CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số : …………………………………………………
1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy văn miêu
tả cho học sinh lớp 4”
2. Lĩnh vực áp dụng: Giáo dục tiểu học
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Văn miêu tả là một thể loại văn chiếm đại đa số thời lượng trong chương
trình dạy Tập làm văn lớp bốn. Là một thể loại rất phổ biến, quen thuộc trong
sáng tác văn chương và trong cuộc sống đời thường. Nhờ miêu tả chúng ta cảm
nhận được vẻ đẹp của tự nhiên, của con người…Trước đây học sinh lớp 4 làm
văn miêu tả tôi nhận thấy chất lượng học tập môn làm văn viết của học sinh
chưa cao. Chỉ được số ít học sinh biết cách viết văn sinh động có bố cục rõ ràng,
các phần đủ ý. Còn lại phần lớn các em chưa biết tìm ý để biết đủ các phần cần
thiết của một bài văn hoặc còn liệt kê các nội dung một cách đơn giản. Các em
chưa nắm được bố cục một bài văn miêu tả con vật, nhiều em chỉ nêu được một
đến hai bộ phận của con vật cần tả, có em lại chỉ nêu theo ngẫu hứng tự do
không theo một trình tự nhất định.
a) Ưu điểm
- Bản thân tôi đã được tập huấn nội dung chương trình và phương pháp
dạy học theo sách giáo khoa mới;
- Bên cạnh bộ sách giáo khoa, sách giáo viên tôi còn được cung cấp nhiều
tài liệu chuyên ngành phục vụ nghiên cứu chuyên môn;
- Một số học sinh có thái độ học tập tốt, biết cách quan sát các sự vật hiện
tượng xung quanh, có óc thẩm mĩ;
- Các em biết cách vận dụng các giác quan để quan sát;
2
Mặc dù đề tài chỉ nghiên cứu phần văn miêu tả ở học sinh lớp bốn nhưng
rất dễ thực hiện và có thể áp dụng ở cả các lớp trong cấp học nếu có liên quan
đến văn miêu tả. Đề tài này tôi đã tìm hiểu những lỗi mà học sinh hay mắc phải
và đưa ra biện pháp cụ thể để hướng dẫn cho học sinh và rất dễ vận dụng.
Một số học sinh có thái độ học tập tốt, biết cách quan sát các sự vật hiện
tượng xung quanh, có óc thẩm mĩ, dùng từ đặt câu rất hay.
Các bước thực hiện của giải pháp:
a) Giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh
Chúng ta đã biết, tâm lý chung của học sinh Tiểu học là luôn muốn khám
phá, tìm hiểu những điều mới mẻ. Từ đó, giáo viên hình thành và rèn luyện cho
các em cách quan sát, cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn
diện và cụ thể tức là quan sát sự vật hiện tượng về nhiều khía cạnh, nhiều góc độ
khác nhau, giúp các em có cách cảm, cách nghĩ sâu sắc khi miêu tả.
Ở tuổi Tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự bắt đầu
của một quá trình. Do đó những tri thức các em tiếp thu được phải được sắp xếp
theo một trình tự nhất định.
Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật, đòi hỏi khi viết phải
giàu cảm xúc, tạo nên cái "hồn" chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải
luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm
lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.
b) Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu tả
ngay từ tiết đầu tiên của thể loại bài này
Dùng ngôn ngữ để làm cho người khác có thể hình dung, thấy được các
sự vật, sự việc, con người…một cách cụ thể như ở trước mắt. Đó chính là miêu
tả. Nói một cách khác, miêu tả cũng là trình bày những điều quan sát và nhận xét
được của mình về sự vật, sự việc, con người ấy.
Để miêu tả các em cần lưu ý:
ngữ phong phú và phải biết cách lựa chọn từ ngữ khi miêu tả cho phù hợp.
