Phần 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng viết văn Tả cảnh
cho học sinh lớp 5.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: môn Tiếng Việt.
3. Tác giả:
Họ và tên: Đồng Thị Chiên
Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 31/10/1978
Trình độ chuyên môn: Đại học - Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phả Lại 2 - Chí Linh - Hải Dương
Điện thoại: 0987 135 208
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Phả Lại 2
Địa chỉ: Bình Giang - phường Phả Lại - thị xã Chí Linh - tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 03203 881 328
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Sáng kiến có thể áp dụng cho tất cả giáo viên tiểu học dạy lớp 5.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014 - 2015.
HỌ TÊN TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG
Đồng Thị Chiên
-1-
-2-
Tôi đã tiến hành áp dụng sáng kiến qua một số giải pháp sau:
- Hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn từ ngữ và lựa chọn từ ngữ.
- Bồi dưỡng hứng thú học tập và năng lực cảm thụ văn học cho HS.
- Hướng dẫn học sinh biết cách xác định đúng yêu cầu đề bài.
- Khai thác sự chủ động, sáng tạo của học sinh trên cơ sở quan sát, liên
tưởng bằng hệ thống câu hỏi mở để hướng dẫn tìm ý, lập dàn ý cho bài văn.
- Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, bài văn.
- Hướng dẫn một số cách sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh.
3.3. Hiệu quả của sáng kiến
- Sáng kiến giúp hình thành và rèn cho học sinh những kĩ năng cơ bản khi
viết văn tả cảnh.
- Học sinh có hứng thú và say mê học tập, luôn tích cực, chủ động, sáng
tạo khi làm bài.
4. Khẳng định giá trị và kết quả của sáng kiến
Qua việc áp dụng các giải pháp của đề tài này, tôi thấy bước đầu mang lại
kết quả tốt đẹp. Điều đó thể hiện rất rõ về chất lượng bài văn và sự hứng thú của
học sinh khi học. Học sinh nắm chắc kiến thức về kĩ năng viết văn tả cảnh, được
bộc lộ khả năng của mình trước lớp. Đối tượng học sinh giỏi phát huy được khả
năng của mình trong học tập. Những học sinh yếu về kĩ năng viết văn miêu tả,
đặc biệt là tả cảnh nay đã mạnh dạn, tự tin hơn trong giờ học Tập làm văn. Còn
những em học lực trung bình đã tự mình viết được một bài văn, một đoạn văn
theo yêu cầu của đề bài. Tuy những bài văn, đoạn văn đó có thể chưa hay, chưa
sinh động nhưng các em đã tự viết bằng chính tư duy của mình. Điều đó sẽ kích
thích ý thức ham học hỏi, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục.
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến
- Để thực hiện áp dụng sáng kiến vào giảng dạy, giáo viên phải tạo thói
đang sinh sôi và phát triển.
Như vậy, làm văn - rèn kĩ năng viết văn là nơi thử thách học sinh các kĩ
năng tiếng Việt, vốn sống, vốn văn hoá, năng lực cảm thụ văn học của các em
một cách tổng hợp. Việc dạy Tập làm văn - dạy học sinh làm người - là việc làm
hết sức cần thiết vì đó là môn học giúp cho học sinh phát triển khả năng ngôn
ngữ nhiều nhất. Và chính ngôn ngữ là công cụ vàng, là chìa khoá vạn năng giúp
trẻ mở những cánh cửa thành công trong các hoạt động học tập và giao tiếp đời
sống.
1.2. Lí do chọn đề tài
Với vai trò tiên phong của quá trình xây dựng và gọt giũa ngôn ngữ của
một con người, ở bậc Tiểu học, Tiếng Việt được dạy thành nhiều phân môn trong
đó Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng. Phân môn này rèn luyện cho các em
kĩ năng sản sinh văn bản, góp phần dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời
sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội tri thức.
