn
Tác giả: Hoàng Thị Thúy Vinh
Chức vụ: Giáo viên
TỔ: 4; 5
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Minh Tân
Năm học: 2013 – 2014
2
MỤC LỤC
STT Nội dung chính Trang
8
VI. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
9
9
VII . Thời gian hoàn thành
9
10
B. NỘI DUNG
Chương I Những vấn đề chung
I. Cơ sở lí luận liên quan đến dạy học văn tả cảnh
II. Tình hình thực tế dạy và học
III. Những vấn đề cần giải quyết.
9
9
10
13
11
Chương II Phương pháp tiến hành
1. Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói
chung và tả cảnh nói riêng.
Bước 1: Tìm hiểu đề
Bước 2: Bước quan sát và tìm ý
Bước 3. Sắp xếp ý và lập dàn ý
Bước 4: Tạo bài văn
Bước 5: Kiểm tra lại toàn bộ bài văn
13
13
14
15
18
hiểu biết về cảnh.
39
13
Chương IV: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
41
14
Chương V . KẾT LUẬN CHUNG
I. Bài học kinh nghiệm
42
II. Những vấn đề còn bỏ ngỏ; điều kiện thực hiện đề tài,
hướng tiếp tục nghiên cứu và kiến nghị
2.1. Những vấn đề còn bỏ ngỏ
2.2. Điều kiện thực hiện đề tài
43
43
43
15
III, Những vấn đề còn hạn chế.
IV. Hướng tiếp tục nghiên cứu
45
45
16
Kết luận chung 46
17
Tài liệu tham khảo 48
4
LỜI CẢM ƠN
Sáng kiến kinh nghiệm‘‘ Rèn kĩ năng viết văn tả cảnh cho học sinh
lớp 5” mà tôi nghiên cứu đến nay đã hoàn thành. Có được kết quả này, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Phù Cừ đã tạo điều kiện
kể chuyện, tập viết, chính tả, tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người dạy cũng
như đối với người học là phân môn Tập làm văn.
Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học tiểu
học, nó không chỉ giúp học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết mà
còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệt
còn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiện đại
và năng động. Dạy tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung
quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em. Đồng thời cũng
dạycác em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy qua các văn bản- còn gọi là đoạn văn, bài
văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ pháp Tiếng việt.
Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính của
chương trình tập làm văn 5 là văn miêu tả. Tả cảnh là một kiểu bài khó vì học sinh
không có khả năng quan sát tinh tế, mặt khác có những cảnh học sinh chỉ có thể
gặp một lần khi đi du lịch hay xem trên truyền hình, không cảm nhận được vẻ đẹp
của cảnh hay những thay đổi của cảnh, không biết dựa vào cảm xúc của mình để
làm cảnh đó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn.
Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rất
khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác
giáo dục.
2. Cơ sở thực tiễn:
6
Là một giáo viên đã trải qua nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 4, 5 tôi
nhận thấy thể loại văn tả cảnh trong phân môn Tập làm văn ở lớp 5 là thể loại văn
dùng lời nói có hình ảnh và cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung
một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời
sống. Một bài văn miêu tả hay không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh
động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá
của người viết đối với đối tượng được miêu tả. Thực tế giảng dạy tập làm văn phần
tả cảnh, bản thân người giáo viên là người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy lúng
túng, bí từ và không biết phải hướng dẫn thế nào để học sinh có thể viết được bài
- Có tiền đề tốt để học viết văn miêu tả ở các lớp sau…
2. Giúp giáo viên:
- Nhìn nhận lại sâu sắc hơn việc dạy văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 để vận dụng
phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt.
- Tự tìm tòi, nâng cao tay nghề, đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy TLV nói
chung và trong dạy học sinh viết văn tả cảnh nói riêng.
- Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học.
III, KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
1. Khách thể nghiên cứu: - Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Minh Tân.
2. Đối tượng nghiên cứu: - Thể loại văn tả cảnh lớp 5, một số kinh nghiệm rèn
viết văn tả cảnh.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Tìm hiểu mục tiêu, nội dung dạy- học văn tả cảnh lớp 5.
2. Thực trạng dạy- học văn tả cảnh ở lớp 5.
3. Một số biện pháp dạy- học văn tả cảnh lớp 5.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Đọc tài liệu liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung chương trình TLV 5, mạch kiến thức Dạy viết văn tả
cảnh.
