Nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5 - Pdf 17

PHẦN I
Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hoàn thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể
hiện trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc,
viết.
Đặc biệt trong môn tập làm văn: mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy,
bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho học sinh.
Văn miêu tả, quan sát đối tượng tìm lí lẽ và dẫn chứng để thuyết trình,
tranh luận… góp phần phát triển năng lực phân tích, tổng hợp, phân loại học
sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện phát triển nhờ các biện
pháp so sánh, nhân hóa… khi miêu tả.
Có nhiều quan niệm về miêu tả, để đi đến thống nhất một quan điểm
chung là điều không phải dễ dàng. Sau đây tôi xin trích dẫn một số định nghĩa
về miêu tả như sau:
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa : “Miêu tả là
dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có
thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người” .
Tác giả Phillippe Hamon viết:
“Miêu tả là một thao tác tư duy rộng mở, theo thao tác này thay vì
nêu một cách đơn giản một sự vật, một đối tượng nào đó, người viết làm cho nó
trở nên nhìn thấy được bằng sự trình bày sinh động, linh hoạt các đặc tính và
những hoàn cảnh thú vị đáng chú ý nhất của sự vật đó”
Nhà văn Phạm Hổ trong cuốn “Viết văn miêu tả và văn kể chuyện”
cho rằng:
“Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết, người đọc như thấy cái đó
hiện ra trước mắt mình: một con người, một con vật, một dòng sông, người đọc
còn có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí còn
ngửi thấy mùi hôi, mùi sữa, mùi hương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc… nhưng
đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài. Còn sự miêu ta bên trong nữa nghĩa là miêu tả

- Phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kỹ năng sản sinh
văn bản (nói và viết) nhờ vây mà tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc
được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ
sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập.
- Bồi dưỡng vun đắp tình yêu tiếng Việt, biết giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt
Nam.
2. Nhiệm vụ:
- Sản phẩm của phân môn tập làm văn là các bài văn nói hoặc viết
theo các kiểu bài do chương trình qui định. Để sản sinh các bài văn này, học
sinh pải có thêm nhiều kỹ năng khác ngoài các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, kỹ
năng dùng từ đặt câu.
- Đó là các kỹ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, kỹ năng lập
dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn.
- Ở tiểu học phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình
tượng, từ óc quan sát tới trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã
quan sát được tới khả năng nhào nặn các vật liệu có thực trong đời sống để xây
dựng nên nhân vật, … tư duy lôgic của học sinh cũng được phát triển.
- Thông qua việc dạy tập làm văn các em thấy được vẻ đẹp của buổi
bình minh, một cây phượng ra hoa, một con mèo mướp, thấy dáng vẻ đáng yêu
của một em bé tập đi, của một cụ già thương con quý cháu… Từ đây tâm hồn và
nhân cách của các em hình thành và phát triển.
Như vậy dạy Tập làm văn có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các
nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
Để đạt được mục đích đó, đề tài đặt ra cho mình giải quyết các
nhiệm vụ.
+ Cơ sở lý luận và thực tiển của việc dạy Tập làm văn ở tiểu học
(chương trình mới).
+ Điều chỉnh nội dung và phưong pháp dạy học.
+ Thực nghiệm dạy học tìm hiểu phân môn dạy Tập làm văn lớp

Ở lớp 4, 5, Tập làm văn cũng được học 35 tuần, mỗi tuần 2 tiết.
+ Tập làm văn ở lớp 5 thường gắn với các chủ điểm của môn tập đọc.
Tập một gồm 5 chủ điểm học trong 18 tuần, tập hai gồm 5 chủ điểm, học trong
17 tuần.
+ Dạy bài mới và ôn tập:
* 31 tuần học bài mới.
* 4 tuần ôn tập và kiểm tra định kỳ (tuần 10, tuần 18, tuần 28,
tuần 35).
+ Cấu trúc chương trình Tập làm văn:
Loại văn miêu tả:
* Tả cảnh: 14 tiết. HKI-Cả năm 14 tiết.
* Tả người: 8 tiết. HKI-HKII 4 tiết.
* Các loại văn bản khác: 36 tiết.
+ Các kỹ năng làm văn:
Việc sản sinh ra một văn bản thường có 4 giai đoạn:
* Giai đoạn định hướng:
- Nhận diện đặc điểm loại văn bản.
- Phân tích đề bài, xác định yêu cầu.
* Giai đoạn lập chương trình:
- Xác định dàn ý bài văn đã cho.
- Quan sát đối tượng, tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong
bài văn miêu tả.
* Giai đoạn thực hiện hóa chương trình:
- Xây dựng đoạn văn (chọn từ, tạo câu, viết đoạn).
- Liên kết các đoạn thành bài văn.
* Giai đoạn kiểm tra văn bản mới hoàn thành.
+ Viết được đoạn văn, bài văn tả cảnh, tả người theo nội dung chương
trình quy định.
Chương hai:
Điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy

nó mang những nét tính cách của con người.
Như vậy ở đoạn văn thứ hai mới chính là đoạn văn miêu tả, đoạn
văn thứ nhất chỉ có tính khoa học, không có tính nghệ thuật.
- Bước hai: Tính sáng tạo.
Phillippe Hamon cho rằng: “Năng lực miêu ta là một năng lực
đặc biệt phản ánh niềm mê sáng tạo của người nghệ sĩ. Nó có những lối vẽ và
những quan niệm riêng. Bức vẽ đó phải tác động vào đọc giả”.
Cũng có khi cùng miêu tả về một sự vật hiện tượng, nhưng mỗi
nhà văn lại có những cách thức miêu tả khác nhau:
Cùng miêu tả về trăng, nhưng nhà thơ Êxênhin (Nhà thơ Nga thế
kỷ XX) lại có những gì rất thân thuộc, mộc mạc nhưng cũng hết sức thú vị:
“Mặt trăng đã ló qua mái rạ
Giống như con chó nhỏ yêu thương”
Với Hàn Mặc Tử, “trăng” lại gắn với hình ảnh mang tính nhục thể:
“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về lã lơi…”
Trong “Mảnh trăng cuối rừng”, Nguyễn Minh Châu miêu ta “trăng” với nét vẽ
tinh tế, trong sáng và hết sức lãng mạn: “Mảnh trăng khuyết đứng yên ở cuối
trời, sáng trong như một mảnh bạc…” .
- Bước ba: Tính chân thực
Miêu tả tất nhiên đòi hỏi phải có tính cụ thể, sinh động , tính sáng tạo,
nhưng cũng rất cần tính chân thực. Miêu tả dù có sáng tạo đến bao nhiêu đi
chăng nữa nhưng không được xa rồi bản chất của đối tượng miêu tả. Văn miêu
ta của Tô Hoài là một ví dụ tiêu biểu, bằng con mắt quan sát tỉ mỉ, khả năng bao
quát sự vật, hiện tượng, tác giả đã dựng nên một thế giới loài vật sống động và
hết sức chân thực:
“Chuồn Chuồn chúa lúc nào cũng dữ dội, hùng hổ nhưng kỳ thực trông
kĩ đôi mắt lại rất hiền. Chuồn Chuồn Ngô nhanh thoăn thoắt, Chuồn Chuồn ớt
rực rỡ trong trong bộ quần áo đỏ chót giữa ngày hè chói lọi… Chuồn Chuồn Tư
có đôi cánh kép vàng điểm đen…(Dế Mèn phiêu lưu kí).

sáng tạo.
Chương III:
Kết quả giảng dạy.
Qua một quá trình lao động, tìm tòi sáng tạo để thực hiện từng giờ môn tập làm
văn một cách bài bản, có kế hoạch. Tôi nhận được một số kết quả như sau:
1/ Mặt mạnh:
Tôi nhận thấy ngoài nhiệm vụ chính là biết làm một bài văn, học
sinh được chủ động, tự do thể hiện cái “tôi” của mình một cách rõ ràng, bộc
bạch cái riêng của mình một cách trọn vẹn. Dạy Tập làm văn là dạy các em tập
suy nghĩ riêng, tập sáng tạo, tập thể hiện trung thực con người mình qua từng bài
học cụ thể.
Qua quá trình giảng dạy theo quy trình mới này, tôi nhận được một số
kết quả:
+ Đạt Tốt (làm bài đủ 3 phần, hay, có tính sáng tạo) - Điểm 9: 5 em
+ Đạt Khá (7-8 điểm): 8 em .
+ Đạt Trung bình (5-6 điểm): 8 em
+ Yếu (< 5 điểm) 5 em:
Đây là kết qua rất khả quan qua đánh giá tôi thấy em nào cũng làm bài
đạt yêu cầu, chỉ có 5 em làm bài chưa đạt do sai vài lỗi chính tả và trình bày
chưa đúng yêu cầu.
2. Mặt Hạn chế.
Giờ học quy định ít (35 phút) . vì thế ở phần luyện tập thực hành và
sửa sai còn hạn chế.
Một số em còn rụt rè, góp phần xây dựng bài chưa tích cực lắm.
PHẦN III
Phần kết luận.
1/ Kết luận chung:
Do kết hợp nhiều hình thức dạy học trong một giờ Tập làm văn, học sinh
phát huy được tính tích cực của mình, chủ động trong các hoạt động học tập, các
em đều tham gia vào giờ luyện tập, chú ý lắng nghe bạn đọc bài, để sửa bài.

PHẦN I:
PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài:
Nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5 ở Tiểu học là mở
rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ, hình
thành nhân cách cho học sinh Tiểu học.
II/ mục đích – Nhiệm vụ đề tài:
1.Mục đích:
- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng nói và viết văn bản.
- Vun đắp tình yêu Tiếng việt, biết giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của
Tiếng việt, góp phần hình thành nhân cách của con ngườ Việt Nam.
2.Nhiệm vụ:
Phân môn Tập làm văn là các bài văn nói hoặc viết theo các kiểu bài do
chương quy định. Vì thế học sinh phải có thêm nhiều kĩ năng khác ngoài các
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, dùng từ đặt câu. Tập làm văn có một ý nghĩa to
lớn vì nó có cả các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
III/ Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu là những tài liệu:
* Phương pháp dạy học tiếng Việt của PGS-TS Lê Phương Nga,
Nguyễn Trí.
* Tài liệu bồi dưỡng chương trình và sách giáo khoa lớp 5 (mới)
* Chuyên đề bồi dưỡng Văn-Tiếng Việt lớp 5 của Nguyễn Thị
Kim Dung-TP. HCM.
* Thơ với lời Bình dành cho học sinh tiểu học của NXB GD.
* Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả của Nguyễn
Trí.
* Những bài văn chọn lọc lớp 5 của NXB GD.
* Dự giờ rút kinh nghiệm
PHẦN II:
PHẦN NỘI DUNG

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status