-5-
Mặt khác, trong lĩnh vực văn học, ngôn ngữ mở rộng phát triển, tư duy
trừu tượng của trẻ phát triển mạnh. Như vậy, vốn trí thức văn hoá, trí thức đời
sống mà trẻ tích luỹ được qua sách báo, phim ảnh và thông tin đại chúng là rất
phong phú và đa dạng. Điều đó cho thấy mỗi trẻ đều mang trong mình những
tiềm năng về những môn khoa học. Vấn đề đặt ra là phải kịp thời phát hiện, nuôi
dưỡng những phẩm chất đó ở trẻ. Vậy cần phải dạy và học môn Tập làm văn, đặc
biệt là văn Tả cảnh như thế nào để sử dụng, khai thác và phát triển được vốn hiểu
biết đó ở trẻ?
Tiếng Việt là một trong số các ngôn ngữ hết sức phong phú, đa dạng và có
sức biểu cảm. Nhà văn Đặng Thai Mai có nói: "Tiếng Việt là một ngôn ngữ có
tính thẩm mĩ cao, có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay, từ
ngữ Tiếng Việt tinh tế và giàu hình ảnh". Do đó nếu có kĩ năng viết văn hợp lí,
biết cách sử dụng từ ngữ trong viết văn sẽ giúp ta truyền đạt đến người đọc
hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học
sinh. Làm tốt văn tức là ngôn ngữ, chữ viết của trẻ được củng cố, trau dồi và phát
triển. Khi trẻ viết lên một câu văn, các thao tác viết chữ được thực hiện, đồng
thời vốn từ của trẻ được đưa ra sử dụng linh hoạt.
Chương trình Tập làm văn lớp 5 gồm các dạng cơ bản như: tả cảnh, tả
người, luyện tập thuyết trình, tranh luận, luyện tập làm báo cáo thống kê, luyện
tập làm đơn, làm biên bản cuộc họp, ôn tập văn tả đồ vật, tả con vật, tả cây cối.
Với thời lượng 18 tiết tuy không phải quá nhiều nhưng văn Tả cảnh có vị trí rất
quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 5 nói riêng và chương trình Tập
làm văn ở bậc tiểu học nói chung. Làm tốt văn tả cảnh sẽ hỗ trợ các em rất nhiều
trong việc học các thể loại văn khác và nó rèn cho các em cách nghĩ, cách cảm
về thế giới xung quanh mình, biết đánh giá sự việc dưới lăng kính của mình.
Tóm lại, dạy và học phân môn Tập làm văn, đặc biệt là rèn kĩ năng viết
văn tả cảnh là cần kíp và vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học ở tiểu học.
Giúp trẻ tiểu học học tốt phân môn này và rèn kĩ năng viết văn tả cảnh là góp
phần đặt nền móng vững chắc cho việc hình thành những cơ sở ban đầu nhằm
phát triển trí tuệ, nhân cách của trẻ.
3. Thực trạng của vấn đề
3.1. Thực trạng việc dạy của giáo viên
* Ưu điểm:
-7-
- Giáo viên có trình độ chuẩn, có tâm huyết với nghề..., nắm chắc nội dung
kiến thức của môn dạy, lớp dạy và bậc học.
- Đa số giáo viên nhiệt tình trong giảng dạy, quan tâm tới học sinh
- Tích cực đổi mới phương pháp dạy học đề nâng cao chất lượng giáo dục.
* Hạn chế:
- Trong giảng dạy, giáo viên chưa thực sự đổi mới phương pháp, cách dạy
của một số giáo viên trong giờ Tập làm văn còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy
nhiều lúng túng trong việc giảng dạy, học sinh thì thụ động trong giờ học và
thường làm theo mẫu cũng như sự hướng dẫn chi tiết của thầy cô mà chưa hiểu
sâu vấn đề. Do vậy, tôi đã nghiên cứu, đọc tài liệu, tham khảo ý kiến của bạn bè
đồng nghiệp để tìm ra biện pháp tối ưu nhằm nâng cao chất lượng viết văn Tả
cảnh cho học sinh lớp 5.