2. Phương pháp quan sát sư phạm:
- Điều tra thực trạng qua từng giai đoạn trong suốt năm học, trao đổi với giáo viên
và học sinh, tìm hiểu thực tế việc dạy- học phân môn TLV trong trường Tiểu học.
8
- So sánh đối chứng trong cùng một giai đoạn giữa lớp này với lớp kia, giữa các
giai đoạn với nhau trong cùng một lớp, đối chứng cả với những năm học trước.
- Quan sát tinh thần, thái độ, ý thức học TLV của học sinh lớp dạy thực nghiệm và
học sinh lớp khác trong khi đi dự giờ, quan sát phương pháp sư phạm của giáo
viên giảng dạy, quan sát chất lượng bài viết của học sinh ở từng dạng miêu tả khác
nhau để tìm hiểu những tác nhân trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng viết văn miêu
nhau.
Đối tượng của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc xung quanh ta như
dòng sông, cánh đồng, hàng cây Khi viết bài văn tả cảnh cần đặc biệt tập trung
vào những nét tiêu biểu của cảnh vật đó. Để bài văn được sinh động và hấp dẫn
hơn với người đọc ta có thể lồng vào đó việc tả người, tả vật với những cung bậc
cảm xúc khác nhau.
Ngôn ngữ trong văn miêu tả cần chính xác, cụ thể, giàu hình ảnh và có nét riêng
biệt. Chính vì thể để có bài văn hay đòi hỏi người viết phải có hiểu biết về phương
pháp làm văn, phải biết dùng từ ngữ, biết vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ
thuật tu từ được học.
II. TÌNH HÌNH THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC.
1. Sách giáo khoa.
Hiện nay theo phân phối chương trình trong sách giáo khoa có 19 tiết tả cảnh,
trong đó có 13 tiết lý thuyết kết hợp thực hành, còn lại là kiểm tra và trả bài.
Nội dung tả cảnh tập trung vào các cảnh: Một buổi trong ngày, một hiện tượng
thiên nhiên, trường học, cảnh sông nước. Với các nội dung trên, yêu cầu viết lại
chủ yếu là đoạn văn. Do đó, với mỗi cảnh học sinh ít được viết hoàn thiện một bài
văn hoàn chỉnh ngay trên lớp để thầy cô và bạn bè trực tiếp góp ý.
2. Người học (về phía học sinh)
10
- Học sinh chưa biết bộc lộ cảm xúc và sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi tả
cảnh khiến bài viết thiếu hình ảnh, khô khan,… Học sinh chưa có hứng thú viết
văn đặc biệt là văn miêu tả.
- Học sinh không có thói quen sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi viết
văn
- Khi làm văn, học sinh miêu tả hời hợt, chung chung, vốn từ còn nghèo nàn, bài
văn trở thành một bảng liệt kê các đối tượng miêu tả, không làm nổi bật được cảnh
đang tả.
- Bài văn học sinh làm thường vay mượn ý tình của người khác, các em thường sao
chép những bài văn mẫu thành bài văn của mình không kể đầu bài quy định như
sáng tạo trong làm bài.
- Ra đề bài chưa thích hợp với học sinh theo từng vùng miền, địa phương. Khiến
học sinh vô cùng lúng túng khi miêu tả.
Ví dụ: Đề bài yêu cầu tả cảnh biển lúc bình minh, thực tế học sinh chưa được nhìn
thấy hay được quan sát biển bao giờ.
- Giáo viên không thực hiện đúng các yêu cầu khi trả bài viết của học sinh, không
giúp các em nhận thấy được những lỗi sai của mình khi làm bài để có sự chỉnh
sửa rút kinh nghiệm cho bài làm sau. Đây không phải là vấn đề có thể giải
quyết được trong một tiết, một tuần, … mà là cả một quá trình dạy Tập làm văn
bởi dạng văn tả cảnh là sự kết hợp của nhiều thể loại văn các em đã học và còn
cần có cách nhìn, cách nghĩ, cách sáng tạo mới.
- Chính vì một số nguyên nhân trên tôi đã khảo sát chất lượng làm văn của học
sinh hai lớp 5. lớp 5A (đối chứng) và lớp 5B (thực nghiệm) để làm cơ sở kiểm
chứng thực nghiệm sau này.
- Đề bài : Em hãy tả mét c¶nh thiªn nhiªn ®Ñp ë ®Þa ph¬ng.
