SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 5
Người thực hiện: Mai Thị An
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Đông Sơn- TX Bỉm Sơn
SKKN thuộc lĩnh vực : Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2013
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước đang tiến lên trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế đòi hỏi sự nghiệp giáo dục cũng cần có nhiều thay đổi để đào tạo ra
những con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn
đề thường gặp, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
văn minh.
Vì vậy, phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện
và phát triển ở người học khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng
tạo ngay từ khi đang học tập ở nhà trường, đặc biệt là rèn luyện cho các em khả
năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống
khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, giúp các em có niềm vui, hứng thú
trong học tập.
Trong tư thế chung đó, việc đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập đọc
là rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn bởi vì phân môn tập đọc có vị trí đặc biệt
trong chương trình tiểu học, nó đảm nhiệm quá trình hình thành và phát triển cho
học sinh kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc học đầu
tiên trong nhà trường phổ thông. Đầu tiên học sinh phải đọc, sau đó đọc để học.
Đọc giúp các em chiếm lĩnh một số ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập, tạo
điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập: học, học nữa, học
mãi – một khả năng không thể thiếu của con người thời đại mới.
dung bài đọc để cảm nhận cái hay, cái đẹp từ tác phẩm văn chương? Làm thế nào
để rèn các kĩ năng đọc cho học sinh một cách tốt nhất? Đó là băn khoăn, trăn trở
không những của các nhà quản lí chuyên môn mà của rất nhiều giáo viên – những
người đang trực tiếp giảng dạy.
Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy
học phân môn tập đọc hiện nay, tôi đã nghiên cứu tìm ra biện pháp rèn các kĩ năng
đọc góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập đọc lớp 5 và đã có hiệu
quả nhất định.
II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1. Thực trạng
1.1 Thực trạng chung
* Về giáo viên: Thực trạng dạy học tập đọc lớp 5 ở nhà trường hiện nay cho thấy:
- Hai nhiệm vụ dạy học tập đọc chưa được giáo viên quan tâm đúng mức. Nhiều
giờ tập đọc thiên về rèn đọc thành tiếng, nhiều giờ thiên về cảm thụ văn (đọc hiểu) ,
không ít giờ tập đọc ở phần tìm hiểu bài lại được giáo viên chuyển thành giờ giảng
văn (quá đi sâu vào đọc hiểu), ít thay đổi hình thức trong giờ học.
- Việc hướng dẫn đọc cho học sinh còn mang nặng tính hình thức , chung
chung ít chú ý đến cái chi tiết, cái cụ thể. Việc phối kết hợp rèn các kĩ năng đọc
thành tiếng và đọc hiểu để chúng phát huy tác dụng hỗ trợ cho nhau còn hạn chế.
Giáo viên chưa linh hoạt trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi, còn phụ thuộc vào
sách.
- Việc lập kế hoạch dạy học còn mang nặng tính hình thức, đối phó, còn rập
3
khuôn máy móc theo một quy trình có sẵn cho tất cả các dạng bài.
* Về học sinh: Học sinh đã quen với cách học ở lớp dưới nên chủ yếu chỉ chú ý
đến rèn đọc sao cho đúng, chưa chú ý đến tốc độ, ngữ liệu, cách đọc sao cho hay.
- Một số học sinh chưa có ý thức học tập, ít có sự phấn đấu.
- Một số học sinh kĩ năng đọc yếu so với mức độ yêu cầu tối thiểu của khối
lớp 5 nên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giờ học.
- Kĩ năng đọc diễn cảm còn yếu.
- Kĩ năng đọc diễn cảm của học sinh còn quá yếu so với mục tiêu đọc diễn
cảm ở lớp 5.
- Đối với đọc thuộc lòng, học sinh chỉ thiên về hướng dẫn ghi nhớ máy
móc, ít chú ý đến ghi nhớ logic (ghi nhớ có ý nghĩa), ghi nhớ các từ “chìa khóa”
thể hiện nội dung bài để rèn ghi nhớ sâu…
* Nguyên nhân: Giáo viên chưa quan tâm đúng mức tới việc rèn kĩ năng đọc thành
tiếng cho học sinh ở các mức độ của nó.(đọc đúng; đọc trôi chảy, lưu loát; đọc diễn
cảm).