Tôi đã tiến hành dạy một số tiết Tập làm văn lớp 5 theo phương pháp
truyền thống và ra đề tiến hành khảo sát.
Đề bài: Hãy tả lại cảnh đẹp của quê hương em vào một buổi sáng đẹp trời.
Biểu điểm:
- Bố cục đảm bảo hợp lí đủ 3 phần. (2 điểm)
- Tả được vẻ đẹp riêng biệt của trường, hay một cảnh đẹp của quê hương
vào thời điểm theo yêu cầu: 6 điểm (các ý trọng tâm, không lan man, biết xen
lồng cảm xúc, tình cảm khi tả…)
+ Viết câu đúng ngữ pháp, diễn đạt trôi chảy, dùng từ đúng, không mắc lỗi
chính tả. (1,5 điểm)
+ Chữ viết rõ ràng, trình bày bài sạch. (0,5 điểm)
Kết quả bài làm của các em thu được như sau:
Tổng số
học sinh
34
Điểm giỏi
( 9 - 10)
SL
%
6
17,6
Chính vì vậy, tôi băn khoăn, trăn trở và thấy rằng cần phải đổi mới cách
dạy và học phân môn Tập làm văn nói chung, rèn kĩ năng viết văn tả cảnh nói
riêng để đạt được hiệu quả tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng học sinh.
-9-
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu, tìm ra
những biện pháp thích hợp để thực hiện giảng dạy và giúp nâng cao chất lượng
viết văn Tả cảnh cho học sinh lớp 5.
4. Các biện pháp thực hiện
4.1. Biện pháp thứ nhất: Hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn từ ngữ và
lựa chọn từ ngữ
Ngay từ đầu năm học, tôi đã giới thiệu cho học sinh những thể loại và kiểu
bài mà các em sẽ được học trong chương trình Tập làm văn lớp 5. Giúp các em
có thể ghi nhớ và tích luỹ được một vốn văn học có hệ thống, tôi hướng dẫn các
em lập một cuốn sổ để ghi chép những câu văn, đoạn văn hay, những áng thơ đặc
sắc, những đoạn văn, bài văn giàu cảm xúc gọi là: Sổ tay văn học.
Bên cạnh đó, việc hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn văn học còn rất hiệu
quả thông qua các tiết Tập đọc, đặc biệt là các bài đọc về thể loại văn miêu tả.
Ví dụ 1: Bài: Quang cảnh làng mạc ngày mùa (Tiếng Việt 5 - Tập 1, tr.10)
Khi phân tích đoạn 2, đoạn 3, tôi giúp các em nhận thấy tác giả sử dụng
hàng loạt các từ đồng nghĩa đã được chọn lọc, giàu hình ảnh để gợi cho người
đọc những cảm nhận riêng về đặc điểm của từng cảnh vật: lúa (vàng xuộm), nắng
(vàng hoe), quả xoan (vàng lịm), lá mít (vàng ối), tàu đu đủ và lá sắn héo (vàng
tươi), quả chuối (chín vàng), bụi mía (vàng xọng), rơm, thóc (vàng giòn), mái
nhà rơm (vàng mới), tất cả (màu vàng trù phú, đầm ấm).
Qua đó, tôi giúp học sinh hiểu rằng chính cách quan sát, cách lựa chọn chi
tiết và dùng từ thật tinh tế, đặc sắc của tác giả khi tả những màu vàng cụ thể của
cảnh vật trong bức tranh làng quê đã thể hiện rất rõ tình yêu quê hương tha thiết
của tác giả.
với trẻ. Từ đó, giúp các em say sưa tìm hiểu cái hay, cái đẹp của thơ ca, văn học
và ham thích viết văn hơn.
Ví dụ 1: Chọn những từ ngữ trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống để có
đoạn văn miêu tả sức sống của cảnh vật trong mưa xuân.
