THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy văn miêu tả cho học sinh
lớp 5
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy trong trường Tiểu học.
3.Tác giả: Họ và tên: Nguyễn Thị Chung Thủy
Ngày tháng/ năm sinh:
Giới tính: Nữ
28-03- 1975
Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Sao Đỏ 1.
Điện thoại: 0972110595
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Sao Đỏ 1
Địa chỉ: Phố Hùng Vương Phường Sao Đỏ- Thị xã Chí Linh.
Điện thoại: 03023882668
5. Các điều kiện để áp dụng sáng kiến:
- Sáng kiến cần sự phối hợp của giáo viên và học sinh lớp 5.
- Cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học: Thư viện, mạng Internet, sách tham khảo,
truyện thiếu nhi…..
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013-2014
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN
CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Chung Thủy
1
+ Đưa ra hệ thống một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn
miêu tả cho học sinh lớp 5.
- Khả năng áp dụng của sáng kiến:
+ Sáng kiến giúp giáo viên và học sinh có định hướng cụ thể hơn về việc dạy văn miêu
tả trong chương trình lớp 5.
+ Sáng kiến có thể áp dụng cho học sinh lớp 5.
4. Giá trị đạt được của sáng kiến.
- Qua một năm giảng dạy và áp dụng những biện pháp của sáng kiến, tôi thấy chất
lượng làm văn của học sinh lớp tôi đã được nâng lên rõ rệt. Từng bước khắc phục
những khó khăn của học sinh.
- Các em nói, viết được những đoạn văn, bài văn đúng với yêu cầu của chương trình.
- Các em say mê, ham thích đọc và nghe các tác phẩm văn học, mong muốn học cách
diễn đạt chuẩn mực, tinh tế các tác phẩm văn học vận dụng vào việc bày tỏ ý nghĩ và
tình cảm của mình trong bài văn thật tự nhiên và sâu sắc.
- Qua các bài làm văn, các em đã bộc lộ được vốn sống thực tế của mình để viết được
bài văn hay, từ đó tạo điều kiện cho các em cảm nhận được vẻ đẹp của thơ văn một
cách tinh tế và sâu sắc.
5. Kiến nghị.
+ Giảm sĩ số trong mỗi lớp.
+ Trang bị các phương tiện như: ti vi, bàn ghế, … cho các phòng học để giáo viên thực
hiện nhiệm vụ giáo dục áp dụng phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh một
cách có hiệu quả.
3
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
em hầu như chỉ diễn đạt được nội dung. Câu văn chỉ mang tính chất thông báo chứ
chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc. Đây là điều tất nhiên, vì ở lứa tuổi này vốn sống
và vốn kiến thức của các em còn hạn hẹp. Đứng trước thực tế đó, tôi rất băn khoăn và
trăn trở: “ Làm thế nào để giúp các em viết được bài văn hay?
Để làm được điều này, từ những ngày đầu tiên nhận nhiệm vụ giảng dạy lớp 5, tôi đã
dùng mọi khả năng và kinh nghiệm của mình để khơi dậy những tiềm năng văn học
đang ẩn giấu trong mỗi học sinh. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày
“ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 5”.
2. Cơ sở lí luận:
2.1.Vị trí, nhiệm vụ và yêu cầu của phân môn Tập làm văn
Những lời được chúng ta nói hoặc viết ra khi giao tiếp với nhau được gọi là ngôn bản.
Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn bản. Nó có vị trí đặc
biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ, bởi vì: Thứ nhất, đây là phân môn sử dụng và
hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng Tiếng Việt mà các phân môn
Tiếng Việt khác - Học vần, tập viết, chính tả, tập đọc, luyện từ và câu- đã hình thành.
Thứ hai, phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó
Tiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở
thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Như vậy phân môn Tập làm văn đã thực hiện
mục tiêu cuối cùng , quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng
được Tiếng Việt để giao tiếp, tư duy và học tập.
Trong phân môn Tập làm văn, văn miêu tả chiếm vị trí rất quan trọng. Dạy và học tốt
văn miêu tả giúp học sinh biết quan sát, tìm tòi và phát hiện những điều hay, điều mới
mẻ, thú vị về thế giới xung quanh. Qua những quan sát đó các em truyền được những
cảm xúc của mình vào đối tượng miêu tả, biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu
cảm, viết được những câu văn sáng rõ về nội dung và chân thực về tình cảm.
Văn miêu tả được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay là bài
văn mà khi đọc, chúng ta thấy được trước mắt mình con người, cảnh vật, đồ vật,… rõ
5
- Kĩ năng xác định tư tưởng của bài viết.
