SKKN một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn TNXH cho HS lớp 3a trường TH thành tiến - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CHO HỌC SINH LỚP 3A
TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH TIẾN
NĂM HỌC 2018-2019

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Thành Tiến
SKKN thuộc lĩnh vực: Tự nhiên và Xã hội (VNEN)

Mục lục
THANH HOÁ, NĂM 2019

0


Mục lục
Mục

Số trang

1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu

1
1
1
1
2
2
2
4
5
5

Mục lục

8
10
12
13
14
14
15
15
16
16
17
17
17


I. MỞ ĐẦU.
1.1. Lí do chọn đề tài.

Tiến, năm học 2018-2019 ”
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 3A tại Trường Tiểu học Thành Tiến.
- Góp phần cùng với đồng nghiệp cải tiến phương pháp giảng dạy linh hoạt,
sáng tạo, phù hợp với địa phương xã Thành Tiến.
- Nhằm trau dồi và nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3. Nghiên cứu, tổng
kết các biện pháp, giải pháp để dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3A phù hợp
1


với học sinh địa phương nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
ở Trường Tiểu học Thành Tiến năm học 2018-2019.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp thuyết trình, tranh luận.
-Phương pháp điều tra khảo sát điều tra thực tế, thu thập thông tin.
-Phương pháp phân tích.
-Phương pháp so sánh, tổng hợp.
- Phương pháp thống kê.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Mục tiêu môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1,2,3 là:
* Có một số kiến thức cơ bản ban đầu về:
- Con người và sức khỏe: Các giác quan, cấu tạo, chức năng của các hệ cơ
quan chính trong cơ thể người, cách giữ vệ sinh cơ thể và phòng tránh bệnh tật, tai
nạn thường gặp.
- Một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội:
* Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng:

+ Tạo hứng thú
+ Trải nghiệm
+ Phân tích- khám phá- rút ra bài học
+ Thực hành, củng cố
+ Ứng dụng
- Các phương pháp dạy học môn Tự nhiên và Xã hội được sử dụng phổ
biến như: quan sát, hỏi đáp, thảo luận, trò chơi học tập, đóng vai, thực hành,...
Nhưng ở đây, giáo viên đóng vai trò “ ẩn” vì các hoạt động học tập chủ yếu diễn ra
giữa học sinh với học sinh. Với các hoạt động hướng dẫn rất cụ thể trong Hướng
dẫn học, từng học sinh đọc và có thể hiểu được mình cần phải làm gì, làm việc cá
nhân, theo nhóm hay theo cặp. Công việc của giáo viên chủ yếu là theo dõi và trợ
giúp khi các em học sinh có nhu cầu.
- Điều quan trọng nhất là giáo viên cũng cần bao quát lớp để xem các em
có hiểu được những chỉ dẫn trong tài liệu không, có thực hiện theo đúng những
yêu cầu trong tài liệu hướng dẫn không, cần trợ giúp gì (Làm rõ chỉ dẫn, hướng
dẫn cách làm, giải thích thông tin hay cung cấp phương tiện/ đồ dùng học tập,...).
Nếu cần phương tiện/ đồ dùng gì thì giáo viên phải kiểm tra xem phương tiện/ đồ
dùng đó có được trang bị trong góc học tập của lớp học không. Nếu thiếu, giáo
viên cần chuẩn bị trước khi giờ học bắt đầu.
- Các hoạt động học tập trong hướng dẫn học được biên soạn trên quan
điểm học tập tương tác. Đó là sự tương tác giữa học sinh với học sinh, giữa học
sinh với gia đình, cộng đồng, giữa học sinh với các phương tiện dạy học trong góc
học tập của lớp học, hay môi trường xung quanh và giữa học sinh với chính hướng
dẫn học.... [2]
Các bài học trong tài liệu hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội( Sách
thử nghiệm) theo Dự án mô hình trường học mới Việt Nam được trình bày theo cấu
trúc chung như sau :
Tên bài
Mục tiêu
A. Hoạt động cơ bản (Học sinh được trải nghiệm, tìm tòi, phân tích, khám