Cơn mưa xuân chợt đến…..(1) cảnh vật còn say ngủ trong se lạnh mùa
đông. Những làn mưa xuân……(2). Mưa giăng giăng trên mặt hồ mờ ảo hơi
sương……….(3). Mạch đất gặp mưa xuân bỗng mở lòng cho…..(4) vươn lên
xanh mượt. Những mầm thóc cũng cựa mình,…….(5)
- 11 -
(chồi non; dịu dàng lướt qua; đánh thức tâm hồn vạn vật; dệt nên những
thảm mạ xanh non; nước hồ xao động, lăn tăn)
Ví dụ 2: Điền những từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để có đoạn văn tả
cảnh một buổi bình minh trên quê em.
Trời còn sớm nhưng em đã thức dậy và bước ra sân.
Chao ôi! Cảnh vật hiện ra trước mắt em………(1)! Làng xóm như bồng
bềnh trong……….(2). Những làn khói bếp bay lên hòa vào sương mai……(3).
Nền trời…….(4), những tia nắng ban mai……(5). Một ngày mới……(6).
Trên đường làng đã thấy các bạn học sinh quần áo gọn gàng…….(7)
Tiếng cười nói……..…(8). Những bác nông dân đi làm sớm cũng…...(9).
Trên cành cây, chìa vôi, chào mào cũng thi nhau hót làm cho…....(10).
Ví dụ 3: Cho khổ thơ:
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng.
Dựa vào nội dung đoạn thơ trên, em hãy tưởng tượng và viết một đoạn văn
tả lại vẻ đẹp của dòng sông vào một buổi trưa hè.
(Bài tập thực hành Tiếng Việt 5 - Tập 1)
Tiếng cười nói ríu rít (8). Những bác nông dân đi làm sớm cũng nói
chuyện râm ran / nói chuyện rôm rả (9). Trên cành cây, chìa vôi, chào mào cũng
thi nhau hót làm cho buổi sáng càng thêm sức sống (10).
Ví dụ 3:
Dòng sông quê tôi rất đẹp và thơ mộng. Bên bờ sông có hàng tre nghiêng
nghiêng như cô thiếu nữ đang làm duyên chải tóc. Nước sông xanh biếc và trong
đến mức soi rõ cả từng chiếc lá tre, nhìn thấy tận đáy. Mặt trời lên, tỏa những tia
nắng rực rỡ xuống dòng sông lấp loáng. Tôi dang tay ôm lấy dòng sông với tất cả
tình yêu mến!
Như vậy, bồi dưỡng hứng thú học tập và năng lực cảm thụ văn học là một
quá trình lâu dài và công phu. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trước hết là
bồi dưỡng vốn sống cho các em. Có vốn sống các em mới có khả năng liên
tưởng để tiếp nhận tác phẩm một cách tự nhiên, hiệu quả.
- 13 -
4.3. Biện pháp thứ 3: Hướng dẫn học sinh biết cách xác định đúng yêu
cầu đề bài.
Khi đọc bất cứ một đề văn nào, các em học sinh cũng cần phải xác định và
Tìm hiểu rõ yêu cầu của đề bài trên ba phương diện: Một là thể loại, hai là nội
dung cần làm là gì, ba là phạm vi phải làm.
Ví dụ 1: Đề bài: Hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều
năm qua.
Khi giao nhiệm vụ cho học sinh, tôi yêu cầu các em đọc kĩ đề bài, xác định
thể loại (tả cảnh). Đây là một dạng đề bài miêu tả cụ thể cảnh trường học. Các em
cần xác định rõ đối tượng miêu tả là cảnh gì? (Tả ngôi trường) Thời gian em quan
sát là lúc nào? (Buổi sáng/Buổi trưa/Sau giờ tan học…) Khi đã xác định đúng yêu
cầu của đề bài, định hình được đối tượng miêu tả, xác định phạm vi phải làm, học
sinh sẽ không bị nhầm đề bài. Tuy nhiên, tôi cũng lưu ý học sinh, dù đây là cảnh
cụ thể (trường học) nhưng trong đó cũng có nhiều cảnh nhỏ lẻ hơn cần tả như:
* Đặc điểm nổi bật của dòng sông: Sông chảy thẳng hay quanh co, uốn
lượn? Lòng sông rộng hay hẹp? Nước sông nhiều hay ít? Màu sắc của nước sông
trong vắt hay đỏ nặng phù sa? Sông chảy chậm (lững lờ) hay nhanh (băng
băng)?...