Chính vì vậy giáo viên cần chú ý cung cấp vốn từ cho các em khi dạy Tập đọc,
Luyện từ và câu và cả trong khi dạy các môn học khác hay trong những buổi nói
chuyện trong các tiết sinh hoạt. Hướng dẫn các em lập sổ tay văn học theo các
chủ đề, chủ điểm, khi có một từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay theo
từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cách dễ dàng.
4
Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu
cầu học sinh đặt câu đúng, song yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện
pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay
những từ biểu lộ cảm xúc.
* Ví dụ: Khi làm một bài văn miêu tả về con mèo:
- Chú ta có cái đuôi thon dài như một con rắn.
Giáo viên hỏi: Em nào nhận xét cách đặt câu của bạn? Học sinh có thể
nhận xét: Bạn đã sử dụng biện pháp so sánh để so sánh cái đuôi mèo như một
con rắn.
Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm đôi tìm câu khác để miêu tả cái
đuôi của chú mèo sao cho sinh động hơn:
- Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trước chống lên, đăm chiêu
nhìn và nghe ngóng, cái đuôi mềm mại, phe phẩy như làm duyên;
- Hay: Cái đuôi dài trắng điểm đen phe phất thướt tha cùng với tấm thân
thon dài mềm mại, uyển chuyển trông thật đáng yêu.
Như vậy cùng là miêu tả về cái đuôi của chú mèo nhưng những câu văn sử
dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ gợi tả, gợi cảm như các câu
trên thì hiệu quả khác hẳn, ta thấy miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất
tình cảm và sẽ cuốn hút người đọc, người nghe.
đ) Dạy tốt Tập làm văn cần dạy tốt kiến thức các phân môn khác của
môn Tiếng Việt
viết câu, thành bài văn hẳn hoi. Trong giai đoạn này, các em cần suy nghĩ thêm
vào những ý tưởng chợt đến và bỏ bớt những chi tiết rườm rà, những ý trùng lặp
không cần thiết.
Sau khi đã viết thành bài, các em nên đọc lại thành tiếng để kiểm soát
cách hành văn, cách dùng từ, cách sắp xếp các hình ảnh, cách chấm câu và chính
tả có gì sai sót không.
Làm bài : Khi làm bài ta cần lưu ý:
Viết chữ thật ngay ngắn, cẩn thận. Sau mỗi phần, phải xuống dòng.
Không được viết tắt trong bài văn. Không được viết chữ số, ngoại trừ ngày,
tháng, năm hay niên hiệu của một vị vua.
* Đọc lại bài: Cuối cùng chúng ta nên đọc lại bài vài lần để kiểm soát
xem có các lỗi về chính tả, về dấu câu hay không.
6
g) Hướng dẫn học sinh xây dựng từng đoạn trong bài văn miêu tả
* Đoạn văn mở bài:
Trong bài Tập làm văn, mở bài là phần thứ nhất, nhằm mục đích giới thiệu
đối tượng sẽ nói trong phần thân bài.
Có hai cách mở bài mà học sinh được học đó là mở bài trực tiếp và mở
bài gián tiếp. Không nhất thiết phải gò bó học sinh làm mở bài theo cách nào để
cho các em tự chọn cho mình cách mở bài hợp lý nhất và phù hợp với khả năng
của từng em. Chẳng hạn với bài tả con mèo, một học sinh mở bài: ''Hè vừa rồi,
mẹ em đi chợ mua được một con mèo tam thể. Chú ta là thành viên thứ năm của
gia đình em, nay đã được bốn tháng."
- Giáo viên nêu câu hỏi: Đây là cách mở bài nào? (trực tiếp);
- Giáo viên nêu yêu cầu để học sinh nêu cách mở bài khác sinh động hơn:
"Nhà em đã từ lâu không có một chú chuột nào dám bén mảng tới vì có một chú
lính gác cừ khôi, đó chính là chú Mướp. Mướp ta đã được một năm tuổi, nó thật
hiền dịu nhưng cũng thật tinh nhanh, nó như người bạn thân của em."