- Giáo viên hướng dẫn nhưng chưa cụ thể và rõ ràng ở mức độ của kĩ năng
đọc thành tiếng (ví dụ: cách ngắt giọng biểu cảm, ngắt giọng logic phải căn cứ vào
đâu? Ngắt như thế nào là hợp lí, những từ nhấn giọng là những từ như thế nào?)
dẫn đến học sinh khó xác định điểm ngắt giọng nhất là đối với học sinh trung bình.
Do học sinh không hiểu sâu nên giọng đọc không thay đổi linh hoạt cho phù
hợp với nội dung từng đoạn dẫn đến đọc không hay, không thể hiện được ý nhĩa
nội dung văn bản, dụng ý mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc.
- Kĩ năng học thuộc lòng chậm và rất nhanh quên do các em thường đọc vẹt.
1.2.2. Dạy đọc – hiểu: Một trong những kĩ năng đọc hiểu văn bản là đọc thầm. Dạy
đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, dạy đọc – hiểu. Qua thực trạng dạy đọc -hiểu
hiện nay tôi thấy:
* Về giáo viên: Qua các giờ tập đọc, tôi thấy giáo viên chưa chú trọng nhiều đến
rèn kĩ năng đọc thầm cho học sinh, nhiều khi yêu cầu học sinh đọc thầm nhưng
không có mục đích, không kiểm tra tốc độ đọc của học sinh nên đã không phát huy
được ưu thế của nó trong việc tìm hiểu và nắm nội dung bài.
Giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài qua hệ thống câu hỏi cuối bài
với cách dạy đồng loạt và chủ yếu sử dụng phươn pháp hỏi đáp trong quá trình tìm
hiểu bài. Thầy nêu câu hỏi – trò trả lời, sau đó thầy giảng cứ như vậy gây ra sự
nhàm chán. Nhiều câu hỏi dài với nhiều yêu cầu nhưng giáo viên không tách ra
thành nhiều ý nên học sinh khó hiểu.
* Về học sinh.
- Các em chưa có kĩ năng đọc thầm để hiểu bài theo đúng nghĩa của nó, kĩ
2, Kết quả thực trạng:
2.1. Tháng 9 năm học 2012, tôi đã tiến hành điều tra, dự giờ và thực hành dạy ở lớp
5B Trường Tiểu học Đông Sơn (theo cách dạy như trong thực trạng đã nêu trên).
Sau đó tôi tiến hành khảo sát chất lượng, cụ thẻ như sau:
Sau khi học sinh lớp 5B, tôi dạy thực nghiệm này học xong bài “ Bài ca trái
đất”( Tập đọc lớp 5 - tiết 8) tôi đã cho học sinh kiểm tra hai nội dung:
Ví dụ:
Phần một: Đọc thành tiếng đối với học sinh khá, giỏi đọc cả bài, học sinh trung
bình đọc hai khổ thơ còn học sinh yếu đọc một khổ thơ.
Phần hai: Đọc - hiểu
Câu 1: Nối khổ thơ với ý nghĩa của nó cho phù hợp.
a. Khổ thơ thứ nhất Cần giữ cho trái đất bình yên (1)
b. Khổ thơ thứ hai Trái đất thật là tươi đẹp (2)
c. Khổ thơ thứ ba Mọi người trên trái đất đều đáng quí (3)
6
Câu 2: Câu thơ “ Màu hoa nào cũng quý cũng thơm!” trong khổ thơ thứ hai nói
gì? Chọn câu trả lời đúng nhất.
a. Tất cả các loài hoa đều đẹp, đều đáng quý.
b. Con người ở tất cả các màu da đều đẹp.
c. Trẻ em trên thế giới dù khác màu da đều đáng yêu đáng quý.
Câu 3: Hình ảnh “Tiếng hát, tiếng cười” có ý nhĩa gì? Chọn câu trả lời đúng nhất.
a. Trái đất hòa bình.
b. Con người sống bình yên vui vẻ.
c. Trái đất hòa bình, con người sống bình yên vui vẻ.
Câu 4: Chúng ta phải làm gì để giữ bình yên cho trái đất?