* Cảnh vật trên sông và hai bên bờ sông:
- Trên mặt sông có những hình ảnh gì nổi bật? Cảnh hai bên bờ sông có
những nét gì làm em thích thú? Đó là cây cối, bãi bồi trồng ngô khoai xanh
mướt, con đê, ngôi nhà, con đò, cây đa, bến nước hay người hoạt động ở hai bên
bờ sông,…? Em thích ngắm dòng sông vào thời điểm nào, sáng hay chiều?
(Hoặc: Dòng sông gắn với kỉ niệm gì làm em thích thú và có ấn tượng sâu sắc?).
- Buổi sáng mặt sông được bao phủ một làn sương mỏng hay lấp loáng ánh
nắng?
- Buổi trưa, mặt sông phẳng lặng in bóng mây trời hay trở nên nhộn nhịp?
- Buổi chiều sông màu mỡ gà hay lấp lánh trăng sao?
- Buổi tối trăng sáng, mặt sông lấp lánh như dát bạc hay trong xanh màu
ngọc bích?
c. Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ
- Cảnh dòng sông gợi cho em những suy nghĩ và cảm xúc gì? Sông mang lại
nhiều lợi ích hay để lại cho em ấn tượng khó phai?
- 15 -
Từ những gợi ý đó, học sinh sẽ lập được dàn ý chi tiết và viết thành một bài
văn hoàn chỉnh.
Ví dụ 2: Tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm qua.
Trước hết, tôi nhắc nhở và hướng dẫn học sinh quan sát và ghi chép lại các
chi tiết về ngôi trường mình. Sau đó, hướng dẫn các em xác định các việc cần
làm trước khi lập dàn ý bằng cách trả lời các câu hỏi sau đây:
- Trường em tên là gì? Nằm ở đâu? Thời gian em quan sát là khi nào?
- Đặc điểm nổi bật của ngôi trường khi nhìn từ xa như thế nào?
phấp phới. Hai bên là hàng cây xanh tỏa bóng mát xuống sân trường. Bên cạnh
lối đi vào là sân cát sạch với nhiều trò chơi đu quay, cầu trượt,…là thiên đường
vui chơi của các bạn học sinh.
- Góc sân, cây phượng già cổ thụ đứng sừng sững như bác bảo vệ của
trường, gốc cây to bằng vòng tay của mấy đứa chúng em, tán lá xum xuê cả một
góc sân trường
- Các phòng học rộng rãi, thoáng mát, lát nền sạch sẽ, ba dãy bàn hai chỗ
ngồi ngay ngắn,…
- Khu văn phòng không rộng như dãy lớp học nhưng rất gọn gàng và có
nhiều phòng khác nhau…
- Khu vườn trường khá rộng, được phủ lên một thảm cỏ xanh tươi, Giữa
vườn là một bồn hoa rực rỡ. Chúng em tay phiên nhau bắt sâu, tỉa lá, tưới nước
cho khu vườn,...
c. Kết bài: Tình cảm của em đối với ngôi trường
- Ngôi trường của em đã rèn luyện bao lứa học trò.
- Mỗi ngày đến trường là một ngày vui.
4.5. Biện pháp thứ 5: Dựng đoạn và viết bài văn miêu tả.
- Dựng đoạn văn chính là cách sắp xếp các lời văn diễn đạt sao cho hợp lý,
logic, chặt chẽ và mạch lạc. Học sinh thường rất lúng túng không biết tả cảnh cụ
thể là tả cảnh gì? Tả như thế nào? Theo trình tự từ đâu? ... Các em thường kể lể,
liệt kê cảnh một cách lộn xộn, không tạo được ấn tượng cho người đọc về cảnh.
