- 1 -
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN CẨM MỸ
===== *** =====
CHUYÊN ĐỀ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
PHÂN MÔN CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5
Người viết : ĐINH QUỐC NGUYỄN
Đơn vị : Trường Tiểu học Sông Nhạn
NĂM HỌC: 2009-2010
= =====&=====
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đều biết:"Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành
thông qua hoạt động và giao tiếp". Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp
được thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có ngôn ngữ riêng. Tiếng Việt là
ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng
ngày, để giao tiếp ngoài ngôn ngữ riêng. Tiếng việt là ngôn ngữ thống nhất trên
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng ngày, để giao tiếp ngoài ngôn
ngữ nói còn có ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ biết đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong giao tiếp của các quốc gia nói chung cũng như Việt Nam nói riêng. Yêu
cầu đầu tiên, đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả.
Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị cản
trở giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước và
đời sau.
Vì vậy, việc dạy đúng chính tả phải được coi trọng ngay từ buổi đầu đối với
học sinh tiểu học. Phân môn chính tả ở tiểu học có nhiệm vụ chủ yếu rèn luyện
cho học sinh nắm các quy tắc và thói quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng
Việt. Cùng với các phân môn khác, chính tả giúp cho học sinh chiếm lĩnh Việt
văn hoá - Công cụ để giao tiếp, tư duy. Ngay từ bậc tiểu học, trẻ cần phải được
môn học chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có sử dụng công cụ này suốt
những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như suốt cuộc đời.
nhất định.
Ví dụ: Âm vị /t/ được biểu thị bằng chữ cái "t"
Âm vị /b/ được biểu thị bằng chữ cái"b"
Ngữ âm học thực hành chủ yếu tập trung vào rèn luyện phát âm đúng. Phát
âm đúng gắn liền với viết đúng (chính âm gắn liền với chính tả). Do đó cơ chế
của việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng. Để phát
huy một cách có ý thức, đặc biệt là vùng phương ngữ việc dạy chính tả cần phải
======&=====
- 3 -
= ===== & = ====
theo sát nguyên tắc này. Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để
điều chỉnh chữ viết.
2.2 Những bất hợp lý của chữ quốc ngữ
Ở tiếng Việt nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc ngữ âm học. Ngoài ra chính
tả tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc nữa như nguyên tắc
truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt Những nguyên tắc này không đồng
nhất với nguyên tắc ngữ âm học, do vậy chính tả tiếng Việt còn có những hợp
lý. Cụ thể trong tiếng Việt có hiện tượng. Cách phát âm ở những vùng miền
khác nhau (phương ngữ). Bên cạnh đó lại có trường hợp từ mang hai biến thể
phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn.
Ví dụ: Chòng chành - tròng trành
Nhún nhảy - Dún dẩy
Hoặc có khi có một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết
Ví dụ:
i: trong lý luận
/i/ y: trong Lý Thường Kiệt
Bản thân hệ thống âm vị tiếng Việt còn có một số âm vị không ghi thống
nhất một âm có thể ghi bằng nhiều con chữ.
Ví dụ:
c( con cuốc)
sinh phát âm sai - thường các em còn phát âm lẫn lộn giữa âm "l - n" nên không
phân biệt được khi viết. Để sửa loại lỗi này giáo viên đã cố gắng dạy cho học
sinh nắm vững chính âm trong tiếng việt. Muốn viết đúng chính tả thì phải phát
âm đúng. Do vậy chúng ta cần phải chú trọng đến việc phát âm chuẩn cho học
sinh trong giờ Tập đọc.Mặt khác mỗi giáo viên phải là một chuẩn mực sống
động để học sinh bắt chước và noi theo. Ngoài ra việc đổi mới các phương pháp
dạy học và giúp học sinh nắm bắt các mẹo luật chính tả cũng hết sức cần thiết để
học sinh viết đúng.