* Cách đánh giá:
Phần 1: Đọc thành tiếng (5 điểm)
- Đọc đúng (sai không quá 4 tiếng) (1,5 điểm).
- Đọc lưu loát, trôi chảy bài thơ, ngắt nghỉ hơi giữa các dòng thơ, cụm từ;
nhấn giọng ở các từ, gợi tả, gợi cảm. (1,5 điểm)
Học sinh đọc thuộc lòng theo sự ghi nhớ máy móc, nên nhiều khi nhầm lẫn
giữa các đoạn.
* Về đọc - hiểu:
- Phần bài tập trắc nghiệm vẫn có một số em làm sai, do hiểu bài không sâu.
- Phần bài tập tự luận: Đa số học sinh diễn đạt dài dòng chủ yếu là nêu lại
nguyên văn, không tóm tắt ý theo cách hiểu của mình.
Học sinh tiếp nhận trí thức bằng hình thức bên ngoài, ít hiểu sâu bản chất bên
trong nên khả năng cảm thụ văn còn kém ngay cả đối tượng học sinh khá giỏi.
*Nguyên nhân:
Giáo viên chưa chú ý nhiều đến rèn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc, cách
nhấn giọng và cách ngắt giọng hợp lí theo logic và theo giá trị biểu cảm.
Hình thức và phương pháp dạy học: giáo viên chưa linh hoạt trong việc đổi
mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Đối tượng học sinh yếu, trung bình
ít được hoạt động.
Thời gian dành cho luyện đọc diễn cảm ít nên phần đọc diễn cảm có ít em
được thể hiện đọc trước lớp, chỉ chủ yếu là học sinh khá giỏi.
Phần tìm hiểu bài, giáo viên nói và giảng hơi nhiều (sợ học sinh không hiểu)
Chưa phát huy được tính tích cực trong học tập, chưa huy động vốn kiến thức tổng
hợp của nhiều học sinh.
Qua thực trạng dạy học tập đọcvà qua kiểm tra kĩ năng đọc thành tiếng, đọc
hiểu của học sinh tôi nhận thấy: Các kĩ năng đọc của học sinh còn chưa tốt, nhất là
kĩ năng đọc diễn cảm, khả năng hiểu bài chưa sâu, các giờ học chưa thực sự phát
huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh…Để khắc phục tồn tại trên,
giúp các em học tốt hơn, tôi đã nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy và tìm ra
“ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập đọc lớp 5” để
giúp học sinh rèn các kĩ năng đọc tốt hơn, đảm bảo mục tiêu giờ tập đọc. Tôi xin
mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm của bản thân khi dạy phân môn tập đọc cho
học sinh lớp 5.
PHẦN II : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
giáo viên cần chú ý thay đổi hình thức học (cá nhan, nhóm, cặp, cả lớp). Đối với
những câu hỏi mở, những câu hỏi có nhiều hướng trả lời, câu hỏi tổng hợp nhiều
kiến thức, giáo viên nên sử dụng hình thức học nhóm để các em phối hợp, bổ sung
hoàn chỉnh câu trả lời đúng, điều đó cũng có nghĩa là giúp các em huy động vốn
kiến thức của nhiều người tạo sự đoàn kết trong học tập.
5. Khi dạy, giáo viên cần tuân theo các nguyên tắc dạy học tập đọc đặc biệt
là tính vừa sức và phát huy tính tích cực của học sinh, luôn tạo ra sự hứng thú kích
thích sự tìm tòi và đòi hỏi sự cố gắng phấn đấu cao của mỗi học sinh.
6. Phải phối hợp rèn kĩ năng đọc cho học sinh qua 2 hình thức đọc vì: Tập
đọc là phân môn thực hành và hai nhiệm vụ quan trọng nhất trong dạy tập đọc là
hình thành năng lực đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, đọc trôi chảy), đọc có
ý thức (thông hiểu nội dung) và đọc diễn cảm. Bốn kĩ năng đọc hình thành trong
hai hình thức đọc thành tiếng và đọc hiểu. Chính vì vậy mà khi dạy học tập đọc
9
giáo viên phải chú ý rèn luyện đồng thời cả hai hình thức đọc này. Sự hoàn thiện
một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác. Đọc
đúng là tiền đề của đọc nhanh, cũng cho phép thông hiểu nội dung văn bản.