Trước hết tôi hướng cho học sinh hình dung mỗi một cảnh nhỏ sẽ viết thành một
đoạn văn trọn vẹn. Trong đoạn văn đó sẽ đi từ khái quát đến cụ thể, bao giờ câu
đầu đoạn cũng là câu miêu tả khái quát cảnh đó.
- 17 -
- Mỗi đoạn văn miêu tả đều có một nội dung nhất định (giới thiệu hay tả bao
quát về đối tượng, tả từng bộ phận hay từng mặt của đối tượng, bộc lộ tình cảm,
thái độ của người viết về đối tượng miêu tả,…
yên bình. Những hàng cây xanh cố vươn lên đón lấy ánh nắng yếu ớt cuối cùng
và reo cười trong gió. Chút nắng, chút gió trong buổi hoàng hôn hình như đều
đem lại cảm giác thoải mái cho mỗi người.
(Đ.V.T - Lớp 5B)
4.6. Biện pháp thứ 6: Hướng dẫn một số cách sử dụng từ ngữ trong viết
văn tả cảnh
4.6.1. Sử dụng từ láy:
Trong Tiếng Việt, từ láy thường có giá trị gợi tả, biểu cảm rất lớn. Chính vì
vậy, sử dụng từ láy trong viết văn tả cảnh sẽ làm cho người đọc, người nghe cảm
nhận và hình dung được một cách cụ thể, tinh tế và sống động hơn về sự vật hình
tượng được miêu tả.
Ví dụ: Tìm các từ láy thay vào các từ ngữ in đậm để đoạn văn sinh động
hơn.
Hồ Tơ-nưng nằm ở phía bắc thị xã Plây-cu. Hồ rộng lắm…, nước trong như
lọc. Hồ sáng đẹp….dưới ánh nắng chói……của những buổi trưa hè. Hàng trăm
thứ cá ra đời….., nảy nở ở đây. Cá đi từng đàn, khi thì tự do……bơi lội, khi thì
lao nhanh….như những con thoi. Chim chóc cũng đua nhau đến bên hồ làm tổ.
Những con bói cá mỏ dài, lông nhiều màu sắc….. Những con cuốc đen trũi…
len lách giữa các bụi bờ.
* Đáp án:
Các từ láy thay từ in đậm lần lượt là: mênh mông, long lanh, chói chang,
sinh sôi, tung tăng, vun vút, sặc sỡ, đen trùi trũi.
4.6.2. Sử dụng tính từ tuyệt đối
Đó là những tính từ được cấu tạo theo phương thức ghép, trong đó chỉ có
tiếng thứ nhất có nghĩa, còn tiếng thứ hai được tạo ra theo các hình tượng có tác
dụng chỉ các sắc thái khác nhau của tính chất do tiếng thứ nhất biểu thị như xanh
lè, xanh ngắt, đen kịt, trắng muốt, vàng xuộm, đỏ mọng, đặc sệt, trong suốt,…
Tính từ tuyệt đối là từ có khả năng biểu thị những sắc thái riêng biệt của
sự vật hiện tượng. Chính vì vậy, trong văn tả cảnh thì tính từ tuyệt đối là yếu tố
- 19 -
- Con đường làng chậm rãi bò qua những ngọn đồi, vươn về phía xa xa,…
(Tả con đường)
- 20 -
- Ông mặt trời cũng dần lên cao. Thế mà sông vẫn nằm đấy, ườn mình ra
đón những ánh vàng lấp loáng. (Tả dòng sông)
4.7. Giáo án dạy thực nghiệm
Bài dạy: Luyện tập tả cảnh (Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 - trang 62)
(Phụ lục 1)
4.8. Một số đề thực nghiệm
4.8.1. Đối tượng thực nghiệm
- Học sinh khối 5 trường Tiểu học nơi tôi công tác.