Trong năm học 2017- 2018, khi tổ chức dạy học trên lớp, tôi thấy nhiều
giáo viên còn phụ thuộc hoàn toàn vào kênh hình trong sách giáo khoa, tài liệu
hướng dẫn học, chưa có sự sáng tạo, đổi mới trong việc khai thác kênh hình để phù
hợp với học sinh ở địa phương nên chất lượng và hiệu quả giảng dạy chưa cao.
Nguyên nhân làm cho hiệu quả của công tác này chưa được như mong muốn là do:
+ Giáo viên chưa hiểu hết về tác dụng của vật thật khi tổ chức quan sát.
+ Giáo viên còn lúng túng khi tổ chức cho học sinh làm việc trên đồ dùng
nên dẫn đến tâm lý tránh né, ngại sử dụng.
+ Giáo viên chưa có sự đầu tư cho việc chuẩn bị đồ dùng dạy học trong các
tiết dạy Tự nhiên và Xã hội. Vì để chuẩn bị đồ dùng cho học sinh quan sát cho phù
hợp thực tế thì phải chuẩn bị rất công phu nhưng thời gian của giáo viên hạn hẹp
do phải tham gia dạy 2 buổi/ngày.
+ Một số ít giáo viên có thay đổi kênh hình cho phù hợp với địa phương
song chỉ sử dụng ở một số bài, chưa áp dụng thường xuyên.
Kết quả thống kê về chất lượng học tập môn Tự nhiên và Xã hội khối lớp 2
năm học 2017-2018 ( Hiện nay là khối lớp 3 của năm học 2018-2019) như sau:
Lớp
Sĩ số
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
TL
SL
TL
SL
TL
2A
26
4

kiến thức, vận dụng kiến thức đã học..... để tạo cho học sinh hứng thú, say mê, kích
thích các em tìm hiểu về nội dung giáo dục cũng như rèn luyện kĩ năng.
+ Tổ chức trò chơi đầu tiết để tạo hứng thú cho học sinh:
Để tiết học diễn ra có hiệu quả thì việc tạo hứng thú cho học sinh rất quan
trọng. Vì vậy ngay từ đầu tiết học, giáo viên cần linh hoạt trong cách tổ chức để
gây hứng thú, kích thích trí tò mò và tinh thần hào hứng, vui vẻ cho học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài 17: Thế giới thực vật và động vật quanh em”, giáo viên
có thể tổ chức cho học sinh trò chơi khởi động : “ Gieo hạt, nảy mầm” như sau:
Học sinh đứng dậy, giáo viên hoặc trưởng ban Văn nghệ làm quản trò, cho
học sinh vừa thực hiện các động tác mô tả hoạt động “ gieo hạt”, “ nảy mầm”,...,
vừa đọc các câu của bài thơ:
Gieo hạt, nảy mầm
Mùi hương thơm ngát
Một cây, hai cây…
Một quả, hai quả
Một nụ, hai nụ
Gió thổi, cây rung
Một hoa, hai hoa
Lá rụng, nhiều lá…
Học sinh nghe và thực hiện các động tác, bạn nào sai động tác thì phải nhảy
lò cò một vòng.

Ảnh HS chơi trò chơi
Hay khi dạy bài 21: Hoa và quả có đặc điểm gì? Nhằm giúp các em nhớ lại
tên các loại hoa, quả mang dấu huyền (\) cũng nhằm rèn luyện phản ứng, tư duy
nhanh. Cách tổ chức như sau:
5


* Giáo viên chia lớp thành 3 đội. Tập cho học sinh thuộc lời hát sau nhịp

* Dừng trò chơi khi cảm thấy mệt.
* Đặt tay lên vị trí của tim, cảm nhận nhịp đập của tim.
Qua trò chơi này sẽ giúp cho các em cảm nhận và mô tả được trạng thái
của cơ thể, giúp các em khám phá kiến thức bài học.
Ví dụ khi dạy bài 16: Vệ sinh môi trường. Ở hoạt động cơ bản, sau khi học
sinh thực hiện 5 hoạt động theo nhóm rồi 1 hoạt động cá nhân. Tôi tiến hành tổ
chức cho học sinh chơi trò chơi “ Bỏ rác vào thùng”. Mục đích trò chơi giúp các
em có ý thức bảo vệ vệ sinh môi trường , không bỏ rác bừa bãi. Giáo viên tổ chức
như sau:
* Học sinh chuẩn bị sách, vở, giày , dép, bút, thước kẻ,...
6