- Kết quả thu được như sau :
Lớp
Tổng
số HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
5A 29 2 6,8 7 24,3 15 51,7 5 17,2
5B 28 2 7 6 20,7 15 52,6 6 20,7
12
Từ kết quả trên tôi thấy chất lượng học sinh hai lớp là tương đương bởi tỉ lệ
học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu luôn ngang nhau, tôi quyết định lựa chọn một
số giải pháp để ứng dụng, thực nghiệm mong muốn có kết quả tốt để cải tiến cách
dạy, cách học cho cá nhân và học sinh và có thể là giải pháp cho đồng nghiệp.
III. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT.
tách rời như: Lúa, ngô, rau màu, thửa ruộng, bờ mương, đàn trâu, con người lao
động,
+ Mục đích hóa sự vật (tả với mục đích gì ?)
Ví dụ : Tả cánh đồng với mục đích đó là tả lại một cảnh đẹp rất đáng tự hào của
người dân quê hương, ích lợi mà cánh đồng mang lại….
+ Cảm xúc hóa sự vật (tả với tư tưởng, tình cảm, thái độ ra sao?)
Ví dụ : Tả cánh đồng với niềm tự hào, với sự ngưỡng mộ về một vẻ đẹp nên thơ
- Cung cấp cho học sinh các bước làm văn miêu tả.
+ Bước 1: Tìm hiểu đề
+ Bước 2: Quan sát tìm ý
+ Bước 3: Sắp xếp ý (lập dàn ý)
+ Bước 4: Viết bài hoàn chỉnh
+ Bước 5: Kiểm tra lại bài.
Hiện nay Sách giáo khoa không còn những tiết riêng cho Tìm hiểu đề, quan sát
tìm ý nhưng qua mỗi đề văn giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm theo các bước
kể trên.
Để rèn cho học sinh thói quen làm tuần tự theo các bước kể trên khi làm văn thì
mỗi bước làm giáo viên cũng phải hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ về phương
pháp cũng như cách suy nghĩ, cách thực hiện bài làm.
Cụ thể:
* Bước 1 : Tìm hiểu đề
- Tác dụng: Giúp học sinh xác định được yêu cầu đề bài, tránh làm lạc đề. Nói cách
khác tìm hiểu đề để định hướng học sinh nắm được mình đang làm bài văn thuộc
thể loại gì, tả cái gì, đối tượng đó có những yêu cầu, giới hạn đến đâu
- Cách thực hiện:Hướng dẫn học sinh làm những công việc sau:
14
+ Đọc kĩ đề.
+ Phân tích đề.
Phân tích đề bằng cách:
- Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn.
thấy được bản chất của sự việc. Vì vậy quan sát phải có lựa chọn. Nếu yêu cầu các
chi tiết cụ thể nhưng đó không phải là những chi tiết rời rạc, tản mạn, mang tính
15
chất liệt kê. Chi tiết không cần nhiều mà phải chọn lọc, lựa chọn những điểm riêng
biệt, nổi bật, gây ấn tượng,… Đó là những chi tiết lột tả được cái thần của cảnh.
Khi quan sát, cần sử dụng đồng thời nhiều giác quan và điều quan trọng là phải
quan sát bằng tấm lòng. Mục đích quan sát sẽ quy định đối tượng và phương pháp
quan sát. Để tả cảnh, cần xác định vị trí quan sát. thời điểm quan sát, trình tự và
nội dung quan sát. Quan sát phải luôn gắn với việc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả.
Để giúp quan sát và tìm ý, với mỗi đề bài cần có một hệ thống câu hỏi gợi ý nội
dung quan sát và các ý cần xác lập.
Nếu học sinh không thực hiện tốt bước quan sát và tìm ý thì học sinh sẽ không
có chất liệu để làm văn từ đó học sinh sẽ không có hứng thú làm bài hoặc sao chép
bài văn từ những bài văn mẫu. Tuy nhiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách
ghi chép tỉ mỉ những điều mình quan sát tạo thành một cuốn cẩm nang để khi miêu
tả học sinh có sẵn tư liệu để làm bài.
Thông thường với đề bài nào tôi cũng yêu cầu các em ghi kết quả quan sát theo
các ý.
(Chọn chi tiết nổi bật, nét riêng độc đáo, …có thể bỏ trống ô nếu không phù hợp).
• Quan sát theo không gian (Vị trí)
Xa, gần, trên, dưới, trong, ngoài, trái, phải, phía trước, phía sau, …
• Hoặc quan sát theo thời gian (Thời điểm)
Sáng, trưa, chiều, tối, các mùa trong năm, thời tiết, ….