đốm vàng, tai cụp, thính;
- Hoạt động tính nết: Mừng rỡ khi chủ đi đâu về, đêm đêm giữ nhà, hiểu
được tiếng người, ngoan ngoãn.
Dựa vào dàn ý diễn đạt thành câu văn đúng ngữ pháp:
“Con chó của em tuy tầm vóc trung bình nhưng rất vạm vỡ. Nó có bộ lông
xù màu đen. Bốn chân nó hơi lùn. Dưới mõm có râu. Đôi mắt nó sáng và tinh
nhanh, phía trên hai mí lại có thêm hai đốm vàng nho nhỏ. Đôi tai nó cụp xuống
và rất thính. Mỗi khi em đi học về nó rất mừng. Đêm nó nằm trước cổng nhà để
giữ nhà. Con chó của em dường như hiểu được tiếng người và rất ngoan ngoãn.”
Sau đó chúng ta sửa lại câu văn cho hay hơn.
Thí dụ: “Nó có bộ lông xù màu đen” sửa lại: “Bộ lông nó hệt như một lớp
mền bông màu đen phủ kín khắp thân thể nó vậy.”
“Mỗi khi em đi học về nó rất mừng” sửa lại thành: “Mỗi khi em đi học về,
Mi Mi thường chạy ra mừng ríu rít. Hai chân trước chồm lên ôm ngang người
em. Cái đuôi nó ngúc ngoắc lất phất những sợi lông dài như cây phất trần.”
Về mặt trình bày, thân bài nên chia thành nhiều đoạn, mỗi đoạn diễn đạt
một ý, bài văn sẽ rõ ràng, mạch lạc hơn. Và cũng cần lưu ý, nhắc nhở học sinh
khi viết mỗi đoạn thì phải có câu mở đoạn. Câu mở đoạn là câu mang ý khái
8
quát của toàn đoạn nằm ở vị trí đầu đoạn, các câu còn lại triển khai, cụ thể hóa
cho nó.
Ví dụ: Tả chú gà trống nhà em.
Chú gà nhà em đã ra dáng một chú gà trống đẹp. Chú có thân hình chắc
nịch. Bộ lông màu nâu đỏ óng ánh. Nổi bật nhất là cái đầu có chiếc mào đỏ rực.
Đôi mắt sáng. Đuôi của chú là một túm lông gồm các màu đen và xanh pha trộn,
cao vống lên rồi uốn cong xuống nom vừa mĩ miều vừa kiêu hãnh. Đôi chân chú
cao, to, trông thật khỏe với cựa và những móng nhọn là vũ khí tự vệ thật lợi hại.
* Đoạn văn kết bài:
vóc, hình thể khác biệt nhau. Thói quen sinh hoạt của từng loài cũng khác nhau.
Khi miêu tả, các em cần nêu bật được các sinh hoạt bình thường ấy nhất là các
hoạt động bộc lộ nét đẹp, tính nết và ích lợi của từng loại.
i) Chuẩn bị kỹ phần củng cố bài trong các tiết Tập làm văn
- Củng cố bài là phần chiếm không nhiều thời gian trong cả tiết học nhưng
lại là lúc giáo viên tóm tắt toàn bộ nội dung kiến thức của bài và mở ra hướng
kiến thức mới cho tiết học sau, vì vậy cần chú ý ở phần củng cố bài hấp dẫn, thu
hút được sự chú ý của các em;
- Như trên đã nói, cần giúp học sinh nhìn nhận mọi sự vật ở nhiều khía
cạnh, góc độ khác nhau, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của các em nên ở
phần củng cố bài, giáo viên không nên đưa ra những bài văn mẫu hoàn chỉnh
làm các em bắt chước, sao chép, dễ tạo cho các em cách làm văn sáo rỗng, na ná
như nhau mà nên đưa ra những đoạn văn miêu tả của những tác giả khác nhau.