* Học sinh xếp thành vòng tròn , trên tay mỗi em cầm một vật đã chuẩn bị,
tượng trưng cho rác. Giáo viên cử một số em làm “ thùng rác” đứng ở trong vòng
tròn. Số thùng rác bằng khoảng 1/3 số lượng người chơi.
* Khi có lệnh chơi, người chơi nhanh chóng bỏ rác vào thùng, mỗi thùng
chỉ đựng số lượng rác là 3( “ thùng rác” cầm 3 vật trên tay)
* Lưu ý: Khi có lệnh kết thúc, bạn nào còn cầm “ rác” trên tay là thua. bạn
nào vứt “ rác” là bị phạt. “ Thùng rác” cầm thiếu hoặc thừa “ rác” cũng bị phạt.
+ Tổ chức trò chơi củng cố, trải nghiệm kiến thức đã học:
Ví dụ 1:
Khi dạy bài 6: Cơ quan thần kinh của chúng ta. Để giúp học sinh ghi nhớ
kiến thức mới, ở hoạt động thực hành, giáo viên tổ chức trò chơi “ Gắn tên cơ
quan thần kinh với chức năng phù hợp” như sau:
- Giáo viên nêu tên trò chơi, phổ biến cách chơi, luật chơi.
- Các nhóm ra góc học tập lấy các thẻ từ màu hồng có ghi tên các bộ phận
của cơ quan thần kinh và các thẻ từ màu xanh có ghi chức năng của mỗi bộ phận
trong cơ quan thần kinh.
- Các em trao đổi và xếp các thẻ từ màu xanh và màu hồng cho phù hợp

không nên tổ chức mãi một trò chơi, cần thay đổi sao cho linh hoạt, hấp dẫn đối
với các em. Cần tránh phạt học sinh chơi thua bằng những hình phạt nặng nề, nên
phạt bằng những hình thức nhẹ nhàng như hát, đọc thơ, ...
+Tổ chức cho học sinh hát đầu tiết để khởi động
Đây là cách để giúp các em vui vẻ, hứng khởi tiếp cận chủ đề bài học một
cách tự nhiên và thích thú. Lưu ý khi chọn các bài hát khởi động phải là các bài hát
mà các em đã biết. Giáo viên nên trao đổi trước với hội đồng tự quản về việc tập
lại bài hát trong lớp, nhóm để giúp học sinh nhớ lại bài hát. Bài hát phải có nội
dung liên quan đến chủ đề bài học.
Ví dụ khởi động cho bài 1: Hoạt động thở và cơ quan hô hấp, trước tiết
học, giáo viên cần giao nhiệm vụ cho học sinh về nghe và tập theo bài hát “ Tập
thể dục buổi sáng ” của tác giả Minh Trang , ngoài ra, giáo viên còn phối hợp với
các anh chị phụ trách sao để tổ chức tập cho học sinh hát bài “ Tập thể dục buổi
sáng ” của tác giả Minh Trang.
“Cô dạy em
Tay giơ cao lên trời
Bài thể dục buổi sáng
Tay giơ ngang bờ vai
Một- hai- ba- bốn
Tay đưa ra trước mặt
Hít thở hít thở, hít thở
Buông cả hai tay”
Sau khi hát và làm các động tác theo lời bài hát, học sinh sẽ dễ dàng cảm
nhận được hoạt động thở và tìm hiểu về cơ quan hô hấp một cách nhẹ nhàng, thích
thú.
2.3.2. Tăng cường các hoạt động trải nghiệm, thực hành dựa trên
những điều kiện sẵn có tại địa phương.
Đối với phần nội dung chủ đề tự nhiên, các trường ở những nơi khó tìm
cây để cho học sinh tri giác trực tiếp thì mới nên sử dụng kênh hình trong tài liệu
hướng dẫn học. Còn đối với học sinh Trường Tiểu học Thành Tiến nằm ở vùng