* Giai đoạn lập chương trình
- Kĩ năng tìm ý( thu thập tài liệu cho bài viết)
- Kĩ năng lập dàn ý bài văn đã cho ( hệ thống hóa, lựa chọn tài liệu)
* Giai đoạn hiện thực hóa chương trình:
- Kĩ năng diễn đạt ( dùng từ đặt câu) thể hiện chính xác, đúng đắn phong cách bài
văn, tư tưởng bài văn.
- Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo phong cách khác nhau ( miêu tả, kể chuyện, viết
thư…)
- Liên kết các đoạn thành bài văn.
* Giai đoạn kiểm tra văn bản mới hoàn thành.
+ Kĩ năng hoàn thiện bài viết( phát hiện và sửa chữa lỗi)
3. Thực trạng của việc dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 5 ở trường tiểu
học:
- Trong những năm học vừa qua, tôi được nhà trường phân công dạy lớp 5. Qua quá
trình giảng dạy và qua việc dự giờ để học tập chuyên môn ở các đồng nghiệp. Tôi nhận
thấy việc làm văn miêu tả ở lớp 5 còn gặp một số khó khăn hạn chế :
3.1.Về phía giáo viên.
Dạy Tập làm văn nói chung và dạy văn miêu tả nói riêng là một việc khó đối với bất
kì giáo viên nào. Trong quá trình giảng dạy, hai thái cực thường xảy ra:
- Một số giáo viên hướng dẫn chung chung để học sinh tự mày mò làm bài.
- Hướng dẫn học sinh học theo văn mẫu, để mỗi khi có bài kiểm tra học sinh chỉ việc
sao chép.
Những cách làm trên đều khiến học sinh không biết làm văn, rất ngại học văn và làm
thui chột tư duy văn học của các em dù tình yêu văn học vẫn có ( Ví dụ các em rất thích
đọc truyện, thích quan sát thiên nhiên…) Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, một
phần là do trình độ nhận thức, năng lực sư phạm của giáo viên, cũng có thể chính ngay
7
Lớp
5B
Số HS
35
Điểm Giỏi
SL
13
TL%
37.1
Điểm Khá
SL
10
TL%
28.6
Điểm TB
SL
11
TL%
31.4
dung, không có gì để nói, để viết về cái đó, Nguyên nhân của tình trạng trên là việc thiếu
hụt vốn sống, vốn cảm xúc. Vì vậy phải bồi dưỡng vốn sống cho các em. Trước hết đó là
9
vốn sống trực tiếp. GV cho các em quan sát bằng nhiều giác quan những gì các em sẽ
viết.
Để tả con đường từ nhà đến trường, học sinh cần quan sát một con đường cụ thể
bằng các giác quan khác nhau và có những ghi chép cụ thể những điều đã quan sát
trước khi tả con đường đó. Hoặc GV tổ chức cho các em tham quan một danh lam
thắng cảnh của địa phương trước khi yêu cầu các em tường thuật một buổi tham quan.
Cần tổ chức tốt quá trình quan sát, tham quan thực tế của HS. Khi HS tham quan hoặc
quan sát, GV nên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo nguồn cảm hứng, khơi dậy suy
nghĩ trong các em. Sau khi các em đã quan sát, làm quen với đối tượng rồi thì cần
phải viết những bài cụ thể về những gì đã quan sát được, những gì đã được tham
quan. Bên cạnh đó , giáo viên cần xây dựng cho học sinh có hứng thú và thói quen
đọc sách. Làm cho sách trở thành một “ sự tôn sùng” ngự trị trong tâm hồn các em,
làm cho sách trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu, phải làm cho học sinh
thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống đầy đủ
và phát triển, đó sẽ là điều kiện các em yêu thích học văn, viết văn. Đọc sách cũng
làm các em phong phú vốn từ, có chất liệu cần thiết để giúp các em viết tốt một bài
văn. Chúng ta cũng cần cho các em lập “ Sổ tay văn học” để ghi nhớ những từ ngữ
hay, những hình ảnh đẹp, những câu văn, đoạn thơ mà các em yêu thích hoặc những
điều mà các em cảm nhận được. Đó là những chất liệu cần thiếu giúp các em làm văn
hay hơn. Như người xưa nói: “Trong bụng chưa có ba vạn quyển sách, trong mắt
chưa có núi sông kì lạ của thiên hạ thì chưa học được văn” .