7. Khi rèn kĩ năng đọc cho học sinh thông qua 2 hình thức này thường được
thực hiện đồng thời: Chẳng hạn, trong lúc bạn hay thầy (cô) đọc thành tiếng, học
sinh khác theo dõi nghĩa là các em đã sử dụng kĩ năng đọc thầm, để trả lời câu hỏi
của giáo viên nêu ra, cần có “lệnh” và yêu cầu cụ thể để rèn cho học sinh có thói
quen đọc thầm từng câu, đoạn, hay cả bài có mục đích.
8. Rèn đọc thuộc lòng phải đạt được mục tiêu tích lũy trí thức và rèn kĩ năng
nhớ cho học sinh nhưng giáo viên cần lưu ý rèn cho học sinh sự ghi nhớ có ý thức
kết hợp ghi nhớ máy móc và ghi nhớ logic, tuyệt đối tránh rèn học thuộc lòng qua
một mình sự ghi nhớ máy móc.
9. Chuẩn bị chu đáo cho tiết dạy, từ bước chuẩn bị cho đến tiết thực hiện trên
lớp. Thường xuyên tự đánh giá hiệu quả của giờ dạy của bản thân qua chính kết
quả, chất lượng học tập của học sinh trong mỗi tiết để phát huy điểm mạnh, khắc
phục những hạn chế từ đó mà điều chỉnh phương pháp cũng như hình thức tổ chức
không sót tiếng. Đọc đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính
âm. Đọc đúng bao gòm việc đọc đúng các âm, các thanh, nghỉ ngắt hơi đúng chỗ
(đọc đúng ngữ điệu) (đọc đúng bao gồm một phần của đọc diễn cảm)
2.1.1. Rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng Việt:
- Đọc đúng các phụ âm đầu: Ví dụ có ý thức phân biệt để đọc đúng các tiếng
có âm tr/ch, r/d/gi, s/x…
- Đọc đúng các chính âm: Chẳng hạn các em cần có ý thức phân biệt âm
chính để không đọc “mua rượu” thành “mua riệu”, “củ kiệu” thành “củ kiu”…
- Đọc đúng các thanh.
Ví dụ: Khi đọc bài Người công dân số Một (TV5 – tập II) cần hướng dẫn học sinh
đọc đúng đủ các tiếng, từ chỉ tên người và tên địa lí…như: phắc – tuya, Sa-xơ-lu
Lô- ba, Phú Lãng Sa, tọa đăng…
* Rèn đọc đúng bao gồm việc rèn đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi. Hướng dẫn
học sinh: cần phải dựa vào nghĩa vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt
hơi cho đúng, không được ngắt tùy tiện theo cảm hứng của các nhân:
- Khi đọc, không được tách một từ ra làm hai: chẳng hạn không được tách từ:
(bệnh viện, ngây thơ, truyền thuyết)
Ví dụ: Không ngắt hơi “Nằm trong bệnh / viện nhẩm đếm từng ngày còn lại của
đời mình, cô bé ngây / thơ tin vào một truyền / thuyết nói rằng…” (bài Những con
sếu bằng giấy TV5)
- Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm, ví dụ không đọc:
… Đến Việt Nam
Để đốt những nhà thương, trường học
Giết những con / người chỉ biết yêu thương
(Ê- mi- li, con Tố Hữu – TV5)
- Không tách từ “là” với danh từ, từ chỉ quan hệ đi liền sau nó, ví dụ không
đọc:
Trái đất này là / của chúng ta.
Ta là / nụ là / hoa của đất. (Bài ca trái đất – TV5)
+ Hướng dẫn học sinh cần dựa vào nghĩa và quan hệ cú pháp để ngắt nhịp cho
2.2.1. Đọc thanh: (Còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy), không phải là đọc liến
thoắng. Đọc thanh là nói đến chất lượng đọc về tốc độ nên đặt ra ngay từ khi các
em luyện đọc đúng.
2.2.2. Biện pháp luyện đọc nhanh:
+ Giáo viên giúp học sinh hiểu rõ;
- Tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức bài đọc.
- Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi nó không tách rời việc đọc với việc hiểu
rõ điều được đọc.