lp hc, giỏo viờn nờn chun b nhng vn sau:
- Tỡm hiu trc a im, la chn thi gian thớch hp tin hnh cho
hc sinh quan sỏt, thun li cho vic i li ca hc sinh.
- Cn cú hai phng ỏn cho thi tit thun li v thi tit khụng thun li
cho vic t chc quan sỏt.
- Quy nh v k lut, an ton trờn ng i v khi hc tp.
- D kin cỏch ngi, ng ca hc sinh xung quanh i tng quan sỏt.
* Hng dn hc sinh khai thỏc kin thc trờn b nh v nh trng, a
phng cho gn gi, sỏt thc t a phng.
Khi t chc dy hc mụn t nhiờn v Xó hi, trng hp khụng th t chc
cho hc sinh quan sỏt trờn vt tht, giỏo viờn nờn chun b tranh nh v chớnh a
phng cỏc em ang sng bi lỳc ny i tng quan sỏt mi gn gi, thõn thuc
vi chớnh bn thõn cỏc em. Nh vy, ni dung m giỏo viờn mun hc sinh hng
ti s c hc sinh tip nhn nhanh hn, hiu qu hn.
Vớ d: Trc khi dy bi 10 Hot ng ca chỳng em trng (HDH
T nhiờn v Xó hi lp 3, tp 2). Tụi ó chp cỏc nh v hot ng trng hng
ngy ca cỏc em hc sinh Trng Tiu hc Thnh Tin. Khi dy n hot ng 4
Liờn h thc t tụi cho hc sinh quan sỏt cỏc bc nh chp cỏc hot ng ca hc
sinh trong trng (nh chp cỏc hc sinh vui chi, hc, sinh hot tp th, hot ng
vn ngh, th thao,....) gõy hng thỳ cho cỏc em, ng thi giỳp cỏc em liờn h
thc tin mt cỏch tt hn.
*Hng dn hc sinh khai thỏc kin thc trờn phối hợp cả vật
thật và tranh ảnh, mô hình để quan sát .
bi 13: Hot ng nụng nghp, tụi s dng nh chp cỏc hot ng
nụng nghip ca ngi dõn a phng xó Thnh Tin, cỏc sn phm nụng nghip
ca chớnh a phng giỳp cỏc em liờn h vi thc tin cuc sng hng ngy
ca ni cỏc em .
9



phần B. Hoạt động thực hành, tôi đã điều chỉnh câu hỏi cho phù hợp với học sinh
là:
a) Bạn đã biết những cơ quan nào trong huyện Thạch Thành?
b) Nói tên một số cơ quan và địa chỉ của cơ quan đó?
c) Kể một số hoạt động ở một cơ quan mà bạn từng đến?
Hay khi dạy bài 14: “ Hoạt động công nghiệp và thương mại”, Ở hoạt động
2. “Liên hệ thực tế” của hoạt động cơ bản, để phù hợp với vốn hiểu biết của các em
về địa phương, tôi đã điều chỉnh các câu hỏi như sau:
1) Kể cho nhau nghe về hoạt động công nghiệp có ở huyện Thạch Thành.
2) Hoạt động đó mang lại lợi ích gì cho người dân?
10


3) Trong gia đình, họ hàng em, có ai làm nghề liên quan đến các hoạt động
công nghiệp mà em vừa kể không? Đó là hoạt động gì?
4)* Trong các hạt động công nghiệp ở địa bàn huyện Thạch Thành, hoạt
động nào đã có từ lâu và hoạt động nào mới xuất hiện?
*Ra các bài tập với mức độ khó dần lên hợp với khả năng của học
sinh.
Ở mỗi bài học, kết thúc hoạt động cơ bản, thường học sinh được trải qua
việc thực hiện các bài tập theo hình thức cá nhân để nắm được kiến thức bài học.
các hoạt động theo hình thức cá nhân này đối với môn Tự nhiên và Xã hội chủ yếu
là hoạt động ghi chép lại nội dung bài học. Ở một số bài còn có thêm các câu hỏi
để giúp học sinh nắm vững thêm về nội dung bài học.
Do đó, trong lớp học có nhiều học sinh ở trình độ và mức độ phát triển
khác nhau việc tiếp nhận kiến thức của mỗi học sinh cũng khác nhau. Nên hầu như
tiết nào cũng xảy ra tình huống một số học sinh học tốt sẽ hoàn thành hoạt động cá
nhân của mình trước trong khi các bạn khác vẫn đang thực hiện hoạt động của
mình nhưng không thể điều các em đi hỗ trợ các bạn khác được vì lúc này các bạn
khác đang ghi chép nội dung bài học, học sinh cũng không thể tiếp tục các hoạt