Cùng trong một tiết học, có thể đưa ra nhiều đoạn văn miêu tả toàn diện, phong
phú và từ đó các em sẽ biết chắt lọc, tìm tòi những chi tiết đặc sắc, học tập được
các câu, các từ hay, cách diễn đạt hợp lý cho bài văn của mình;
Chẳng hạn, trong tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật”,
phần củng cố bài, giáo viên có thể đọc cho các em nghe một vài đoạn như sau:
"Con Rô sạch sẽ lắm. Mỗi lần mẹ gọi: "Rô đi tắm" là nó vẫy đuôi chạy theo,
ngoan ngoãn như một đứa bé được nuông chiều. Thân hình nó không hề có một
con bọ, con rận nào cả. Không biết mẹ dạy con Rô từ bao giờ mà nó biết đi vệ sinh
vào một chỗ phía sau nhà. Nó rất ý tứ. Mỗi khi có khách đến chơi nhà nó nằm im
trên tấm đệm, đôi tai vểnh lên như nghe bố mẹ và khách nói chuyện. Khách đứng
dậy ra về, con Rô cũng theo bố mẹ đi ra cửa như để tiễn chân khách…
10
- Các đoạn văn đưa ra cũng không nên quá dài hay quá ngắn vì nếu dài quá
học sinh sẽ khó tiếp thu, ngắn quá sẽ không đảm bảo nội dung. Đặc biệt đoạn văn
phải được diễn đạt mạch lạc đúng cấu trúc ngữ pháp, lời văn giản dị, câu văn giàu
sẽ thấy rõ ưu, nhược điểm trong bài làm của mình, của bạn và biết tự sửa chữa
hoặc viết lại đoạn văn của mình cho đạt yêu cầu.
3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu vận dụng vào năm học này và báo cáo đề tài
cho tổ cùng toàn thể giáo viên trong trường tham khảo. Nhân rộng cho các
trường khác.
4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp
Trước khi áp dụng những biện pháp trên vào dạy Tập làm văn lớp bốn
SS
26
Điểm 9 -10
SL
%
2
7,7
Điểm 7 - 8
SL
%
8
30,8
Điểm 5 - 6
SL
%
9
34,6
Điểm dưới 5
SL
%
1
3,8
Bài làm của nhiều em đã tiến bộ rõ rệt, các em đã biết viết văn miêu tả
giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, đặc biệt nhiều em đã biết sử dụng các biện pháp
nghệ thuật như: nhân hóa, so sánh, bài làm sinh động, giàu cảm xúc. Tuy vẫn
còn một số ít bài viết khô cứng, liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả nhưng
không có hiện tượng sao chép văn mẫu. Đây là một dấu hiệu tốt góp phần nâng
cao hiệu quả học tập của các em.
Từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng để nâng cao chất lượng dạy Tập
làm văn người giáo viên chủ nhiệm cần:
- Tìm hiểu kỹ đối tượng học sinh, đặc điểm tâm lý của học sinh, hiểu và
nắm chắc đặc điểm, chức năng của văn miêu tả và cần giúp các em hiểu rõ các
đặc điểm ấy ngay từ tiết đầu tiên của thể loại văn miêu tả;
- Khi thực hiện kế hoạch bài dạy trên lớp giáo viên nên đọc cho học sinh
nghe các câu văn, có sử dụng các biện pháp nghệ thuật, giúp các em mở rộng
vốn từ, mở rộng vốn hiểu biết và từ đó học tập vận dụng vào bài làm của mình;
12
- Trả bài là tiết học mà giáo viên dành nhiều thời gian để sửa lỗi cho học
sinh, giúp học sinh điều chỉnh những sai sót mắc phải trong bài viết để bài viết
sau sẽ hoàn chỉnh hơn, hấp dẫn hơn./.
................, ngày ... tháng ... năm ....
NGƯỜI VIẾT
13