Lưu ý: Đây là bước tìm ý ban đầu, cái sườn chung nhưng không phải bài nào cũng
theo đủ các ý, các trình tự như trên mà kết hợp cho hài hòa để thể hiện được
những nét riêng mà không trùng lặp…
Ví dụ: Khi tả dòng sông quê hương, học sinh quan sát và hoàn thành sơ đồ tư duy
như sau: Từ những ghi chép quan sát trên thì chắc chắn các em sẽ làm được những
bài văn vô cùng sinh động và hấp dẫn. Tuy nhiên quan sát bằng các giác quan chưa
đủ mà giáo viên cũng cần phải hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự không
Ví dụ: Với bài tả khu vườn vào buổi sáng, ta nên chọn trình tự không gian.
+ Trước cửa vườn
+ Giữa vườn:
+ Góc vườn bên trái:
+ Góc vườn
bên phải:
+ Cuối vườn:
Tuy nhiên, ta vẫn có thể chọn trình tự thời gian:
+ Khoảng trời phía đông ửng hồng
+ Mặt trời bắt đầu nhô lên sau rặng tre.
+ Khi ánh nắng ban mai bắt đầu toả xuống
+ Mặt trời lên cao.
Ví dụ: Với bài tả dòng sông chọn trình tự miêu tả là thời gian.
+ Sáng:
+ Trưa:
+ Chiều :
+ Tối:
Ta cũng có thể chọn trình tự không gian như:
+ Nhìn từ xa:
nhóm để mỗi học sinh ghi một vài đặc điểm của cảnh theo buổi tại lớp và về nhà
tái hiện lại cùng với cách làm của cá nhân tạo thành một bài văn hoàn chỉnh.
+ Dàn ý tả dòng sông theo trình tự thời gian(Phần thân bài), có thể như sau:
Sáng trưa chiều tối xuân hạ thu đông, …
+ Quan sát theo không gian (Vị trí)
Xa gần trên dưới trong ngoài bên trái bên phải đằng
sau đằng trước…
Lưu ý: Các em có thể ghép nội dung một số khoảng thời gian, không gian để tạo
thành một đoạn văn khi làm bài. Tuy nhiên, tùy vào nội dung và khả năng mà các
em có thể điều chỉnh thêm, bớt số đoạn cho phù hợp.
• Bước 4: Tạo bài văn
Đây là giai đoạn quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất, đòi hỏi học sinh
phải linh hoạt vận dụng nhiều kiến thức để làm. Học sinh phải biết:
+ Dùng từ, đặt câu, dựng đoạn
+ Vận dụng phong cách ngôn ngữ văn bản
+ Bám sát dàn bài để viết thành bài văn hoàn chỉnh.
Muốn học sinh làm tốt bước này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực
hiện theo các yêu cầu sau:
a. Dùng từ.
- Dùng từ phải đảm bảo độ chính xác, đồng thời biểu hiện được tư tưởng, tình
cảm một cách rõ ràng.
- Phải tuân thủ các tiêu chuẩn chính tả
- Dùng từ gợi cảm, gợi tả: Thường là các từ đơn, từ ghép, từ láy, động từ
20
- Dùng từ giàu hình ảnh, âm thanh: Thường là các từ láy, từ tượng hình, từ tượng
thanh
- Sử dụng từ gần nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, các biện pháp tu từ về từ
Ví dụ :
+ Dùng từ chính xác : Mặt trăng tròn toả ánh sáng xuống vạn vật.
+ Dựng từ có hình ảnh: Mặt trăng tròn vành vạnh toả ánh sáng vằng vặc
- Câu văn tả là câu văn phối hợp nhiều yếu tố (Các kiểu câu, các loại câu, các
biện pháp tu từ về câu, các từ gợi tả, gợi cảm) để người đọc, người nghe có thể
cảm thấy được hình ảnh, màu sắc, âm thanh, cảm xúc của cảnh đó.
Ví dụ:
Câu văn kể Câu văn tả
- Mặt trời toả nắng xuống mặt đất.
- Ông mặt trời vén màn mây trắng, toả
những tia nắng vàng óng như tơ xuống
mặt đất.
- Lúc nào sông cũng chảy để mang phù
sa cho đất.
- Hết năm này đến năm khác, sông cứ cần
mẫn chảy mang phù sa bồi đắp cho đất
đai màu mỡ, cây cối xanh tốt.
c. Dựng đoạn
c1. Cách trình bày đoạn văn
Đoạn văn là phần văn bản nằm giữa hai chỗ xuống dòng và thường biểu đạt một ý
tương đối hoàn chỉnh. Khi làm bài thông thường học sinh chỉ để ý đến từ, câu mà ít
quan tâm đến đoạn văn.