2.3.4. Thực hiện tốt Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT
Tôi đã thực hiện tốt việc đánh giá theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT.
Giáo viên luôn đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên,
khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát
huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan. [6]. Muốn vậy
giáo viên cần nắm tốt các kỹ thuật để đánh giá qua quan sát.
Khi học sinh quan sát đối tượng học tập, đọc tài liệu, suy nghĩ và phán
đoán, phát biểu ý kiến trong nhóm và trước lớp, giáo viên nên khích lệ các em
mạnh dạn nêu lên ý kiến của mình. Tránh việc học sinh nêu sai, giáo viên và các
bạn đã chê ngay làm cho học sinh sẽ thêm nhút nhát, tự ti, không dám thể hiện.
Trường hợp học sinh nêu sai, giáo viên nên khích lệ, dẫn dắt, gợi mở, giúp các em
biết trình bày đúng vấn đề.
Giáo viên qua quan sát và lắng nghe để đánh giá các thao tác, động cơ, các
hành vi, kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành trong thực hiện hoạt động của học
sinh. Lưu ý cần quan sát:
- Qua quá trình học của học sinh: (Các kỹ năng về ngôn ngữ; ý tưởng mới;
cách tìm ra ý tưởng mới; cách vận dụng sự hiểu biết vào hoạt động cụ thể; thể hiện
ra bên ngoài).
- Qua tương tác hay cá tính của học sinh: (Có hợp tác với các bạn; Có tham
gia tổ chức hoạt động nhóm; có thụ động hay thờ ơ; Có nghe các bạn và thầy cô;
Có phản ứng trước sự việc hay mỗi người)
- Qua mỗi hoạt động của học sinh: Giáo viên cần dựa vào câu trả lời của
học sinh để đưa ra nhận xét, đánh giá chính xác. Ví dụ:
+ Tại sao em viết như vậy?
+ Em biết điều đó bằng cách nào?
+ Em thích nhất điều gì?
+ Tới đây em sẽ làm gì?
Giáo viên cần dựa vào các chỉ số quan sát năng lực để có đánh giá tốt nhất
cho mỗi học sinh. Khi đánh giá, giáo viên cần tăng cường động viên, khuyến
khích, ghi nhận những tiến bộ của học sinh dù là nhỏ nhất. Bằng lời nói của mình,

quan trọng của việc xây dựng góc học tập và Thư viện lớp học trong dạy học môn
tự nhiên và Xã hội , nên mỗi bài học giáo viên đều có sự chuẩn bị tài liệu, bài tập
thêm, đồ dùng như mẫu vật quan sát, tranh ảnh,... vào góc học tập cùng với sự trợ
giúp của hội đồng tự quản lớp và các nhóm trưởng.
Nhờ vậy, mỗi tháng, góc học tập luôn có sự thay đổi, sắp xếp lại tài liệu và
đồ dùng học tập cho phù hợp với tiến trình học tập, hoạt động của học sinh mỗi bài
học. Không để xảy ra tình trạng sử dụng góc học tập, góc thư viện làm làm kho
chứa các tài liệu học tập hay đồ dùng học tập của lớp.
Để xây dựng góc thư viện phong phú, thực sự là công cụ để tạo cơ hội cho
học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, hiệu quả, đồng thời cung cấp các
nguồn tài liệu khác nhau để học sinh học tập và nghiên cứu, giáo viên cần huy
động xây dựng từ nhà trường, các giáo viên trong trường, từ chính học sinh, gia
đình học sinh và cộng đồng.
Trong các góc học tập và góc thư viện những đồ dùng vật dụng không có
tác dụng cho việc học tập của học sinh đều được đưa ra khỏi để tiện lợi cho việc
sắp xếp, sử dụng vào việc học tập của học sinh. Góc học tập, góc thư viện được sắp
xếp hấp dẫn, là địa chỉ thân quen đồng hành với học sinh của lớp.
Ví dụ: Khi dạy các bài về chủ đề thực vật, để hiểu rõ hơn về các loại rễ
cây( rễ cọc và rễ chùm), tôi cho học sinh sưu tầm các loại rễ cây theo nhóm để bổ
sung vào góc học tập. Trong tiết học , từng nhóm sẽ sử dụng các rễ cây đã sưu tầm
được và phân loại chúng. Như vậy các em vừa được trải nghiệm trực tiếp với các
loại rễ cây, vừa sử dụng kĩ năng phân tích và tư duy. điều đó sẽ giúp cho tiết học
trở nên hứng thú và hiệu quả giáo dục được nâng cao. Ngoài ra , tôi còn trang bị
thêm ở góc học tập các tài liệu in ấn về thực vật để học sinh mở rộng kiến thức.
13