4.2 Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học:
Cảm thụ văn học là một quá trình hoạt động nhận thức thẩm mĩ rất đặc biệt, phức
tạp và có tính sáng tạo. Quá trình cảm thụ văn học là quá trình nhận thức cái đẹp được
chứa đựng trong thế giới ngôn từ - hệ thống hoá tín hiệu thứ hai của loài người. Quá
tỏ, lúc thấp lúc cao. Những cảm nhận đó giúp học sinh thấy được hình ảnh sắc đó của
hoa lựu như sắc lửa khi ẩn khi hiện báo hiệu không khí oi bức của mùa hè đang đến
gần.
11
Nắm vững kiến thức ngữ pháp tiếng Việt, HS sẽ không thể chỉ nói- viết tốt mà còn
có thể cảm nhận được nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt sinh động
và sáng tạo.
Khi tìm hiểu một văn bản trên lớp, để tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của bài văn, bài thơ,
cảm thụ văn học tốt hơn GV cần hướng dẫn về một số biện pháp nghệ thuật tu từ thuộc
yêu cầu chương trình lớp 5 như: so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, đảo ngữ…Để làm được
bài văn về cảm thụ văn học đạt kết quả tốt GV cần hướng dẫn HS thực hiện những việc
sau:
- Đọc kỹ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập( phải trả lời được điều gì? Cần nêu bật
được ý gì?...)
- Đọc và tìm hiểu về câu thơ, câu văn hoặc đoạn trích được nêu trong đề bài.
- Viết đoạn văn về cảm thụ văn học hướng vào yêu cầu của đề bài.
Nắm vững yêu cầu về cảm thụ văn học, kiên trì rèn luyện từng bước, nhất định các
em sẽ viết được những đoạn văn hay về cảm thụ văn học, sẽ có được năng lực cảm thụ
văn học tốt để phát hiện biết bao điều đáng quý trong văn học và trong cuộc sống của
chúng ta.
4.3.Cung cấp thêm một số vốn từ ngữ theo chủ đề:
Chương trình Tiếng Việt có các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu,
TLV làm cơ sở để các em học tốt phân môn TLV. Tuy nhiên nội dung SGK Tiếng Việt
thường không đáp ứng được. Đối chiếu SGK Tiếng Việt 4, 5 ta thấy: Khi dạy một thể
loại TLV thì nội dung của phân môn Tập đọc, Từ ngữ tương ứng nhằm cung cấp cho
HS vốn từ ngữ học thể loại này là rất ít. Tất nhiên chúng ta đều biết rằng vốn từ ngữ
của các em được tích luỹ từ lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo và cả suốt những năm đầu ở bậc
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?
Sau khi tìm ý, sắp xếp ý theo một trình tự hợp lí để thuyết trình về vấn đề nêu ra trong
đề bài, HS có thể chọn từ, tạo câu để triể khai các ý cần nói thành một đoạn văn và liên
kết các đoạn thành bài thuyết trình ngắn như sau:
13
Theo em trong cuộc sống, cả đèn lẫn trăng đều rất cần thiết đối với con người. Nếu
chỉ có đèn mà không có trăng thì khi đèn bị gió thổi tắt, trái đất sẽ tối tăm, con người
khó làm việc được, cuộc sống rất buồn tẻ. Nếu chỉ có trăng mà không có đèn thì nhiều
khi trên trái đất sẽ rất tối vì trăng chỉ sang một số ngày trong tháng và có lúc trăng bị
mây che khuất…Trăng toả sáng trên trái đất làm cho mọi vật thêm tươi đẹp, cuộc sống
thêm vui. Đèn gần gũi, soi sáng cho con người học tập, làm việc và cũng làm cho cuộc
sống thêm đẹp. Do vậy, cả trăng và đèn đều cần thiết đối với cuộc sống con người.
- Lắng nghe ý kiến đóng góp của bạn bè, cô giáo, thầy giáo để tự kiểm tra, đối chiếu
văn bản nói của bản than với mục đích giao tiếp và yêu cầu diiễn đạt; biết sửa lỗi về nội
dung, hình thức diễn đạt.
- Tổ chức cho học sinh nhập vai các câu chuyện, đọc diễn cảm, trao đổi, tranh luận…
để tự tìm ra những thông điệp mà văn bản muốn gửi gắm, từ đó rút ra bài học như thế
học sinh sẽ chủ động tiếp cận vấn đề.
Quan tâm rèn luyện kĩ năng nói cho HS theo những yêu cầu trên, GV vừa giúp các
em nâng cao năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ, phát triển tư duy, vừa tạo điều kiện cho
kĩ năng viết phát triển tốt.