- Cần rèn cho học sinh khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác
định tốc độ đọc nhanh nhưng để cho người nghe hiểu kịp. Vì vậy, đọc nhanh không
phải là đọc luyến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành
tiếng trùng với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ sẽ nhanh hơn nhiều.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh làm chủ tốc độ bằng cách:
- Nghe bạn đọc, nhận xét và rút kinh nghiệm.
- giáo viên đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc
nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp
đọc. Khi đọc tiếp nối bạn trên lớp, đọc thầm nên cần có sự kiểm tra của giáo viên
,của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc cho phù hợp.
12
+ Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng cho trước và
dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. (Tốc độ như thế nào còn phụ thuộc vào độ khó
của bài đọc), từ đó điều chỉnh tốc độ đọc cho học sinh một cách hợp lí.
2.3. Luyện đọc diễn cảm.
2.3.1. Đọc diễn cảm:
Đọc diễn cảm là dùng ngữ điệu tái hiện cảm xúc của tác giả. Đó là việc đọc
thể hiện kĩ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng để biểu đạt
đúng ý nghĩ và tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểu hiện
sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện
năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện được trên cơ sở hiểu nội dung bài đọc.
13
Giáo viên cần căn cứ vào nội dung phong cách văn bản để dẫn dắt, gợi mở
học sinh tìm ra ngữ điệu đọc và tập thể hiện giọng đọc, từ đó bước đầu ý thức về
cách đọc nhằm diễn tả nội dung văn bản đọc một cách tốt nhất.
Ví dụ: Khi đọc bài thơ: “Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi – TV5)
Học sinh phải bắt được mạch cảm xúc của bài thơ đó là lòng tự hào về đất nước để
đọc hai câu đầu vút lên cho hết chiều cao (giọng vang cao); đọc câu thứ ba chậm,
dãn nhịp để trải cho hết chiều rộng và đọc hạ giọng, giảm cường độ để lắng cho hết
chiều sâu của đất nước khi đọc câu thơ cuối.
Ví dụ: Khi đọc bài (Một vụ đắm tàu – TV5 – Tập 2): Những câu miêu tả nỗi
sợ hãi của hai bạn nhỏ ở đoạn 4 cần đọc giọng hồi hộp, lo sợ; đọc cao giọng ở
những tiếng kêu “Còn chỗ cho một đứa nhỏ. Đứa nhỏ thôi! Nặng lằm rồi.” Ở đoạn
5, lời của Ma - ri - ô hét to “ Giu - li - ét – ta xuống đi! Bạn còn bố mẹ.” Và hai câu
kết đọc với giọng trầm lắng, bi tráng; lời của Giu – li – ét – ta vĩnh biệt bạn, đọc
với giọng nức nở, nghẹn ngào.
Cần rèn cho học sinh cách đọc có nhấn giọng hợp lí theo các cách khác nhau.
(Những từ nhấn giọng thường là những từ gợi tả gợi cảm, thể hiện nội dung tác
phẩm). Muốn vậy học sinh phải hiểu nội dung đoạn, tìm được các từ cần nhấn
giọng.
Ví dụ: Khi đọc đoạn giữa bài “Tre Việt Nam” từ “Yêu nắng nỏ trời xanh”
cho đến “có gì lạ đâu” cần nhấn giọng theo cách ngân dài những từ ngữ khảng định
hoặc mang rõ sắc thái cảm xúc: không đứng khuất mình, vần nguyên cái gốc, đâu
chịu mọc cong, lạ thường, có gì đâu để thể hiện rõ phẩm chất cao đẹp của tre và
cũng là của con người Việt Nam.
Cần hướng dẫn để học sinh ghi nhớ: Chính nội dung bài đọc đã quy định
ngữ điệu của nó nên không thể áp đặt sẵn giọng đọc của bài, ngược lại điều này
đọc như thế?)
Có thể phân vai để làm sống lại nhân vật nội dung của tác phẩm.
+ Theo dõi giọng đọc mẫu của giáo viên, giọng đọc của bạn để phân tích tìm
ra cách đọc đúng và hay.
+ Rèn đọc các nhân phải luôn có sự đánh giá của nhóm, lớp và của giáo viên.