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề, tôi xin được thông kê số liệu học
sinh mắc lỗi chính tả của khối 5 đầu năm học như sau:
STT Lớp
Tổng
số
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n d/gi/r/ch;tr/s/x Cấu trúc âm tiết
======&=====
- 5 -
= ===== & = ====
1 5A 29 14 em 4 em 1 em
2 5B 29 12 em 5 em 3 em
3 5C 29 6 em 4 em 0 em
4 5D 28 15 em 4 em 2 em
2. Thực tế về giảng dạy chính tả của giáo viên tiểu học.
Trước hết phải nói đến trình độ đào tạo của giáo viên không đồng đều và
việc tổ chức dạy - học môn Chính tả chưa được khoa học. Những tồn tại trên
dẫn đến chất lượng học chính tả của học sinh còn nhiều hạn chế. Để khắc phục
tình trnạg này, việc đối mới phương pháp dạy học phân môn Chính tả là hết sức
cần thiết, phải giúp học sinh nắm được các quy tắc chính tả,. các mẹo luật chính
tả phù hợp với trình độ tiếp thu của các em, hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả,
bỏ thói quen phát âm sai dẫn đến viết sai.
- Các từ có vần khó xuất hiện trong các bài chính tả.
- Các từ mà phát âm của tiếng địa phương lệch so với chuẩn.
+ Các tên người, tên địa lý Việt Nam và nước ngoài
Trong những nội dung trên có phần nội dung bắt buộc dạy cho tất cả học
sinh ở các vùng miền, trong cả nước, có những nội dung cho phép các trường,
lớp ở từng địa phương được lựa chọn để dạy cho phù hợp với đặc điểm của học
sinh địa phương.
======&=====
- 7 -
= ===== & = ====
Phần nội dung tự chọn là phần viết đúng các từ mà phát âm của tiếng địa
phương lệch so với chuẩn trong mỗi bài học. Trong trường hợp các bài tập tự
chọn trong sách giáo khoa không phù hợp với đặc điểm phát âm của tiếng địa
phương nơi có trường lớp mình dạy, giáo viên có thể soạn bài tập thay thế cho
bài tập ở sách giáo khoa sao cho nội dung bài thay thế phù hợp với đặc điểm
phát âm của tiếng địa phương dẫn đến lỗi chính tả học sinh lớp mình, trường
mình thường mắc.
3. PHƯƠNG PHÁP VÀ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ DẠY HỌC
CHÍNH TẢ LỚP 5.
- Phương pháp rèn luyện theo mẫu: Thực hiện phương pháp này, giáo viên
cần đọc mẫu các từ mà học sinh dễ mắc lỗi, học sinh nghe và phát âm lại cho
đúng các từ đó. Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh phân tích tiếng mắc lối
thành các phần âm đầu, vần và thanh điệu, từ đó học sinh nhớ cách ghi các bộ
phận của tiếng để viết đúng. trước khi viết bài chính tả, học sinh viết từ này ra
bảng con. Một biện pháp cần thực hiện để dạy học chính tả theo mẫu là tổ chức
cho các nhóm học sinh lập sổ tay chính tả của nhóm. Giáo viên hướng dẫn học
sinh ghi các lỗi chính tả mà học sinh trong nhóm mắc trong các bài viết và cách
viết đúng các từ đó. Sau khi ghi các từ mắc lỗi và cách sửa, học sinh cần ghi
thêm các từ em biết có các âm đầu, vần, thanh, các từ là tên riêng tương tự như
các từ mà em đã mắc lỗi để giúp các em biết cách viết đúng nhiều từ.
1. Giới thiệu bài (1')
2. Hướng dẫn chính tả (8 - 10')
- Giáo viên đọc mẫu
- Tập viết chữ ghi khó hoặc dễ lẫn
(Đây là bước rất quan trọng giúp học sinh không mắc lỗi chính tả, giáo viên
cần lưu ý).
3. Học sinh viết bài (13 - 15')
4. Hướng dẫn chấm, chữa (4 - 5')
(Đây cũng là bước quan trọng giúp học sinh tìm ra lỗi sai của mình để học
sinh không mắc vào lỗi sai đó nữa0.