4.8.2. Nội dung
- Đề luyện tập và nâng cao, mở rộng cho học sinh khá - giỏi khối 5.
4.8.3. Tiến hành thực nghiệm
- HS thực hành các đề luyện tập trong các tiết tăng.
Đề 1:
“Quê hương em biết bao tươi đẹp
Đồng lúa xanh, núi rừng, ngàn cây…”
Lời bài hát ấy rất quen thuộc với mỗi học sinh tiểu học. Mỗi câu hát gợi ra
biết bao cảnh thiên nhiên kì thú của quê hương đất nước. Em hãy tả lại một cảnh
đẹp quê hương.
Đề 2: Một đêm, Dế Mèn tỉnh giấc:
- Khát quá! Chú bèn bò ra bãi uống nước sương. Chà! Cảnh vật đêm trăng
thật diệu kì!
Em hãy thay lời Dế Mèn tả lại cảnh đêm trăng tuyệt diệu đó.
Đề 3: Tả cảnh đẹp, di tích lịch sử ở địa phương.
34
34
6
13
17,6
38,2
25
21
73,6
61,8
3
0
8,8
0
Nhìn vào bảng thống kê sau đợt khảo sát trên, ta thấy chất lượng bài viết
trong đợt khảo sát sau trội hơn hẳn và có sự thay đổi rõ rệt so với đợt khảo sát
trước. Bài viết của các em đạt trình độ khá - giỏi: viết văn lưu loát, giàu hình
ảnh, tình cảm trong sáng dễ thương. (Phụ lục 2)
Như vậy, các em học sinh lớp 5 đã nắm bài rất chắc và có kĩ năng làm văn
tả cảnh tốt hơn trước.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
- Giáo viên đạt trình độ chuẩn trở lên, có tâm huyết và lòng yêu nghề dạy
các em dùng từ hay, đặt câu đúng và có hình ảnh, hướng dẫn học sinh phân tích
từ và so sánh câu,.... Và đặc biệt, thông qua những đoạn văn hay, bài văn hay,
giáo viên yêu cầu học sinh đưa ra nhận xét về cách dùng từ, đặt câu, biện pháp
- 23 -
nghệ thuật,... để từ đó giúp các em tích lũy cho mình vốn từ, vốn kiến thức văn
học cho mình.
- Lưu ý đúng mức đến việc nâng cao năng lực tư duy của học sinh, có
những hình thức động viên kịp thời đối với những học sinh có tiến bộ.
- Thực hành và đúc rút kinh nghiệm, học hỏi bạn bè đồng nghiệp.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với giáo viên
- Giáo viên phải tích cực tự học, tích lũy vốn kiến thức Tiếng Việt; vận
dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Có ý thức học hỏi bạn bè, đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn
và sự hiểu biết về thế giới xung quanh.
- Thường xuyên nhắc nhở học sinh chăm chỉ học tập, tích lũy vốn từ ngữ
tiếng Việt, luôn phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh.
2.2. Đối với tổ chuyên môn, nhà trường
- Tổ chức, hội thảo chuyên đề bồi dưỡng nâng cao chất lượng viết văn tả
cảnh cho học sinh lớp 5.
- Có biện pháp thực nghiệm với từng khối lớp theo từng mức độ yêu cầu
khác nhau nhằm hình thành phương pháp dạy học, trau dồi kiến thức.
- Tổ chức, hội thảo chuyên đề trong tổ chuyên môn để trao đổi, phân tích
và thống nhất phương pháp dạy học phù hợp với nhận thức của học sinh.
2.3. Đối với các cấp lãnh đạo
- Tổ chức các chuyên đề cấp Phòng trong toàn thị xã về Phương pháp dạy
Tập làm văn nhiều hơn nữa để giáo viên có thể chia sẻ kinh nghiệm, học tập bạn
bè đồng nghiệp nhằm nâng cao kiến thức, vận dụng những giải pháp hay để nâng