2.4. Biện pháp luyện đọc thuộc lòng:
Học thuộc lòng là quá trình học sinh đọc văn bản, ghi nhớ trong não từng
câu, chữ rồi tái hiện lại dưới dạng hình thức âm thanh. Việc dạy học sinh học thuộc
lòng văn bản để lưu giữ lại những trí thức và việc làm rất cần thiết . Những trí thức
đã lưu giữ lại đặc biệt là những bài học thuộc lòng là bài văn thơ có giá trị sẽ giúp
cho học sinh tích lũy văn chương, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho các em.
Đồng thời học thuộc lòng còn rèn luyện trí nhớ cho học sinh, dạy học sinh hi nhớ
có phương pháp.
Để rèn kĩ năng học thuộc lòng phải rèn cho học sinh kĩ năng đọc hiểu bài vì
học thuộc lòng chỉ được thực hiện và ghi nhớ sâu trên cơ sở hiểu bài đã học. Vì vậy
không nên bắt học sinh học thuộc lòng cái gì khác ngoài những cái đã hiểu.
Rèn học thuộc lòng phải rèn cho học sinh sự ghi nhớ có ý thức, phải phối
hợp ghi nhớ máy móc và ghi nhớ logic (ghi nhớ có ý nghĩ).
Cần hướng dẫn học sinh ghi nhớ những từ ngữ quan trọng của câu đoạn,
những từ “chìa khóa” để học thuộc lòng nhanh và nhớ lâu.
Thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả học thuộc lòng của học sinh bằng
nhiều hình thức khác nhau. Bản thân học sinh tự kiểm tra, kiểm tra trong nhóm
nhỏ, trong nhóm lớn (bạn kiểm tra), kiểm tra trước lớp (bạn và giáo viên kiểm tra).
3. Biện pháp dạy đọc – hiểu
Rèn kĩ năng đọc thầm rất quan trọng trong dạy đọc – hiểu. Nhưng trong một
15
Số tài liệu dạy học cho rằng việc tổ chức dạy học thành tiếng gọi là “luyện đọc”.
Nói như vậy, đọc đã bị thu hẹp nghĩa, chỉ còn ứng với hình thức đọc thành tiếng.
Từ đây dẽ dẫn đến một sai lầm trong thực tế là giáo viên không chú ý đúng mức
đến luyện đọc thầm cho học sinh.
được hiệu quả của việc đọc thầm.
- Đọc thầm (đọc lướt) để nắm nội dung, tóm tắt ý hoặc chọn ý: Giáo viên
cần từng bước đề ra nhiệm vụ hoặc yêu cầu từ dễ đến khó dần để học sinh làm quen
với cách đọc thầm ở từng khối, đặc biệt là cách đọc thầm nhanh, đọc lứt toàn câu,
đoạn, cả bài.
Ví dụ: Đọc thầm khổ thơ thứ tư trong bài “Đất nước” (TV 5 – Tập 2) để phát hiện
biện pháp nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng.
Đọc lướt đoạn 1 trong bài “Hội thi nấu cơm ở Đồng Vân” (TV5- tập 2)
16
Và cho biết hội thi bắt nguồn từ đâu ?
Đọc thầm cả bài “Chuyện một khu vườn nhỏ” và cho biết tác giả muốn
nói với chúng ta điều gì?
+ Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời
gian đọc thầm cho từng đoạn và bài. Học sinh đọc song thì báo cho giáo viên biết
từ đó giáo viên nắm được và điều chỉnh tốc độ đọc thầm cho hợp lí.
* Có hai hình thức kiểm tra đọc thầm:
+ Kiểm tra trực tiếp: Học sinh đang đọc thầm yêu cầu các em đọc to lên để
xem các em đã đọc đến đâu và yêu cầu giơ tay khi đã đọc hết đoạn nào đó.
+ Kiểm tra qua đọc – hiểu: Vì mục đích của đọc thầm là hiểu bài nên việc
kiểm tra kết quả hiểu bài đọc của học sinh là hình thức kiểm tra đọc thầm quan
trọng hơn. Trước khi học sinh đọc thầm giáo viên nên đưa ra mục đích đọc thầm,
sau khi học sinh đọc thầm, yêu cầu các em trả lời câu hỏi về nội dung hoặc nghệ
thuật của bài để kiểm tra.
