SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4
Người thực hiện : Thiều Thị Sáu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ba Đình
SKKN thuộc lĩnh vực: Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2013
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Với tư cách là môn học công cụ, môn Tiếng Việt có vai trò hết sức quan
trọng trong giao tiếp đời sống cũng như trong học tập của học sinh. Đặc biệt đối
với học sinh tiểu học vì tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp của trẻ. Thông qua môn
Tiếng Việt các em nắm được kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Từ đó mở rộng vốn
ngôn ngữ và sự hiểu biết về ngôn ngữ. Tiếng Việt là chìa khoá để mở cánh cửa
tri thức, là điều kiện phương tiện để học tốt các môn học khác.
Môn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học được phân chia thành nhiều
phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Kể chuyện,
Tập làm văn. Mỗi phân môn đều có nhiệm vụ riêng của nó, song đều có
một đặc điểm chung là hình thành và phát triển 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc,
viết.
Trong môn Tiếng Việt thì phân môn Tập làm văn có vị trí rất quan trọng
vì nó tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các phân môn khác rèn
luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng. Học sinh vận dụng
các kiến thức tiếng Việt khi làm bài văn, trong quá trình vận dụng này, các kiến
thức đó hoàn thiện và nâng cao dần. Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học
sinh kĩ năng sản sinh văn bản. Nhờ vậy, tiếng Việt không chỉ là một hệ thống
phân môn này, người giáo viên cần nắm vững các kiến thức sau:
1. Văn miêu tả là gì ?
Miêu tả là dùng ngôn ngữ để vẽ lại một con người hay một sự vật nào đó.
Văn miêu tả là dùng ngôn ngữ có hình ảnh và cảm xúc để vẽ lại một con
người, một đồ vật, một con vật hay một phong cảnh… nào đó. Ở lớp 4, các em
sẽ tập làm văn miêu tả đồ vật,cây cối,con vật.
2.Tìm hiểu đề bài
- Mỗi bài văn đều gắn với một đề bài : làm văn là thực hiện những yêu
cầu mà đề bài đặt ra.
- Xác định phạm vi, đối tượng miêu tả.
- Xác định những điểm trọng tâm mà đề bài yêu cầu cần phải tả.
3. Quan sát sự vật
- Quan sát là dùng giác quan ( chủ yếu là mắt) để tìm hiểu đối tượng miêu
tả.
- Quan sát từ xa đến gần,từ ngoài vào trong, từ khái quát đến cụ thể, từ
hình dáng đến hoạt động hoặc ngược lại.
4. Lựa chọn và miêu tả
- Đặc tả : là tả trực tiếp vào những bộ phận đặc biệt để làm nổi bật bản
chất sự vật.( Ví dụ hoa phượng đỏ gắn với mùathi…)
- Tả chấm phá : là tả đủ các bộ phận của sự vật nhưng chỉ bằng vài nét
chính và đơn sơ nhất, sau đó khái quát lại để người đọc có thể hình dung ra toàn
bộ sự vật.
5. Cấu trúc chung của bài văn miêu tả và cách viết từng phần
5.1 Phần mở bài : Giới thiệu đối tượng miêu tả.
5.2 Phần thân bài : miêu tả đối tượng từ bao quát đến chi tiết với những
đặc điểm nổi bật qua sự cảm nhận của bản thân.
5.3 Phần kết bài : kết luận về đối tượng miêu tả. Nêu đánh giá hoặc cảm
nhận của người viết về đối tượng đó.
3
- Tìm hiểu nội dung của phân môn TLV lớp4. Phân loại từng kiểu bài rèn
luyện kĩ năng về loại văn miêu tả có trong chương trình Tập làm văn lớp 4.
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của giáo viên và học sinh khi
thực hiện việc dạy và học TLV ở lớp 4 nói chung và văn miêu tả ở lớp 4 nói
riêng.
- Lựa chọn cách dạy phù hợp để giúp nâng cao chất lượng TLV lớp 4
phần văn miêu tả.
- Khảo sát bài làm của học sinh để nắm chất lượng học văn miêu tả.
2. Các biện pháp tổ chức thực hiện
2.1. Xác định nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn lớp 4
Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn lớp 4 là:
4
- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn.
- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy
lô- gíc, tư duy hình tượng ; bồi dưỡng tâm hồn, xúc cảm thẩm mĩ, hình thành
nhân cách học sinh.
2.2. Tìm hiểu nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 4 phần văn miêu
tả. Phân loại từng kiểu bài rèn luyện kĩ năng có trong chương trình ở lớp 4
Những nội dung kiến thức và kĩ năng làm văn dạy ở lớp 4 luôn quán
triệt tinh thần tích cực hoá hoạt động học tập: học sinh được tiếp nhận kiến
thức thông qua yêu cầu thực hành, luyện tập phù hợp với tâm sinh lí lứa
tuổi
a) Cấu trúc chương trình phần văn miêu tả ở lớp 4
Loại văn bản
Số tiết dạy
Học kì I Học kì II Cả năm
* Miêu tả 7 23 30
- Khái niệm miêu tả 1 4 1
- Miêu tả đồ vật 6 11 10
- Miêu tả cây cối 8 11
a) Thuận lợi:
- Các em học sinh được tiếp cận với văn miêu tả sớm ngay từ lớp 2.
- Đến lớp 4, các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói đã đạt được ở một mức độ nhất
định.
- Kiến thức về tiếng Việt và văn học: Được chuẩn bị từ lớp dưới khá nhiều
như luyện tập về các kiểu câu theo mẫu (học ở lớp 2-3), các biện pháp tu từ so
sánh, nhân hoá; học nhiều các bài tập đọc về văn miêu tả có giá trị văn chương.
Lên lớp 4, các em tiếp tục được luyện tập các mảng kiến thức trên theo hướng
tích hợp, đồng thời, từ vựng học thêm khoảng 700 từ, ngữ theo chủ điểm, ngữ
pháp giúp các em học về từ loại, về các kiểu câu chia theo mục đích nói, tập làm
văn học kết cấu của văn bản.
- Các môn học khác như Khoa học, Địa lí cũng giúp các em rất nhiều vốn
hiểu biết về thế giới tự nhiên và thế giới xung quanh.
b) Khó khăn :
- Phần lớn học sinh ở thành phố, thị xã hiện nay bị bó hẹp trong phạm vi gia
đình và phạm vi nhà trường, các em ít có điều kiện tiếp xúc với thiên nhiên, ít
được tham gia các hoạt động như hoạt động ngoại khoá, hoạt động xã hội, …
Đất ở của mỗi gia đình phần lớn không đủ rộng để có thể trồng trọt hoặc nuôi
thêm các con vật. Tức là các em không biết những đối tượng mà các em phải tả
theo yêu cầu của đề bài.
Ví dụ:
. Bài tập 2 – SGK trang 32, tập2 “Lập dàn ý miêu tả một cây ăn quả quen
thuộc theo một trong hai cách đã học ”
6
. Bài tập 4– SGK trang 82, tập2 “ Em hãy viết kết bài mở rộng cho một trong
các đề tài dưới đây:
a) Cây tre ở làng em.
b) Cây tràm ở quê em.
c) Cây đa cổ thụ ở đầu làng. ”
. Bài : Luyện tập miêu tả cây cối – SGK trang 83, tập2 “ Tả một cây có
4.1. Bài văn miêu tả phải chân thực
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của
người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối
tượng ấy.
7
Do vậy, bài văn miêu tả trước hết cần có tính chân thực, đúng bản chất
của đối tượng. Dạy cho học sinh tiểu học miêu tả chân thực một đối tượng, trước
hết phải đi từ yêu cầu tả đúng thực tế, nghĩa là thông qua việc quan sát trực tiếp
bằng nhiều giác quan, chọn được từ ngữ thích hợp, diễn tả đúng được đối tượng,
không làm cho người đọc (nghe) hiểu sai hoặc không hình dung được nó.
4.2 Quan sát đối tượng miêu tả
Để giúp người đọc, người nghe tái hiện được đối tượng miêu tả một cách
chân thực, sinh động, bài văn miêu tả phải tuân theo một trình tự hợp lí, đảm bảo
tính lôgíc. vậy khi dạy văn miêu tả, giáo viên cần hướng dẫn các em :
- Quan sát tỉ mỉ các bộ phận theo một trình tự hợp lí
Ví dụ: + Quan sát theo trình tự không gian: Từ xa đến gần, từ trên xuống dưới,
từ ngoài vào trong, từ trái qua phải, hoặc ngược lại
+ Quan sát từ bao quát đến các bộ phận, từ bộ phận chủ yếu đến các bộ
phận thứ yếu, ).