5. Hướng dẫn bài tập chính tả (6 - 8')
======&=====
- 9 -
= ===== & = ====
Đây là bước giáo viên cần lưu ý giúp học sinh rèn luyện kỹ năng chính tả.
C. Củng cố - Dặn dò (1 - 2')
5. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho
học sinh lớp 5.
5.1 Thực hiện soạn bài kế hoạch bài học dạy chính tả một cách nghiêm túc,
chu đáo.
Soạn bài dạy chính tả là công việc của từng giáo viên. Bản chất của hoạt
động soạn bài tập là một kế hoạch thực hiện bài học đảm bảo tính khả thi với
từng lớp học do từng giáo viên phụ trách. Giáo viên xác định mục tiêu của bài
về các phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ. Giáo viên xác định rõ mục tiêu
của bài về các phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ. Giáo viên cần chỉ ra các
đồ dùng dạy học mình tự chuẩn bị hoặc học sinh chuẩn bị ngoài những đồ dùng
do sách giáo viên gợi ý (đồ dùng dạy học bao gồm cả những phiếu học tập, các
đồ dùng để tổ chức trò chơi, tổ chức các cuộc thi cho học sinh). Giáo viên cần
chỉ rõ các hoạt động dạy học cụ thể sẽ thực hiện trong giờ học, cụ thể là từng
hoạt động học sinh làm gì, kết quả cần đạt ra sao, cần củng cố cho học sinh
bằng oa, uê, uy. Trái lại"l'lại đứng trước các vần đó, ví dụ: loan, luân, luyện
* Mẹo 3: Mẹo luật láy âm, điệp âm : "l" láy âm rất rộng rãi, trái lại "n"
không láy âm với một âm nào khác mà chỉ điệp âm âu và cả hai chữ phải cùng
có âm đầu là "l" hoặc "n". Vì vậy ta chri cần biết âm đầu của một chữ là đủ.
Ví dụ: lấp loáng, long lanh, lanh lảnh
no nê, ninh ních, nuồn nuột,
* Mẹo 4: Đối với trường hợp "l" và "n" đứng ở vị trí thứ 2 trong một từ
láy thì:
"n" khi láy âm chỉ láy với "gi" và không láy với âm nào khác. Trái lại"l"
không láy với "gi" mà láy với các âm khác (ngoại lệ có khúm núm, khệ nệ).
* Mẹo 5: Những chữ không phân biệt được là "l" hay "n" nhưng đồng
nghĩa với một số từ khác với "nh" thì chữ ấy phải là "l".
Ví dụ: lăm le (nhăm nhe)
lỡ làng (nhỡ nhàng"
======&=====
- 11 -
= ===== & = ====
Tuy nhiên, tất cả các mẹo luật trên chỉ ở mức độ tương đối, người giáo viên
phải biết vận dụng linh hoạt để giảng dạy cho học sinh.
Qua việc tìm hiểu nguyên nhân và xác định được những trọng điểm chính
tả cho học sinh ở trường Tiểu học Đằng Hải, tôi đã đưa ra một số biện pháp
cùng với ban giám hiệu và tập thể giáo viên nhà trường áp dụng và thực nghiệm
giảng dạy trên khối lớp 2 của trường. Qua một học kỳ, được sự chỉ đạo sát sao
của ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn, cùng với sự nỗ lực của tập thể
giáo viên khối 5 chúng tôi đã thu được một kết quả cụ thể như sau:
STT Lớp
Tổng
số
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n d/gi/r/ch;tr/s/x Cấu trúc âm tiết
nhiều hạn chế, rất mong sự đóng góp ý kiến của lãnh đạo chuyên môn các cấp.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Tiểu học Sông Nhạn và các
đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành chuyên đề này!
Sông Nhạn ngày 20- 5- 2010
Người viết
Đinh Quốc Nguyễn
======&=====
- 13 -