3.3. Hướng dẫn tìm hiểu bài:
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài là giúp các em hiểu nghĩa của từ, cụm từ,
câu, đoạn, hiểu nội dung, giá trị nghệ thuật của bài. Vì vậy, học sinh tìm hiểu bài
nhằm mục đích trau dồi kĩ năng đọc – hiểu nắm bắt thông tin góp phần nâng cao
năng lực cảm thụ tạo cơ sở cho học sinh luyện đọc diễn cảm.
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài bắt đầu từ việc giải nghĩa từ: Để hướng
dẫn học sinh tìm hiểu bài đạt kết quả tốt, ngay từ khi yêu cầu học sinh tiếp nhận
những câu nêu ý chung của bài. Hướng dẫn học sinh phát hiện ra những hình ảnh
chi tết nghệ thuật tiêu biểu nhất. Cần tìm được những mối liên hệ bên trong của văn
bản để thấy ý nghĩa hàm ẩn của nó chứ không phải chỉ có ý nghĩa biểu hiện. Tức là
cần dạy cho học sinh biết đọc giữa các hàng chữ.
Ví dụ: Vì sao chú Mo-ri – xơn lại dặn con nói với mẹ “Cha đi vui xin mẹ đừng
buồn” vì chú muốn động viên vợ con bớt đau buồn trước sự ra đi của chú. Chú ra
đi thanh thản tự nguyện vì lí tưởng cao đẹp.
Có thể tùy từng bài, tùy từng lớp mà có biện pháp dạy đọc – hiểu khác
nhau. Dựa vào hệ thống câu hỏi cuối bài giáo viên có thể xây dựng một số kiểu câu
hỏi đọc – hiểu cho từng đối tượng học sinh lớp mình cho phù hợp. Hệ thống câu
hỏi có thể là các dạng sau:
+ Câu hỏi yêu cầu phát hiện từ quan trọng, từ các em không hiểu nghĩa.
+ Câu hỏi yêu cầu phát hiện và giải nghĩa từ ngữ quan trọng, từ “chìa
khóa” của bài.
+ Câu hỏi làm bộc lộ giá trị của từ dùng “đắt” trong bài (thường dùng cho
học sinh khá, giỏi để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học)
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh phát hiện chi tiết, những hình ảnh đẹp của bài
+ Câu hỏi yêu cầu tìm hiểu nội dung của từng đoạn.
+ Câu hỏi yêu cầu tìm hiểu và khái quát ý của từng đoạn, bài.
Vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học và thay đổi hình thức tổ chức dạy học
khác nhau để tạo điều kiện cho học sinh học tập một cách tích cực mói nâng cao
được chất lượng dạy học. Những câu hỏi đơn giản nên sử dụng phương pháp hỏi
đáp hoặc đàm thoại; những câu hỏi khó hoặc câu hỏi mở nên sử dụng hình thức
thảo luận nhóm, cặp; những câu hỏi có nhiều hướng trả lời nên sử dụng trò chơi
theo kiểu bài tập trắc nghiệm Tuy nhiên giáo viên không được sử dụng tùy tiện
phương pháp và hình thức dạy học mà phải căn cứ vào bài cụ thể để lựa chọn.
Ví dụ: Với câu hỏi “Tại sao tác giả lại gọi là hạt vàng làng ta?” , giáo viên có thể
sử dụng hình thức thảo luận nhóm để thu được kết quả cao hơn, vì đây là câu hỏi
đòi hỏi sự tư duy, suy luận logic của học sinh.
Trong quá trình tìm hiểu bài, giáo viên cần rèn cho học sinh cách trả lời và
PHẦN III: KẾT LUẬN
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Sau khi tiến hành khảo sát chất lượng về thực trạng dạy học phân môn tập
đọc (lần 1- tháng 9 năm 2011), tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng biện pháp trên
vào dạy học từ tháng 11 năm học 2011 – 2012. Qua dự giờ các đồng nghiệp trong
trường cũng thấy được ưu điểm của biện pháp mà tôi đã nêu trên, các đồng chí giáo
viên dạy khối 5 đã áp dụng vào dạy học phân môn tập đọc và đều cho kết quả khả
quan. Chính vì vậy mà chất lượng các giờ tập đọc được nâng lên rõ rệt.