- Cách trình bày một đoạn văn thường là diễn dịch, quy nạp, song hành, móc
xích, tổng phân hợp. Song đó không phải là phần lý thuyết giáo viên dạy cho học
sinh tiểu học mà nhiện vụ của giáo viên là giúp các em biết cách viết các đoạn văn,
biết trình bày các đoạn văn theo các cấu trúc trên
Ví dụ:
Diễn dịch + Câu mở đoạn nêu nhận xét đánh giá chung về đối tượng tả
trong đoạn, các câu còn lại tả chi tiết đối tượng đó.
+ Ví dụ: Ôi, bầu trời đêm mới đẹp làm sao! Mặt trăng tròn, to như
quả bóng vàng treo lơ lửng trên bầu trời mờ đục, cao thăm thẳm.
Những vì sao như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh tô điểm cho
chiếc áo đêm thêm lộng lẫy. Chúng mang đến vẻ đẹp bí ẩn cho
những vệt sáng lấp loáng làm sông trở nên lung linh hơn. Văng
vẳng đâu đây tiếng lanh canh của thuyền đánh cá đêm, tiếng hò của
ngư dân. Lúc này, dòng sông bồng bềnh, huyền ảo và đẹp như bức
tranh thuỷ mặc.
Trong các mô hình cấu trúc một đoạn văn trên thì cấu trúc tổng- phân -hợp là tiêu
biểu nhất đối với học sinh tiểu học. Cấu trúc này tương ứng với cấu trúc của cả bài
văn.
23
- (Mở bài- thân bài- kết bài) và cấu trúc của đoạn văn (Câu mở đoạn- phần trung
tâm - câu kết đoạn). Mặt khác trong chương trình sách giáo khoa lớp 4, lớp 5 có
rất nhiều bài tập yêu cầu học sinh viết một đoạn văn.
- Khi viết một đoạn văn đứng độc lập thì chọn cấu trúc Tổng - phân- hợp là hợp lí
hơn cả.
c2. Liên kết đoạn văn.
Khi trình bày bài văn thành nhiều đoạn khác nhau, các em cần phải biết cách liên
kết đoạn văn. Liên kết đoạn văn có thể dùng từ ngữ, dùng câu:
+ Dùng từ để liên kết đoạn:
> Chỉ trình tự, bổ sung: Buổi sáng, buổi trưa, khi mùa xuân về, …trước hết, cuối
cùng, ngoài ra, thêm vào đó,
> Chỉ ý nghĩa tổng kết, khái quát: Tóm lại, nói tóm lại, nhìn chung,
> Chỉ ý đối lập, tương phản: Ngược lại, trái lại, nhưng, thế mà, tuy vậy,
> Từ ngữ thay thế: Do đó, do vậy, vì thế, cho nên,
+ Dùng câu:
> Dùng câu nối với phần trước của văn bản.
> Dùng câu nối với phần sau của văn bảm.
> Dùng câu nối phân trước và phần sau của văn bản.
c3. Quan hệ giữa đoạn văn với đoạn văn.
- Để tạo ra sự lôgic trong diễn đạt thì học sinh có thể dựa vào quan hệ không gian,
quan hệ thời gian, quan hệ đặc điểm (với dạng bài tả cảnh thì thường dùng quan hệ
không gian, quan hệ thời gian)
* Với giáo viên: Đây là kết quả của việc giảng dạy nhiều ngày- bước hái quả, nên
chúng ta sẽ biết được ưu điểm, hạn chế trong cách dạy để điều chỉnh cho phù hợp.
Tổ chức rút kinh nghiệm thực hiện tiết trả bài chính là thực hiện khâu cuối cùng
kiểm tra, đánh giá nhằm mục đích củng cố lại dạng bài, biết sửa lỗi, bổ sung ý
thiếu cho bài tới và nâng cao chất lượng viết văn.
* Cách làm: Thu bài, chấm, đọc ghi lại những lỗi cụ thể, ghi câu văn hay, ý hay,
đoạn văn giàu hình ảnh, dùng từ khéo léo … thống kê vào bài soạn tiết trả bài, có
khi đưa vào cuốn sổ tích lũy cho những năm sau.
+ Tìm cách sửa lỗi cho học sinh.
25