* Rèn luyện kĩ năng viết:
Dựa vào yêu cầu bài tập (hay đề bài) để viết một đoạn văn (hay bài văn), HS
có thời gian suy nghĩ, tìm cách diễn đạt( dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp so
sánh, nhân hoá,…) thuận lợi hơn làm văn nói. Tuy nhiên, HS cũng cần đạt được những
yêu cầu rèn luyện về kĩ năng sản sinh văn bản ở mức cao hơn, lời văn viết vừa cần rõ ý
5.1 Dạy học thực nghiệm:
Với các biện pháp đã áp dụng như trên tôi đã tiến hành soạn giảng trong các tiết
học Tập làm văn và tiết Tiếng Việt tăng ( có phụ lục kèm theo). Sau quá trình áp dụng
tôi đã cho lớp làm bài kiểm tra với đề bài:
Đề bài: Tả một cảnh đẹp ở quê hương em.
Sau đây là kết quả đối chứng chất lượng làm văn đầu năm và cuối năm học 20132014 của lớp tôi như sau.
15
5.2. Kết quả đối chứng đầu năm và cuối năm học 2013-2014
Khảo
Sĩ số
Điểm
Điểm
Điểm
Điểm
Điểm
sát
Đầu
h/s
35
năm
- Qua một năm giảng dạy và áp dụng những biện pháp trên tôi thấy chất lượng làm văn
của học sinh lớp tôi đã được nâng lên rõ rệt. Từng bước khắc phục những khó khăn đã
nêu ở trên.
Các em nói, viết được những đoạn văn, bài văn đúng với yêu cầu của chương trình.
- Các em say mê, ham thích đọc và nghe các tác phẩm văn học, mong muốn học cách
diễn đạt chuẩn mực, tinh tế các tác phẩm văn học vận dụng vào việc bày tỏ ý nghĩ và
tình cảm của mình trong bài văn thật tự nhiên và sâu sắc.
- Qua các bài làm văn, các em đã bộc lộ được vốn sống thực tế của mình để viết được
bài văn hay, từ đó tạo điều kiện cho các em cảm nhận được vể đẹp của thơ văn một
cách tinh tế và sâu sắc.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng:
- Đề tài này có thể áp dụng vận dụng trong quá trình dạy tập làm văn cho mọi đối
tượng học sinh lớp 5 trong các nhà trường đều có thể tham khảo.
16
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu đề tài, tôi khẳng định mục đích nghiên cứu đặt ra đã hoàn
tất. Trong quá trình nghiên cứu, tôi rút ra một số kết luận sau:
- Để nâng cao chất lượng dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 5, trước tiên giáo viên phải
vững về kiến thức, kĩ năng thực hành Tiếng Việt, có vốn sống, vốn cảm xúc phong phú.
- Thực sự yêu nghề, tâm huyết với nghề.
- Thường xuyên trau dồi, học hỏi kiến thức, đọc sách báo để ngày càng làm phong phú
thêm vốn kiến thức của mình.
- Có phương pháp nghiên cứu bài, soạn bài, ghi chép giáo án một cách khoa học.
- Giáo viên phải là người khơi dậy sự say mê hứng thú đối với việc học văn và làm văn,
luôn phối hợp với gia đình để tạo điều kiện tốt nhất cho các em học tập.
thực hiện nhiệm vụ giáo dục áp dụng phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh
một cách có hiệu quả.
+ Thường xuyên mở các buổi hội thảo, nói chuyện chuyên đề với các chuyên gia về
dạy và học Tập làm văn để giáo viên được tiếp xúc, học hỏi kinh nghiệm trong công tác
giảng dạy.
+ Trong các kỳ hội giảng, hội thi nên khuyến khích giáo viên dạy Tập làm văn để trao
đổi tìm ra phương pháp hay.
+ Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường: Trang bị những phương tiện
thông tin hiện đại, máy tính nối mạng Internet để giáo viên có thể tra cứu, tìm các
thông tin phục vụ cho bài dạy.
* Đối với Ban giám hiệu nhà trường:
+ Tăng cường đầu sách trong thư viện để giáo viên có đủ tư liệu tham khảo phục vụ
cho giảng dạy nhất là các tạp chí: Giáo dục tiểu học, Thế giới trong ta,... các sách tham
khảo chuyên sâu về Tiếng Việt hoặc sách chuyên sâu về phân môn Tập làm văn.