2.3.6. Chú trọng công tác bồi dưỡng đội ngũ hội đồng tự quản, nhóm
trưởng.
Trong lớp học theo mô hình VNEN, hội đồng tự quản, nhóm trưởng có vai

Lồng ghép để dạy kiến thức về tự nhiên xã hội nhiều nhất có lẽ là môn
Tiếng Việt, Hoạt động giáo dục Mĩ thuật, hoạt động giáo dục Đạo đức,... Vì thế,
khi giảng dạy các môn học khác, tôi đã lồng ghép để giúp học sinh nhận thức được
rõ hơn kiến thức tự nhiên xã hội. Ví dụ:
* Đối với Hoạt động giáo dục Mĩ thuật. Giáo viên lồng ghép để giáo dục
học sinh:
- Về chủ đề động vật ( chủ đề 3: Con vật quen thuộc)giúp học sinh nhận ra
một số con vật quen thuộc và vẽ được con vật quen thuộc theo ý thích…
14


- Chủ đề các mùa trong năm( chủ đề 6: “ Bốn mùa”) giúp học sinh nhận ra
được đặc điểm nổi bật của từng mùa trong năm, qua đó sử dụng màu sắc, hình ảnh
cho phù hợp. Chủ đề 8 “Trái cây bốn mùa” của môn mĩ thuật cũng có thể dạy lồng
ghép kiến thức của tự nhiên về chủ đề thực vật. Qua đó giúp cho học sinh nhận ra
hình dáng, màu sắc , tên gọi của một số loại quả, hoa quen thuộc để biết cách vẽ
hoặc tạo dáng loại trái cây đó.
* Đối với môn Tiếng Việt, giáo viên có thể giáo dục lồng ghép: An toàn
giao thông qua bài đọc” Trận bóng dưới lòng đường” ( Bài 7A) , lồng ghép kiến
thức về thành thị hoặc nông thôn( qua bài 16)
* Đối với Hoạt động giáo dục đạo đức, qua bài: “Tích cực tham gia việc
lớp, việc trường”, Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thảo luận để giáo dục các
em về các hoạt động của các em ở trường, giúp cho các em nhận biết những hoạt
động học tập và vui chơi, để các em tích cực hơn khi tham gia các hoạt động đó.
Hoặc qua bài “ Giữ gìn vệ sinh nơi công cộng” , Gv lồng ghép kiến thức về môi
trường tự nhiên như: Cách phân loại rác, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường và
khuyên người khác thực hiện…Qua đó nội dung về tự nhiên xã hội lồng ghép với
giáo dục đạo đức nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.
2.3.8. Tham mưu với Hiệu trưởng tổ chức tốt chức hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp để giáo dục kiến thức tự nhiên và xã hội.