+ Quan sát trình tự tâm lí : Điều gì gây chú ý nhiều (gây hứng thú có tác
động mạnh) thì tả trước, điều gì ít chú ý tả sau.
+ Quan sát bằng nhiều cách khác nhau (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi
ngửi, ).
- Chú ý những yêu cầu riêng khi quan sát từng loại đối tượng miêu tả :
+ Tả đồ vật : Có loại đồ vật tĩnh (như cái bàn, cái ghế, quyển vở, ), có
loại đồ vật động (như cái xe, cái quạt máy, búp bê biết khóc, cười, ). Cách quan
sát đồ vật động khác với đồ vật tĩnh.
+ Tả cây cối : Cần quan sát theo đặc điểm của từng loại cây (cây hoa, cây
ăn quả, cây bóng mát, cây lấy gỗ, ) theo từng chặng phát triển (khi cây còn nhỏ,
lúc cây lớn, ) ; theo từng mùa khác nhau ; kết hợp quan sát khung cảnh thiên
buồng chuối xanh Buồng chuối chín
* Đối với cách b)Tả lần lượt từng thời kì phát triển của cây, tôi đã cho
các em quan sát cây theo mùa.Ví dụ :
10
Mùa đông, cây trơ trụi, khẳng khiu.
Xuân sang, cây đâm chồi,nảy lộc.
Hè đến, cành lá xum xuê Cây ra hoa
Quả chi chít cành trên,cành dưới Quả lớn nhanh như thổi
( Tuy nhiên cần lưu ý HS trong thực tế nhiều loài cây mùa đông không rụng
lá mà xanh quanh năm. Hình ảnh trên chỉ mang tính minh họa)
. Bài tập 4– SGK trang 82, tập2 “ Em hãy viết kết bài mở rộng cho một trong
các đề tài dưới đây:
a) Cây tre ở làng em.
b) Cây tràm ở quê em.
c) Cây đa cổ thụ ở đầu làng. ”
Để có thể làm được các bài này thì các em phải có những hiểu biết nhất
định về những loài cây mà các em định tả. Vì vậy, tôi đã đưa ra một số hình ảnh
sau và cung cấp cho các em những hiểu biết về ích lợi của cây và những tình
11
cảm của người dân địa phương đối với những loài cây đó( Ví dụ: cây tràm cho
tinh dầu; người dân thường ngồi dưới gốc đa, gốc tre hóng mát…)
Bụi tre Cây đa
Cây tràm bông vàng
Mèo mướp Mèo tam thể
15
2) Tả con vật nuôi trong vườn thú:
Chim công múa Khỉ
Hổ
Voi
16
Voi - Hươu
3) Tả con vật em nhìn thấy trên đường:
Con trâu Thỏ nâu
Con vịt Ngựa kéo xe
17
4.3 Lựa chọn và sắp xếp ý để miêu tả
- Chọn được những nét nổi bật của đối tượng để miêu tả rõ ràng, đầy đủ.
- Sắp xếp ý một cách hợp lí theo ba phần của bài văn miêu tả :
+ Mở bài : Giới thiệu đối tượng miêu tả bằng cách trực tiếp hay gián tiếp.
+ Thân bài : Tả bao quát rồi tả từng bộ phận của đối tượng hoặc tả từng thời
kì phát triển của đối tượng.
+ Kết bài : Nêu cảm nghĩ (ấn tượng) về đối tượng miêu tả theo cách mở rộng
hoặc không mở rộng.
* Cách thức lựa chọn và sắp xếp ý với từng thể loại nhỏ phần thân bài
a) Tả đồ vật : Trước hết, nêu tả bao quát toàn bộ đồ vật (hình dạng, màu
sắc, ), sau đó tả những bộ phận chính với những đặc điểm nổi bật.