+ Nâng cao hiệu quả các giờ sinh hoạt chuyên môn, khuyến khích giáo viên đầu tư
trao đổi kế hoạch bài học, cùng thống nhất soạn giáo án tập thể để phát huy sở trường
của từng cá nhân và sức mạnh của cả tập thể.
18
+ Hàng năm thường xuyên tổ chức cho giáo viên và học sinh đi thăm quan du lịch để
nâng cao hiểu biết về cảnh vật, đất nước và con người Việt Nam.
Trên đây là một số suy nghĩ tìm tòi của tôi trong quá trình dạy học sinh học tập làm
văn . Do không có nhiều thời gian nghiên cứu và trình độ, kinh nghiệm có hạn nên
những vấn đề nêu trên không khỏi có sai sót. Tôi mong nhận được những góp ý, phê
bình của Ban giám hiệu nhà trường, của các bạn đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh
nghiệm trong quá trình dạy học ngày một tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
19
5. Kết quả đạt được
6. Điều kiện để áp dụng sáng kiến.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
17
18
19
1. Kết luận
19
2.Kiến nghị
20
21
Giáo án 1
TẬP LÀM VĂN
LUYỆN TẬP TẢ CẢNH
I. Mục tiêu:
1. Biết lập dàn ý cho bài văn miêu tả cảnh đẹp ở địa phương đủ 3 phần: Mở bài, thân
bài, kết bài.- Một dàn ý với các ý riêng của mỗi học sinh.
2. Biết chuyển một phần trong dàn ý đã lập thành đoạn văn hoàn chỉnh (thể hiện rõ đối
tượng miêu tả, trình tự miêu tả, nét đặt sắc của cảnh, cảm xúc của người tả đối với
cảnh).
3. Giáo dục học sinh ý thức được trong việc viết bài văn miêu tả thể hiện được nét đặc
sắc của cảnh, tả chân thực, không sáo rỗng.
đó tập chuyển một phần trong dàn ý thành
đoạn văn hoàn chỉnh.
2. Hướng dẫn luyện tập:
Giáo viên cho học sinh xem băng hình về Học sinh xem băng hình.
cảnh đẹp ở địa phương.(Thời gian: 3 phút)
- Các em vừa xem cảnh đẹp gì?
Học sinh phát biểu.
- Em chọn cảnh nào để miêu tả?
Học sinh phát biểu.
Bài 1: Lập dàn ý miêu tả cảnh đẹp ở địa
phương em.
Một học sinh đọc yêu cầu bài.
Giáo viên treo bảng phụ ghi: bài văn tả Một học sinh đọc cấu tạo bài văn tả
cảnh thường ba phần:
cảnh.
a. Mở bài: Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ
tả.
b. Thân bài: Tả từng phần của cảnh hoạt
sự thay đổi theo thờ gian.
c. Kết bài: Nêu nhận xét hoặt cảm nghĩ của
người viết.
Em có nhận xét gì về bài làm của bạn?
(Mỡ bài,Thân bài, Kết bài)…
Em thích nhất chi tiết nào?
Em có cần bổ sung hay cần sửa chi tiết
nào?
- Giáo viên đánh giá và nhận xét.
c)Giáo viên treo bảng phụ trên bảng lớp
(cảnh sông Kinh Thầy )
Em có nhận xét gì về bài làm của bạn?
(Mỡ bài,Thân bài, Kết bài)…
Em thích nhất chi tiết nào?
Học sinh phát biểu.
Em có cần bổ sung hay cần sửa chi tiết
nào?
- Giáo viên đánh giá và nhận xét.
Các em đã có những ý tưởng, những
bước phát thảo về cảnh đẹp để chuyển
những ý tưởng, những bước phát thảo
thành đoạn văn. Chúng ta cùng làm bài tập
2
Bài 2: Dựa theo dàn ý đã lập, hãy viết một Một học sinh đọc yêu cầu bài tập 2.
24
đoạn văn miêu tả cảnh đẹp ở địa phương Hai học sinh đọc nối tiếp.
em.
- Gọi học sinh đọc gợi ý (SGK trang 81).
chín.
đoạn văn.
- Câu mở đầu có nêu ý bao trùm cả đoạn
Học sinh 1 phát biểu.
không?
Đoạn văn có hình ảnh không?
Học sinh 2 phát biểu.
(Giáo viên có sửa chữa)
Giáo viên đánh giá và nhận xét.
Học sinh 3 phát biểu.
Treo bảng phụ (Cảnh công viên)
Nhận xét đoạn văn miêu tả cánh công
Học sinh 1 phát biểu.
viên.
Học sinh 2 phát biểu.
25