động ứng dụng có các yêu cầu sau: : Em hãy cùng các thành viên trong gia đình
thực hiện thở bằng mũi, không thở bằng miệng và vệ sinh đường thở.”
Vì đây là những bài đầu tiên, nên tôi hướng dẫn các em cách diễn đạt với
người thân sao cho khi các em nói với người thân một cách dễ hiểu nhất. Ví dụ các
em có thể nói: Bố ơi, hôm nay chúng con học về hoạt động thở và cơ quan hô hấp,
con biết được chúng ta cần phải thở bằng mũi, không nên thở bằng miệng. Bây giờ
hai bố con mình cùng thực hiện hít thở nhé!... Hoặc có thể cho học sinh đóng vai
một cuộc nói chuyện giữa học sinh với bố mẹ, để giúp các em tập dượt trước
những câu nói có thể để về nói với cha mẹ.
Khi học sinh tập diễn đạt được trôi chảy một vấn đề, đên những bài học
sau các em sẽ biết cách trình bày vấn đề tốt hơn
2.3.10. Tăng cường các hoạt động gắn kết với “Hòm cam kết”
Hòm cam kết là phương tiện kết nối giữa những kiến thức kĩ năng đã học
được trong nhà trường với thái độ và hành động trong thực tiễn cuộc sống. Nói
cách khác, phương tiện này, giúp hình thành ở học sinh kĩ năng ra quyết định và
thực hiện những hành động cụ thể để cải thiện đời sống thực tế.
Ví dụ: Khi dạy bài 7: cần làm gì để bảo vệ cơ quan thần kinh? Giáo viên
cần tổ chức cho học sinh cam kết bảo vệ cơ quan thần kinh và sức khỏe.
Hay khi dạy bài 15: An toàn khi đi xe đạp. Giáo viên tổ chức cho học sinh
cam kết đi xe đạp đúng quy định giao thông.
Giáo viên trong quá trình dạy học cần tổ chức để Hòm cam kết là nơi trưng
bày những cam kết, nhắc nhở học sinh thực hiện trong thời gian tiếp theo, giúp học
sinh dễ dàng theo dõi , động viên giúp đỡ học sinh hoàn thành theo những gì đã ra
quyết định và cam kết thực hiện.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Trong năm học, tôi đã áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 3A, cuối năm học, kết quả đánh giá 2 lớp
như sau:
Lớp



nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt những hiểu biết của mình về
các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội, biết tự chăm sóc sức khỏe
cho bản thân phù hợp với lứa tuổi.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Dạy học môn Tự nhiên và Xã hội muốn đạt kết quả cao thì trước hết người
giáo viên phải tâm huyết, yêu nghề, nhiệt tình với công tác giảng dạy. Không ngại
khó, ngại khổ. Bản thân cũng luôn phải nỗ lực, cố gắng bồi dưỡng chuyên môn
thường xuyên.
Chuyên môn cần chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên cần đầu tư thích đáng cho
phần khởi động đầu tiết học để đưa vấn đề bài học tiếp cận với học sinh một cách
nhẹ nhàng, tự nhiên và gây hứng thú cho các em.
Vấn đề lựa chọn đối tượng cho học sinh quan sát là vô cùng quan trọng.
Giáo viên cần cố gắng tổ chức cho học sinh quan sát trên vật thật sẽ làm cho học
sinh được tri giác trực tiếp, kiến thức học sinh lĩnh hội sẽ được ghi nhớ lâu hơn.
Trường hợp không thể tổ chức quan sát trên vật thật nên sử dụng tranh, ảnh , mô
hình, các đoạn video sẽ giúp các em chiếm lĩnh kiến thức tốt hơn.
Ngoài ra, cần khuyến khích học sinh dùng những nguồn tài liệu khác nhau
để học, ví dụ nguồn tài liệu từ góc học tập, từ thư viện của lớp, từ cộng đồng (gia
đình, hàng xóm,...). Cần tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợp để
góp phần giáo dục các kĩ năng cho học sinh.
Muốn dạy học môn tự nhiên và Xã hội đạt hiệu quả cao thì cần thiết bồi
dưỡng cho hội đồng tự quản, nhóm trưởng. Bởi nhóm trưởng có vai trò cực kì quan
trọng trong việc điều hành mọi hoạt động học của học sinh theo đúng định hướng
của giáo viên.
Điểm quan trọng khi thực hiện công tác giáo dục là cần cho học sinh hiểu rõ
ràng ý nghĩa của các kiến thức và kĩ năng mình đã học, vì các em được vận dụng
kiến thức, kĩ năng đó có ích lợi gì trong đời sống của các em. Muốn có được điều



DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thu
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên. Trường Tiểu học Thành Tiến.

TT
1.

Tên đề tài SKKN
Một số biện pháp nâng cao
chất lượng dạy học giải toán
có lời văn cho học sinh lớp
1A trường Tiểu học Thành
Tiến

2.

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
Năm học đánh
xếp loại
(Phòng, Sở,
giá xếp loại
(A, B,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status