Ví dụ: Tả chiếc cặp
+ Tả bao quát đồ vật: Cặp hình chữ nhật, làm bằng bằng vải giả da được
đồ vật bằng anh, chị, chú, bác, hoặc cho đồ vật tự xưng là tớ, tôi, mình để tự
nói về nó).
b) Tả cây cối : Thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, màu sắc,
hương thơm, mùi vị ; có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh để gợi ra
hình ảnh cây cối ở thời kì phát triển hay mùa khác nhau (cây cối ở thời điểm
hiện tại so với trước đây và tương lai sau này).
c) Tả con vật : Thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, màu sắc, âm
thanh ; từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái của con vật ; có thể sử dụng biện pháp
liên tưởng, so sánh hay nhân hoá để miêu tả cho sinh động và bộc lộ mối quan
hệ gần gũi với con người.
4.5 Rèn kĩ năng viết trong giờ tập làm văn miêu tả ở lớp 4.
Khi viết một đoạn văn, bài văn, học sinh có thời gian suy nghĩ, tìm cách
diễn đạt (dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, ) rèn luyện
kĩ năng sản sinh văn bản. Lời văn viết vừa cần rõ ý vừa cần sinh động, bộc lộ
được cảm xúc; bố cục bài văn cần chặt chẽ, hợp lí ở từng đoạn và toàn bài để tạo
thành một đoan văn, bài văn hoàn chỉnh. Kĩ năng viết của học sinh được rèn
luyện chủ yếu qua các bài tập viết đoạn văn trước khi viết một bài văn hoàn
chỉnh. Do vậy, trong quá trình rèn kĩ năng viết, giáo viên cần giúp học sinh thực
hiện tốt những yêu cầu sau :
Bước1: Phân tích đề bài, xác định nội dung viết ; tìm ý, sắp xếp ý để
chuẩn bị thực hiện yêu cầu viết (đoạn văn, bài văn) theo loại văn, kiểu bài đã
học ( miêu tả đồ vật, cây cối, con vật)
Bước 2: Tập viết đoạn văn bảo đảm sự liên kết chặt chẽ về ý : viết đoạn
mở bài, (trực tiếp, gián tiếp), viết các đoạn phần thân bài, viết đoạn kết bài (mở
rộng, không mở rộng) sao cho có sự liền mạch về ý (không rời rạc, lộn xộn), các
ý trong đoạn được diễn tả theo một trình tự nhất định nhằm minh hoạ cụ thể hoá
ý chính (có mở đầu, triển khai và kết thúc).
Bước 3: Viết bài văn có bố cục chặt chẽ, có lời văn phù hợp với yêu cầu
nội dung và thể loại, cụ thể :
- Các đoạn văn trong một bài phải liên kết với nhau thành một văn
sáng tạo, có hình ảnh
Bài viết đúng
yêu cầu
Bài chưa
đạt yêu cầu
4A 25 12 13 0
4C 25 15 10 0
2. KẾT LUẬN CHUNG
Chương trình tiếng Việt mới lấy quan điểm dạy giao tiếp làm định hướng
cơ bản. Phân môn Tập làm văn cũng được xây dựng trên quan điểm đó. Dạy Tập
làm văn lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp, lấy việc phục vụ giao tiếp
làm nhiệm vụ và mục đích.
Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 4 được xây dựng dưới dạng hệ
thống các bài tập. Học sinh sẽ tự làm bài dưới sự tổ chức, hướng dẫn, góp ý của
giáo viên để phát triển kĩ năng nói và nghe. Đây chính là cơ sở giúp học sinh
mở rộng vốn từ, phát triển tư duy hình tượng và tư duy lôgic; trau dồi kĩ năng
sản sinh văn bản.
Cùng với sự đổi mới về nội dung là sự đổi mới về phương pháp dạy học.
Đó là sự phối hợp hợp lí giữa các phương pháp dạy học truyền thống với các
phương pháp dạy học hiện đại nhằm đưa người học vào các tình huống giao
tiếp, tạo cho các em môi trường giao tiếp cụ thể. Từ đó, hình thành và phát triển
4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
Việc đổi mới về nội dung và phương pháp dạy Tập làm văn như hiện nay
là tương đối đúng đắn, phù hợp với nước ta trong thời kì đổi mới, phù hợp với
xu thế phát triển của khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu
đề ra đòi hỏi sự nỗ lực của các nhà sư phạm, các giáo viên và tất cả học sinh tiểu
học.
21
Là giáo viên tiểu học, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu để góp phần tháo gỡ
khó khăn và để trang bị cho mình vốn kiến thức nhất định giúp học sinh học tập