Năm học 2012 – 2013, tôi tiếp tục được phân công giảng dạy ở lớp 5 cụ thể
là lớp 5B. Tôi tiếp tục áp dụng các biện pháp trên vào dạy học và đã nâng cao được
chất lượng dạy học phân môn tập đọc. Tôi tiến hành khảo sát chất lượng lần 2
(tháng 9 năm 2012), đối tượng học sinh là lớp 5B năm học 2012 – 2013. Học sinh
lớp 5B tôi đang dạy có trình độ tương đương với trình độ học sinh lớp 5A (năm học
2011 – 2012 tôi phụ trách). Sau khi dạy bài “Bài ca trái đát” tôi cũng cho các em
làm bài kiểm tra giống đề kiểm tra lần 1 (Đề khảo sát chất lượn lớp 5A- năm học
2011 – 2012) kết quả cụ thể:
19
* Qua kiểm tra 25 em, tôi đã tổng hợp số em chưa đạt yêu cầu về mặt kiến
thức, kĩ năng như sau:
Kiến thức, kĩ năng
cần đạt
Số HS chưa đạt
yêu cầu
Tỉ lệ TL giảm so
với lần 1
Đọc đúng 0 0% 100%
Đọc lưu loát, trôi chảy 2 8% 71,4%
Đọc diễn cảm 2 8% 80%
Học thuộc lòng 0 0% 100%
Đọc – hiểu (hiểu ND bài) 0 0% 100%
hình thức và phương pháp dạy học hợp lý cho từng bài cụ thể.
Cần lựa chọn vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, đặc biệt là dạy
học phát huy tính tích cực của học sinh. Trong giờ học nên tổ chức nhiều hình thức
dạy học khác nhau tạo mối quan hệ thầy- trò. Tổ chức các hoạt động học tập tích
cực lấy học sinh làm trung tâm. Dưới sự hướng dẫn của thầy, học sinh phải chủ
động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức mới.
Mỗi giờ học giáo viên cần chú ý quan tâm và khuyến khích mọi đối tượng
học sinh, phát huy tính sáng tạo cho học sinh khá, giỏi , không gây áp lực cho học
sinh yếu kém và tiếp thu chậm. Trong dạy học cần sử dụng câu hỏi ngắn gọn, dễ
hiểu, có thể gợi mở để học sinh phát huy được năng lực vốn có của bản thân và
vươn lên đạt đích cao hơn.
Mỗi giáo viên cần thấy rõ: Dù đọc thành tiếng hay đọc – hiểu thì không thể tách
rời việc đọc với việc hiểu những gì đọc được. Đây là hai nhiệm vụ quan trọng của
môn tập đọc, nó luôn hỗ trợ và tác động qua lại với nhau, có đọc tốt mới hiểu đúng
và có hiểu đúng mới đọc tốt.
Tập đọc là phân môn của Tiếng Việt nên khi dạy tập đọc phải thường xuyên
rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho học sinh theo nhiều cách khác nhau, giáo viên phải
quan tâm đến việc huy động vốn tiếng Việt của các em để trình bày ý muốn nói
một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ và rõ ràng. Đồng thời phải chú ý rèn cho học sinh
kĩ năng phân tích, tổng hợp, tư duy logic.
Thường xuyên cho học sinh luyện đọc thành tiếng và luyện đọc thầm; rèn kĩ
năng tìm hiểu, phát hiện nội dung bài, đoạn, cái hay, cái đẹp trong các văn bản đọc.
Bài đọc cần chú ý liên hệ đến bản thân và cuộc sống hiện tại để học sinh thông hiểu
nội dung bài, từ đó đọc tốt.
Thường xuyên kiểm tra đọc thành tiếng, đọc hiểu, kiểm soát tốc độ đọc thầm
để củng cố kiến thức đã học, phát triển khả năng tự học, tự rèn luyện một cách có
mục đích.
Thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp, không ngừng học hỏi, tìm tòi
nghiên cứu nân cao kiến thức để đáp ứng với sự nghiệp đổi mới, đi lên của sự nhiệp
giáo dục.
Chức vụ : Giáo viên
Môn : Tiếng Việt
Đơn vị : Trường Tiểu học Đông Sơn
Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Năm học 2012- 2013